Đêm Giông Bên Tân Hiệp - Chương 2: Trần Văn Hậu đang tăng ca ở xưởng gỗ Bình Dương thì điện thoại trong túi quần rung lên.
Tiếng máy cưa ầm ầm, tiếng búa đóng chan chát, mùi mùn cưa nồng nặc. Hậu đang phụ khiêng một tấm ván lớn, mồ hôi nhễ nhại. Anh ra hiệu cho bạn làm cùng…
Nội dung chương
Tiếng máy cưa ầm ầm, tiếng búa đóng chan chát, mùi mùn cưa nồng nặc. Hậu đang phụ khiêng một tấm ván lớn, mồ hôi nhễ nhại. Anh ra hiệu cho bạn làm cùng nghỉ tay một lát, móc điện thoại ra. Màn hình hiện tên "Mẹ". Đã gần mười giờ đêm. Hậu cau mày. Mẹ anh ít khi gọi giờ này. Có chuyện gì gấp lắm bà mới gọi khuya vậy.
Anh bước ra khỏi tiếng ồn, ra góc sân xưởng, nơi có ánh đèn vàng vọt hắt xuống từ mái tôn. Bắt máy.
- A lô, mẹ hả? Có chuyện gì mà gọi khuya vậy mẹ?
Đầu dây bên kia im lặng. Một sự im lặng dài đến đáng sợ, chỉ nghe tiếng nấc nghẹn cố kìm. Rồi giọng mẹ anh vang lên, khàn đặc, đứt quãng:
- Hậu... Hậu ơi... cha với anh Hai con... chết hết rồi.
Hậu đứng sững như bị điện giật. Tiếng máy cưa phía sau như xa dần, xa dần, rồi tắt ngấm trong đầu anh.
- Mẹ nói gì? Mẹ nói lại coi. Con nghe không rõ.
- Sét đánh. Chiều ni, trên đồng. Hai cha con nó đi vớt vó, bị sét đánh trúng. Đi hết rồi, Hậu ơi. Đi hết rồi...
Chiếc điện thoại tuột khỏi tay Hậu, rơi xuống nền xi măng kêu "cạch" một tiếng khô khốc. Anh cúi xuống nhặt lên, tay run bần bật đến mức suýt đánh rơi lần nữa. Anh áp máy vào tai, giọng lạc đi:
- Mẹ... mẹ đừng giỡn với con... Chuyện ni giỡn không được đâu mẹ...
- Mẹ giỡn chi chuyện tày trời ni. Con về liền đi, Hậu. Về lo đám cho cha với anh. Nhà neo người, mẹ với chị dâu con xoay không xuể.
Hậu không nhớ mình đã cúp máy lúc nào. Anh cũng không nhớ mình đã nói gì với quản đốc, chỉ nhớ ông ta nhìn anh ái ngại, vỗ vai anh, nói gì đó về nghỉ phép. Anh chạy về phòng trọ như người mộng du. Căn phòng trọ mười mét vuông ở khu công nhân, đồ đạc sơ sài: chiếc giường sắt, cái quạt cũ, mấy bộ quần áo treo trên dây. Anh nhét vội vài bộ quần áo vào cái ba lô sờn vai, nhét thêm ít tiền dành dụm, rồi lao ra bến xe.
Tám năm. Tám năm anh bỏ quê lên Bình Dương làm công nhân, chưa một lần về thăm nhà. Lần về đầu tiên sau tám năm, lại là về chịu tang cha và anh ruột của mình.
Xe khách chạy xuyên đêm trên quốc lộ. Hậu ngồi ghế cuối, đầu tựa vào cửa kính rung bần bật theo từng ổ gà. Ngoài kia, màn đêm đặc quánh, đèn đường thưa thớt, thỉnh thoảng lướt qua những cánh đồng tối om. Anh nhắm mắt lại, mà hình ảnh cha và anh Hai cứ hiện lên rõ mồn một, như mới hôm qua.
Cha anh, Trần Văn Đức, người đàn ông cả đời gắn chặt với ruộng đồng. Da ông đen sạm vì nắng, tay chai sần vì cuốc cày, lưng hơi còng vì gánh nặng. Ông ít nói, nhưng mỗi lời nói ra đều chắc như đinh đóng cột. Hồi Hậu còn nhỏ, có lần anh bị bạn trong xóm đánh, khóc chạy về mách cha. Ông không đánh lại đứa kia, chỉ xoa đầu anh, nói: "Con trai, người ta đánh mình, mình tránh. Nhưng đất của mình, ai cũng không được cướp." Rồi ông dắt anh ra đồng, chỉ ba công ruộng xanh mướt: "Mai mốt cha già, ruộng ni là của anh em bay. Giữ cho kỹ."
Anh Hai, Trần Văn Tiền, hơn anh năm tuổi, hiền lành như cục đất. Hồi nhỏ, anh Hai cõng Hậu đi khắp đồng, dạy Hậu bơi ở con rạch sau nhà, dạy Hậu đặt lờ, cất vó. Có miếng ngon nào, anh Hai cũng nhường em. Năm Hậu hai mươi mốt tuổi, nhất quyết bỏ quê lên Bình Dương, cha không cản, chỉ nói một câu: "Đi thì đi, nhớ đường về." Anh Hai tiễn Hậu ra bến xe, dúi vào tay em năm trăm ngàn đồng nhàu nát, nói: "Lên trển ráng làm, đừng lo nhà. Có anh với cha lo."
Tám năm qua, Hậu gửi tiền về đều đặn mỗi tháng. Nhưng anh chưa một lần về thăm. Tết nào mẹ cũng gọi, giọng tha thiết: "Về đi con, cha nhớ con lắm. Anh Hai cũng nhắc con hoài." Anh cứ hẹn: "Để con ráng thêm năm ni, kiếm đủ tiền rồi về." Rồi năm này qua năm khác, tiền thì chưa bao giờ là đủ, còn anh thì cứ mãi ở lại xứ người.
Giờ cha và anh Hai đi rồi, anh mới về. Về để làm gì? Để nhìn mặt họ lần cuối qua tấm kính quan tài? Để lạy họ ba lạy tạ tội bất hiếu?
Hậu cắn môi đến bật máu mà không hay. Xe chạy qua một cánh đồng rộng, phía xa có tia chớp lóe lên ở chân trời. Mỗi lần chớp lóe, tim Hậu lại thắt lại như bị ai bóp. Sét. Chính sét đã cướp đi cha và anh của anh. Hai người đàn ông hiền lành nhất mà anh từng biết.
Anh nhớ lại lần cuối cùng gọi điện về nhà, cách đây ba tháng. Cha anh bắt máy, giọng ông vẫn khỏe, vẫn ấm: "Hậu hả? Khỏe không con? Công việc sao rồi? Ăn uống đầy đủ không?" Anh trả lời qua loa, rồi vội cúp máy vì bạn rủ đi nhậu. Giờ nghĩ lại, anh muốn tự vả vào mặt mình. Sao lúc đó anh không nói chuyện với cha lâu hơn một chút? Sao anh không hỏi cha có khỏe không, ruộng lúa năm nay thế nào?
Xe dừng nghỉ ở một trạm dừng chân lúc nửa đêm. Hậu xuống xe, mua một ly cà phê đen đá, ngồi thẫn thờ nhìn dòng xe qua lại. Một người đàn ông trung niên ngồi bàn bên, thấy Hậu mặt mày thất thần, bèn hỏi:
- Chú em có chuyện buồn hả?
Hậu gật đầu, giọng khàn:
- Cha với anh trai em mất. Em về chịu tang.
Người đàn ông thở dài, chia buồn vài câu rồi im lặng. Hậu uống cạn ly cà phê đắng ngắt, lên xe đi tiếp. Anh không ngủ được. Cứ nhắm mắt là thấy cha và anh. Anh thấy cha đang cày ruộng, thấy anh Hai đang cười hiền, thấy hai người vẫy tay gọi anh về.
Ngồi trên xe, Hậu vô thức xòe bàn tay phải ra nhìn. Trên lòng bàn tay, một vết sẹo dài chạy chéo từ ngón cái xuống cổ tay, trắng bệch theo năm tháng. Vết sẹo này, anh mang từ hồi mười hai tuổi. Hôm đó, anh theo cha ra đồng, nghịch ngợm sờ vào lưỡi cày còn dính bùn, bị cứa một đường sâu hoắm, máu chảy đầm đìa. Cha anh hốt hoảng cõng anh chạy về, vừa chạy vừa mắng: "Cày cuốc là chuyện của người lớn, con nít đừng có sờ vào!" Nhưng tối đó, ông lại nấu cháo đút cho anh ăn, dặn: "Tay ni mai mốt là tay cầm cày, phải giữ cho kỹ."
Tay cầm cày. Cha đã từng mong anh nối nghiệp. Nhưng anh đã bỏ đi. Giờ vết sẹo vẫn còn đó, mà người dặn dò thì đã nằm trong quan tài. Hậu nắm chặt bàn tay lại, móng tay bấm sâu vào vết sẹo cũ. Đau. Nhưng cái đau này không thấm vào đâu so với cái đau trong lòng anh.
Anh nhớ lại, hồi anh quyết định đi Bình Dương, cả nhà phản đối. Mẹ khóc, anh Hai im lặng, chỉ có cha là không nói gì. Đêm trước ngày anh đi, cha gọi anh ra hiên, đưa cho anh một bọc tiền nhỏ, nói: "Cha không giữ con được. Nhưng con nhớ, đi đâu thì đi, cũng đừng quên mình là con nhà nông. Đừng quên đường về." Anh đã gật đầu, đã hứa. Nhưng tám năm qua, anh chưa một lần giữ lời hứa đó.
Xe chạy qua một cây cầu. Dưới sông, nước đen ngòm phản chiếu ánh đèn le lói. Hậu nhìn xuống dòng nước, thấy bóng mình méo mó trên mặt sóng. Anh tự hỏi, nếu đêm nay anh không về, liệu cha và anh có trách anh không? Hay họ đã quen với việc anh vắng mặt, đến mức cái chết cũng không đợi anh về?
Anh thiếp đi lúc nào không hay, trong giấc mơ chập chờn, anh thấy mình đang lội giữa cánh đồng ngập nước, nước tới ngang ngực. Phía trước, cha và anh Hai đang đi, càng lúc càng xa. Anh gọi với theo, nhưng họ không quay lại. Anh cố bơi theo, nhưng nước như có tay kéo anh lại. Anh vùng vẫy, sặc nước, giật mình tỉnh dậy. Xe vẫn chạy, trời vẫn tối. Mồ hôi anh ướt đẫm lưng áo.
Gần sáng, xe về tới bến xe An Giang. Trời còn tối đen, sương mù giăng trắng xóa. Hậu bắt một chiếc xe ôm, nói địa chỉ ấp Tân Hiệp. Ông xe ôm nhìn anh, hỏi:
- Chú em về ấp Tân Hiệp? Nghe nói hôm qua ấp đó có hai cha con bị sét đánh chết, tội nghiệp.
Tim Hậu nhói lên. Anh gật đầu, không nói gì. Xe chạy bon bon trên con đường quen thuộc mà xa lạ. Tám năm, đường đất ngày xưa đã tráng nhựa một đoạn, nhà cửa mọc lên san sát hơn, có cả mấy quán cà phê, quán nhậu. Nhưng mùi bùn non, mùi rơm rạ, mùi khói đốt đồng vẫn vậy, vẫn là mùi của quê hương, mùi mà tám năm nay anh đã cố quên.
Xe ôm dừng trước cổng nhà. Cổng tre cũ kỹ, mái ngói rêu phong. Hậu trả tiền, đứng lặng một lúc trước cổng. Trong sân, đèn dầu le lói, tiếng khóc nức nở vọng ra, xen lẫn tiếng kèn trống đám ma ai oán, não nề. Khói nhang bay lên nghi ngút. Anh bước vào, chân như đeo đá ngàn cân.
Trong gian giữa, hai cỗ quan tài đặt song song, phủ vải trắng toát. Trên nắp quan tài, hai bát nhang khói bay nghi ngút. Mẹ anh ngồi bệt bên cạnh quan tài chồng, tóc rối bù, mắt sưng húp, người gầy rộc đi chỉ sau một đêm. Chị dâu Thảo ôm bé Na năm tuổi ngồi co ro một góc, mặt trắng bệch như tờ giấy. Thấy Hậu bước vào, mẹ anh òa khóc nức nở:
- Hậu! Con về rồi! Cha với anh con bỏ mẹ con mình đi hết rồi! Tội nghiệp quá con ơi!
Hậu quỳ sụp xuống trước hai cỗ quan tài, nước mắt trào ra như suối. Anh đập đầu xuống nền gạch lạy ba lạy, trán sưng đỏ, rồi gục xuống khóc nức nở như một đứa trẻ. Tám năm xa quê, anh đã tưởng mình chai sạn, tưởng mình cứng rắn. Nhưng giây phút này, trước hai cỗ quan tài của cha và anh, anh chỉ là một đứa con bất hiếu về muộn, không còn cơ hội để chuộc lỗi.
Thắp ba nén nhang cắm lên bát hương, Hậu ngẩng lên nhìn di ảnh cha và anh. Hai khuôn mặt hiền từ trong khung ảnh nhìn anh, như trách móc, như thương xót, như muốn nói điều gì đó mà không nói được. Anh thì thầm, giọng nghẹn ngào:
- Cha, anh Hai, con về rồi. Con về muộn quá. Hai người tha lỗi cho con.
Ngoài đồng, phía chân trời, mây đen lại bắt đầu kéo về. Một cơn giông nữa đang hình thành. Hậu nhìn ra cửa, lòng dậy lên một câu hỏi nhức nhối: cha và anh, hai người đàn ông cả đời sống hiền lành, chưa từng làm hại ai, sao trời lại nỡ đánh họ? Và tại sao, cùng một tia sét, lại đánh trúng cả hai người trên cánh đồng mênh mông không một chỗ nương thân?
Chương khác
- Chương 1: Sáng mười hai tháng mười, trời An Giang trong như nước giếng khơi.
- Chương 3: Sáng mười ba tháng mười, nắng lên yếu ớt sau một đêm mưa dầm.
- Chương 4: Ngày mười bốn tháng mười, đám tang bước vào ngày thứ hai.
- Chương 5: Chiều mười bốn tháng mười, đám tang tạm nghỉ, bà con về bớt, chỉ còn họ hàng thân thích ở lại.