Đêm Giông Bên Tân Hiệp - Chương 15: Sáng mười tám tháng mười, Hậu tới nhà Thầy Năm Thìn.

Đêm qua, sau khi được thầy cứu về, Hậu sốt cao, mê man. Mẹ anh thức trắng đêm chườm khăn, nấu cháo. Sáng nay, anh đã đỡ, nhưng người vẫn còn yếu, đầu óc…

Nội dung chương

Đêm qua, sau khi được thầy cứu về, Hậu sốt cao, mê man. Mẹ anh thức trắng đêm chườm khăn, nấu cháo. Sáng nay, anh đã đỡ, nhưng người vẫn còn yếu, đầu óc quay cuồng. Nhưng anh không thể nằm yên. Lời thầy dặn "mai tới nhà tao" cứ vang vọng trong đầu anh. Anh phải đi, phải nghe thầy kể về cái hũ dưới ruộng nhà mình.

Hậu nói dối mẹ là ra quán nước, rồi lén tới nhà Thầy Năm ở cuối ấp. Căn nhà lá lụp xụp, trước sân có mấy chậu cây cảnh cằn cỗi. Thầy Năm đang ngồi uống trà ở hiên, thấy Hậu tới thì gật đầu, chỉ chiếc ghế đối diện:

- Ngồi đi. Uống trà.

Hậu ngồi xuống, hai tay bưng ly trà nóng, hơi run. Thầy Năm nhìn anh một lúc, rồi nói:

- Đêm qua, mày suýt chết. Mày biết không?

Hậu gật đầu, giọng khàn:

- Con biết. Con cảm ơn thầy đã cứu con.

Thầy Năm thở dài, rót thêm trà:

- Tao không cứu mày thì ai cứu. Nhưng mày nghe tao nói, lần sau tao không chắc cứu kịp đâu. Hai vong đó, chúng nó không còn nhận ra mày nữa. Trong mắt chúng nó, mày chỉ là một người sống, một con mồi.

Hậu rùng mình, nhớ lại nụ cười lạnh lẽo của hai bóng người trên mặt nước. Anh hỏi:

- Thầy ơi, tại sao cha với anh con lại thành ra như vậy? Họ hiền lành cả đời, sao chết rồi lại đi hại người?

Thầy Năm im lặng một lúc lâu, rồi bắt đầu kể, giọng trầm trầm:

- Mày đã thấy cái hũ dưới ruộng nhà mày rồi phải không? Đừng chối, tao biết mày đã bẩy phiến đá lên xem.

Hậu sững sờ, rồi gật đầu thú nhận. Thầy Năm tiếp:

- Cái hũ đó, chôn từ năm 1943, hồi tao còn là thằng nhóc. Cha tao là tá điền của nhà bá hộ Đặng Bá Tòng, đã chứng kiến toàn bộ vụ chôn sống thằng bé Tý. Trước khi chết, cha tao kể lại cho tao nghe, dặn tao phải giữ kín, không được nói ra.

- Vậy là bà Tám nói thật. Bé Tý bị chôn sống để trấn long mạch.

Thầy Năm gật đầu, mắt nhìn xa xăm:

- Đúng. Ông thầy phong thủy người Tàu nói, dưới đất nhà mày có long mạch quý. Muốn giữ mạch, phải chôn người sống làm thần giữ mạch. Bá hộ Tòng bắt thằng Tý, đứa ở đợ mồ côi, bỏ vào hũ sành, chôn sống. Rồi đậy phiến đá khắc "Trấn Mạch Thạch" lên trên, dán bùa "Trấn Long Mạch" của thầy Tàu. Từ đó, oan hồn thằng bé bị giam trong hũ, không siêu thoát được.

Hậu nắm chặt tay, giọng run:

- Rồi sao cha con lại...?

- Sáng mười hai tháng mười, cha mày bẩy phiến đá lên xem. Trong lúc bẩy, phiến đá cạ vào miệng hũ, làm rách một góc lá bùa. Bùa rách, phong ấn nứt, tà khí rò ra. Oan hồn thằng Tý bị giam hơn tám mươi năm, vừa thấy khe hở là vùng vẫy. Trời thấy tà khí, giáng sét xuống trừ. Nhưng sét trời không phân biệt được ai là tà, ai là người. Cha với anh mày đứng gần đó, bị sét đánh trúng, chết oan.

Hậu nghe mà nước mắt trào ra. Vậy là rõ. Cha anh, bằng một nhát bẩy vô tình, đã khởi đầu cho mọi bi kịch. Anh hỏi tiếp:

- Nhưng tại sao cha với anh con lại thành song hồn? Sao họ không siêu thoát?

Thầy Năm giải thích:

- Sét đánh cùng lúc hai người cùng huyết thống, sinh khí bị lửa trời thiêu rụi trong một sát na, hai vong dính lại thành một luồng âm điện cực mạnh, trói chung với nhau dưới lòng đất ruộng. Người ta gọi là "song hồn câu mệnh". Hai vong này không siêu thoát riêng được, phải giải cùng lúc. Mà càng hiện hình, chúng nó càng quên người thân, càng hung dữ.

Hậu nhớ lại lời đứa bé trong mơ: "đừng tin những bóng người gặt lúa, họ quên hết rồi". Đúng như thầy nói. Anh hỏi:

- Vậy phải làm sao để giải thoát cho họ, thầy?

Thầy Năm đứng dậy, vào nhà lấy ra một tờ giấy cũ, đã ngả màu vàng úa. Ông trải ra bàn. Trên giấy là một bài văn tế viết bằng chữ Hán, nhưng chỉ có nửa trên, nửa dưới bị cháy xém, mất hết chữ.

- Đây là nửa bài văn tế "tạ mạch an thổ" mà cha tao để lại. Bài văn tế này dùng để cúng giải oan cho người bị chôn làm vật trấn, đồng thời hàn lại phong ấn. Nhưng nửa sau đã bị cháy mất từ hồi nào, tao không biết. Không có đủ bài văn tế, không làm lễ được.

Hậu nhìn nửa bài văn tế, lòng chùng xuống. Rồi anh hỏi:

- Thầy, lá bùa trên miệng hũ, mình dán lại được không? Hàn lại chỗ rách?

Thầy Năm lắc đầu, mặt nghiêm nghị:

- Bùa của thầy Tàu, tao không giải nổi, cũng không dán lại được. Bùa đó yểm bằng máu và chú ngữ riêng của ổng. Người thường động vào, nhẹ thì ốm đau, nặng thì mất mạng. Muốn hàn phong ấn, phải có người nối cày của dòng họ đang giữ đất, tức là mày, tự tay viết lại lá bùa mới bằng máu của chính mình, rồi đọc trọn bài văn tế.

Hậu sững sờ:

- Con? Con phải viết bùa bằng máu của con?

- Đúng. Vì mày là người nối cày, là chủ đất hiện tại, là người gánh nghiệp của dòng họ. Không ai thay mày được, không thuê, không nhờ được. Đó là luật. Bùa cũ đã rách, chỉ có máu của người nối cày mới hàn được.

Hậu ngồi chết lặng. Trách nhiệm nặng nề đè lên vai anh. Anh chỉ là một công nhân bình thường, anh biết gì về bùa chú, về lễ cúng? Anh hỏi, giọng run:

- Nhưng con không biết viết bùa, không biết đọc văn tế. Bài văn tế còn thiếu một nửa. Con làm sao được?

Thầy Năm nhìn anh, ánh mắt vừa thương cảm vừa nghiêm khắc:

- Tao sẽ dạy mày. Nhưng mày phải hiểu, con đường này nguy hiểm lắm. Mày đã thấy rồi đó, song hồn không nhận ra mày, chúng nó sẽ giết mày không thương tiếc. Mà không chỉ song hồn, còn nhà họ Đặng nữa. Chúng nó đang rình rập, muốn phi tang cái hũ để xóa chứng cứ tội ác của tổ tiên. Mày dấn thân vào, là đối đầu với cả ma lẫn người.

Hậu im lặng một lúc lâu. Anh nghĩ tới cha, tới anh Hai, tới bé Tý bị chôn sống, tới mẹ, tới chị dâu, tới bé Na. Anh nghĩ tới lời cha dặn hồi nhỏ: "Đất của mình, ai cũng không được cướp." Anh ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt Thầy Năm, giọng kiên quyết:

- Con không sợ. Cha với anh con chết oan, bé Tý bị giam hơn tám mươi năm, con phải giải thoát cho họ. Thầy dạy con đi, con học.

Thầy Năm nhìn Hậu một lúc lâu, rồi gật đầu, mắt hơi ướt:

- Được. Tao sẽ dạy mày. Nhưng trước hết, mày phải hứa với tao ba điều. Một, từ giờ tới lúc làm lễ, tuyệt đối không được bén mảng tới bãi đất cháy từ mười tám giờ tới sáu giờ sáng. Hai, không được tự ý động vào phiến đá hay cái hũ nữa. Ba, chuyện ni chỉ hai thầy trò mình biết, không được nói với ai, kể cả mẹ mày.

Hậu gật đầu hứa. Thầy Năm đứng dậy, đi ra sân, nhìn về phía cánh đồng, lẩm bẩm nửa bài văn tế còn lại, giọng buồn rười rượi. Hậu nghe không rõ, chỉ loáng thoáng mấy chữ về "oan hồn", "siêu thoát", "trả nợ". Anh hỏi:

- Thầy đọc gì vậy?

Thầy Năm quay lại, mặt đầy ưu tư:

- Nửa bài văn tế còn lại, tao không có. Nhưng tao nghe cha tao nói, nửa sau nằm trong miệng một người đàn bà họ Trần. Người đó... có lẽ là mẹ mày, hoặc bà nội mày hồi còn sống. Mày về hỏi mẹ mày đi, nhưng khéo léo, đừng làm bà sợ.

Hậu sững sờ. Nửa bài văn tế nằm trong miệng một người đàn bà họ Trần? Mẹ anh? Anh phải hỏi mẹ, nhưng hỏi thế nào? Mẹ anh có biết mình đang giữ một nửa bài văn tế quan trọng không? Hay bà cũng chỉ vô tình thuộc lòng mà không biết ý nghĩa?

Trên đường về, Hậu đi ngang qua ruộng nhà mình. Anh dừng lại, nhìn về phía góc ruộng có phiến đá. Dưới ánh nắng trưa, phiến đá nằm im lìm, không có gì bất thường. Nhưng anh biết, dưới đó là một cái hũ sành, trong hũ là oan hồn một đứa bé bị chôn sống hơn tám mươi năm, và lá bùa trên miệng hũ đã rách một góc, đang rò rỉ tà khí từng ngày.

Anh cũng biết, từ giờ trở đi, anh không còn là Trần Văn Hậu, công nhân Bình Dương, nữa. Anh là người nối cày, người gánh nghiệp của dòng họ Trần. Anh phải học văn tế, phải viết bùa bằng máu mình, phải đối mặt với song hồn cha anh, và phải ngăn chặn nhà họ Đặng. Con đường phía trước đầy rẫy nguy hiểm, nhưng anh không còn đường lui.

Về tới nhà, Hậu thấy mẹ đang ngồi ở hiên, mắt nhìn xa xăm. Anh ngồi xuống cạnh mẹ, nắm tay bà, và bắt đầu nghĩ cách hỏi về nửa bài văn tế. Nhưng anh chưa kịp mở lời, mẹ đã nói trước, giọng run run:

- Hậu, đêm qua mẹ mơ thấy cha con. Ông đứng ngoài đồng, nhìn mẹ, rồi nói: "Bà dặn thằng Hậu, đừng để nó đi vào vết xe đổ của tui. Nó là người nối cày, nó phải gánh."

Hậu sững sờ nhìn mẹ. Cha báo mộng cho mẹ, cũng nói anh là người nối cày, phải gánh. Trùng hợp với lời Thầy Năm. Anh hỏi, giọng run:

- Cha còn nói gì nữa không mẹ?

Bà Sen lắc đầu, nước mắt lăn dài:

- Chỉ vậy thôi. Rồi ông tan biến. Hậu ơi, mẹ sợ quá. Cái nhà ni, rốt cuộc là bị cái gì vậy con?

Hậu ôm lấy mẹ, không biết trả lời sao. Anh không thể kể cho mẹ nghe toàn bộ sự thật, vì sợ bà không chịu nổi. Nhưng anh biết, anh phải nhanh chóng tìm ra nửa bài văn tế, phải học cách hàn phong ấn, trước khi quá muộn. Vì ngoài kia, những đám mây đen lại đang kéo về, và anh có linh cảm, cơn giông thứ hai không còn xa nữa.

Chương khác

Xem thêm