Đôi Dép Ngoài Hiên - Chương 2: Chương 002: Dép Của Người Chết
Mùi nhang đen trộn lẫn với hơi ẩm của xi măng mới trát tạo nên một thứ không khí đặc quánh trong căn buồng phía sau nhà. Cúc ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng…
Nội dung chương
Mùi nhang đen trộn lẫn với hơi ẩm của xi măng mới trát tạo nên một thứ không khí đặc quánh trong căn buồng phía sau nhà. Cúc ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ mục, đặt cuốn sổ tay bìa da xanh lên đầu gối. Ánh sáng từ chiếc đèn bão treo trên vách đất chỉ đủ rọi sáng một góc chiếc phản gỗ, nơi thi thể của Thắm đang nằm dưới tấm vải liệm bằng vải sợi bông thô.
Cúc kéo nhẹ mép vải liệm xuống. Khuôn mặt em gái cô sau một ngày ngâm nước đã trương phù, hai bên má nhợt nhạt và vùng da quanh mắt chuyển sang màu xám chì. Cô hít một hơi sâu, nén cơn nghẹn ứ ở cổ họng để bắt đầu ghi chép. Là một nữ hộ sinh ở bệnh viện huyện, Cúc quen thuộc với ranh giới của sự sống và cái chết, nhưng việc lập hồ sơ cho chính đứa em ruột của mình là một cảm giác buốt giá chạy dọc xương sống.
Cô dùng ngón tay đeo găng cao su ấn nhẹ vào vùng da ngực của Thắm. Da lạnh ngắt, không còn độ đàn hồi. Cúc lật cuốn sổ, đặt bút viết nhanh:
Nhiệt độ bề mặt tử thi: Thấp hơn nhiệt độ môi trường. Da vùng mặt và ngực xuất hiện các vết hoen màu tím sẫm, tập trung nhiều ở vùng lưng và mông do tư thế nằm ngửa sau khi vớt.
Cúc tiếp tục di chuyển tay xuống phía dưới. Cơ thể Thắm đã cứng hoàn toàn. Khớp gối và khớp cổ chân khóa chặt, không thể co duỗi nếu không dùng lực mạnh. Khi cô kéo ống quần lụa đen của Thắm lên đến bắp chân, đầu bút bi đột ngột dừng lại trên trang giấy.
Ở cả hai bên cổ chân em gái cô, ngay phía trên mắt cá, xuất hiện hai vòng tròn bầm tím sẫm. Vết bầm có màu đỏ tía xen lẫn những vệt đen tụ máu dưới biểu bì. Cúc cúi rạp người xuống, đưa sát ngọn đèn bão để quan sát kỹ hơn.
Vết bầm ở cổ chân phải có dạng khuyết lõm, in rõ hình dáng của một ngón tay cái lớn ép mạnh vào da. Vết bầm ở cổ chân trái đối xứng hoàn hảo, dài hơn, tương ứng với bốn ngón tay còn lại ôm chặt lấy chân để kéo ghì xuống. Da vùng này bị dập nhẹ nhưng không có vết trầy xước do đất đá hay cạnh xi măng sắc nhọn của bể nước.
Cúc đặt ngón tay mình ướm thử vào vết bầm trên cổ chân Thắm. Kích thước của vết siết lớn hơn tay cô rất nhiều. Đây là dấu vết để lại do lực bóp của một người đàn ông khỏe mạnh.
Cô lật trang sổ, viết thêm:
Cổ chân trái và phải có vết bầm đối xứng do lực ép cơ học từ bên ngoài. Không ghi nhận các tổn thương dạng cào xước thường thấy khi nạn nhân vùng vẫy cố bám vào thành bể. Nghi ngờ có lực tác động cố ý giữ chân nạn nhân dưới nước.
Có tiếng bước chân sột soạt ngoài thềm đất. Cúc nhanh tay phủ tấm vải liệm che kín thi thể Thắm rồi ngẩng đầu lên. Không có ai ở cửa buồng, chỉ có tiếng gió lùa qua khe liếp làm ngọn lửa trong đèn bão chao đảo, hắt những cái bóng vặn vẹo lên bức vách đất ẩm mốc.
Cúc bước ra ngoài sân. Cơn mưa phùn lúc chiều đã ngớt, nhưng sương mù từ rặng núi đá vôi phía sau làng Vực Than đang tràn xuống, bao phủ các mái nhà ngói âm dương bằng một màu xám đục. Ở góc sân, chiếc bể nước mưa bằng xi măng sừng sững đứng đó dưới gốc cây khế già. Cành khế không có quả, chỉ có những chiếc lá héo rũ vì ngấm nước mưa.
Đôi dép tổ ong màu cháo lòng của Thắm vẫn nằm nguyên trên bậc thềm dẫn lên miệng bể. Chúng được đặt song song, ngay ngắn đến mức kỳ lạ. Hai mũi dép hướng thẳng vào lòng bể nước tối đen, nơi mà chỉ mười hai tiếng trước, người ta đã vớt xác Thắm lên trong tư thế úp mặt xuống đáy.
Cúc đi về phía bể nước. Cô nhìn thấy cô Bưởi, người họ hàng xa đang ngồi rửa đống bát đĩa dùng cho đám tang ở cạnh giếng khơi gần đó. Tiếng bát đĩa va vào nhau loảng xoảng phá tan sự im lặng tẻ nhạt của buổi chiều muộn.
Cúc đứng bên cạnh bể nước, chỉ tay xuống đôi dép tổ ong.
- Cô Bưởi, lúc mọi người phát hiện ra Thắm, đôi dép này đã được đặt thế này rồi à?
Cô Bưởi dừng tay chà đĩa. Đôi bàn tay đỏ ửng vì nước lạnh của bà run lên, làm chiếc đĩa đồng trượt khỏi tay rơi xuống chậu nước kêu đánh boong. Bà không ngẩng lên nhìn Cúc, mắt vẫn dán chặt vào mặt nước xà phòng đầy bọt đục.
- Tôi chịu, lúc ấy người ta nháo nhác cả lên, ai thèm nhìn đôi dép.
- Nhưng Thắm ngã xuống bể, tại sao dép lại được xếp ngay ngắn thế này? Mũi dép lại hướng thẳng vào trong lòng bể?
Cô Bưởi đứng phắt dậy, bê chậu đĩa đồng đi thẳng về phía nhà bếp. Bước chân của bà vội vã, tiếng dép cao su quẹt xuống nền sân xi măng nghe sàn sạt. Bà chỉ bỏ lại một câu trước khi khuất sau cánh cửa gỗ:
- Hỏi người trong nhà nó ấy, tôi là người ngoài không biết phong tục ở đây.
Cúc nhìn theo bóng cô Bưởi. Sự né tránh lộ rõ trong từng cử chỉ của người đàn bà trung niên. Cô quay sang phía ba người đàn ông đang khiêng những khúc tre lớn để dựng rạp đám tang ở khoảng sân trước. Trong số đó có Tới, người đầu tiên chạy ra bể nước khi nghe tiếng động đêm qua.
Cúc bước qua những vũng nước đọng, đi đến bên cạnh Tới.
- Anh Tới, đêm qua anh là người vớt Thắm lên đúng không?
Tới đặt khúc tre xuống đất, lấy tay quệt mồ hôi trên trán. Khuôn mặt anh ta xám ngoét dưới làn sương mù, hai mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi.
- Phải, tôi nghe tiếng động lớn nên chạy sang.
- Lúc anh đến, anh có thấy ai quanh bể nước không? Đôi dép của Thắm lúc đó đặt thế nào?
Tới nhìn quanh như tìm kiếm lối thoát, rồi hạ giọng trả lời.
- Tôi chỉ lo vớt người, không chú ý dép guốc. Cô đừng hỏi mấy chuyện ấy nữa, làng này kiêng nhắc đến đồ đạc của người chết đuối trước khi khâm liệm.
- Tại sao lại kiêng? Ở làng mình có lệ xếp dép quay vào trong thế này sao?
Tới không trả lời. Anh ta cầm chiếc búa gỗ lên, đập mạnh vào cọc tre găm xuống đất, tạo ra những tiếng vang chát chúa cắt ngang lời Cúc. Thái độ của Tới cũng giống như cô Bưởi, một sự im lặng tuyệt đối trước bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến đôi dép tổ ong.
Cúc đi dọc hiên nhà, quan sát những đôi dép của những người đến viếng đang xếp dưới thềm. Tất cả đều quay mũi ra phía sân, hướng thẳng ra lối cổng ngõ. Không có một đôi dép nào hướng mũi vào phía trong nhà. Ở quê cô, người ta luôn bảo nhau rằng khi đi ngủ hay khi ra ngoài phải quay mũi dép ra xa giường hoặc cửa lớn, để tránh người cõi âm xỏ chân vào rồi đi theo người sống.
Thắm sống ở làng Vực Than này đã ba năm, chắc chắn em cô biết rõ quy tắc đó. Nhưng đôi dép của em cô lại hướng thẳng vào nơi Thắm đã bỏ mạng.
- Cháu cất cái sổ ấy đi.
Giọng nói khàn đặc của bà Hoan vang lên từ phía sau. Bà đứng tựa lưng vào cột hiên gỗ xoan đã bị mối mọt đục rỗng. Chiếc áo bà ba màu nâu sẫm của bà đẫm nước mưa phùn, bết chặt vào bả vai gầy guộc. Bà đang nhai trầu, khóe miệng thâm sì nước trầu đỏ lòm như máu khô.
Cúc quay lại, tay vẫn giữ chặt cuốn sổ ghi chép.
- Cháu đang làm nhiệm vụ của cháu. Cổ chân Thắm có vết bầm rất rõ, đó là vết ngón tay siết vào chứ không phải vết ngã.
Bà Hoan nhổ một bãi nước trầu xuống góc sân, ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào mắt Cúc.
- Nó đi gánh nước đêm thì trượt chân va vào thành bể. Vết bầm đấy là do va đập lúc ngã.
- Thành bể nước làm bằng xi măng phẳng, không có cạnh sắt tròn để tạo ra vết bầm đối xứng hai bên cổ chân như vậy.
Vết này sinh ra từ bàn tay nắm cổ chân Thắm rồi ghì xuống nước.
Cúc nhấn mạnh từng chữ, cố giữ giọng mình không run rẩy. Bà Hoan bước lên một bước, mùi trầu không nồng nặc và mùi ẩm mốc từ người bà phả thẳng vào mặt cô.
- Mày học trên phố được vài chữ rồi về đây hạch sách người già à? Con Thắm nó chết vì số mệnh, đừng làm tang lễ rối thêm.
- Đôi dép của em sao lại quay mũi vào lòng bể được?
Bà Hoan nhìn chằm chằm vào đôi dép tổ ong dưới gốc khế. Khóe môi nhăn nheo của bà giật giật, tạo thành một nụ cười méo mó.
- Đó là thói quen cuối cùng của người chết. Nó muốn đi xuống đấy thì nó xếp dép hướng vào đấy. Mày hỏi lắm chỉ tổ làm vong hồn nó không siêu thoát được.
- Người tự tử không ai rảnh rỗi đi xếp dép ngay ngắn trước khi nhảy xuống bể nước sâu chưa đầy hai mét.
- Người làng Vực Than khi tự tìm đường đi thì tự xếp dép dẫn đường cho mình. Mày không phải người ở đây, đừng xía vào hủ tục của làng.
Bà Hoan dứt lời rồi quay lưng đi thẳng vào trong buồng khâm liệm. Bóng bà đổ dài trên nền nhà đất, trông giống một vệt đen kéo lê trên mặt đất ẩm ướt.
Cúc đứng lại một mình giữa khoảng sân tối dần. Lời giải thích của bà Hoan chứa đựng sự vô lý lạnh người. "Tự xếp dép dẫn đường cho mình" là thứ lý lẽ mà không một người bình thường nào có thể chấp nhận. Nó giống một nghi thức ép buộc hơn là thói quen tự nguyện.
Cô đi vào phòng ngủ của Thắm ở cạnh gian bếp. Căn phòng nhỏ chỉ kê vừa một chiếc giường tre và một chiếc tủ gỗ ép đã bị phồng rộp vì hơi ẩm. Mùi dầu hỏa và mùi quần áo ẩm mốc bao trùm không gian chật hẹp.
Cúc mở ngăn kéo tủ gỗ để tìm thêm giấy tờ tùy thân của em gái. Dưới đáy ngăn kéo, bên dưới mấy bộ quần áo cũ, cô tìm thấy một cuốn sổ tay nhỏ màu đỏ. Trang giấy bên trong đã ố vàng, nét chữ của Thắm nguệch ngoạc và run rẩy:
Ngày 14 tháng 10. Lại có tiếng bước chân ngoài thềm bể nước. Đôi dép của mình lại quay mũi vào trong. Ai đã xoay chúng?
Ngày 22 tháng 10. Bà bảo đấy là điềm báo. Người dưới bể nước đang chọn chân. Mình không muốn ra ngoài đó nữa.
Ngày 5 tháng 11. Đêm qua mình thấy bóng người đứng cạnh bể nước. Khi mình ra xem, chỉ có đôi dép xếp ngay ngắn, mũi hướng thẳng vào lòng bể. Chân mình lạnh buốt.
Cúc siết chặt cuốn sổ trong tay. Những dòng chữ này chứng minh Thắm không hề tự tử. Em cô đã bị đe dọa, bị theo dõi vì liên quan đến đôi dép và bể nước mưa phía sau nhà từ nhiều tuần trước khi chết.
Tiếng gõ cửa phòng đột ngột vang lên. Cúc giật mình nhét nhanh cuốn sổ vào túi áo khoác.
Vinh đứng ở ngưỡng cửa. Đứa con riêng của chồng Thắm nhìn cô bằng đôi mắt đen láy, to tròn nhưng thiếu sức sống của một đứa trẻ lớn lên trong bóng tối của ngôi làng hẻo lánh này. Thằng bé mặc chiếc áo khoác len màu xám cũ kỹ, hai tay đút sâu vào túi quần.
- Cô Cúc ơi, bà bảo cô ra ăn cơm.
Cúc cúi xuống nhìn Vinh. Cô cố gắng làm dịu giọng mình.
- Vinh, đêm qua cháu có thấy mẹ Thắm ra bể nước không?
Vinh nhìn ra phía sau lưng như sợ hãi bà Hoan sẽ xuất hiện từ bóng tối hành lang. Thằng bé lắc đầu, giọng nhỏ như tiếng muỗi kêu.
- Cháu ngủ rồi, nhưng nghe tiếng xột soạt dưới gầm giường.
- Tiếng xột soạt gì cơ?
- Tiếng dép lê kéo trên nền đất.
Vinh nói xong liền quay đầu chạy biến vào nhà ngoài, nơi ánh đèn dầu leo lét đang phản chiếu những bóng người đi lại chuẩn bị cho bữa cơm tối của gia đình.
Cúc đi ra phòng khách. Bữa cơm được dọn trên một chiếc mâm đồng sứt cạnh đặt ngay sát chiếc phản gỗ chỗ Thắm nằm. Chỉ có một đĩa rau muống luộc úa vàng, một bát nước mắm mặn chát và một đĩa đậu phụ kho tương.
Bà Hoan ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre bên cạnh, tay cầm chiếc bát sành đựng trầu têm cánh phượng. Bà không đụng vào đũa bát trên mâm cơm.
- Ăn đi rồi còn thức canh hòm. Đêm nay là đêm đầu tiên, vong nó còn quẩn quanh trong nhà chưa đi xa được đâu.
Cúc cầm đũa nhưng không thể nuốt trôi miếng cơm nào. Cô nhìn ra phía cửa sổ hướng về phía bể nước mưa. Bóng tối ngoài sân đã đen đặc, không còn nhìn rõ cây khế già hay thành bể xi măng nữa. Chỉ có tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái hiên xuống nền đất nghe đều đặn, khô khốc như tiếng gõ nhịp của chiếc đồng hồ chết.
Sau bữa cơm, dân làng đến viếng thưa thớt dần rồi về hẳn. Trước bảy giờ tối, con đường đất ngoài ngõ đã không còn bóng người qua lại. Tiếng chó sủa văng vẳng từ phía cuối làng rồi tắt lịm, nhường chỗ cho tiếng côn trùng kêu râm ran trong những bụi cây rậm rạp quanh nhà.
Cúc bước ra hiên trước để rửa tay. Nước trong lu đất lạnh buốt làm da tay cô tê dại.
Khi cô cúi xuống để múc nước, ánh đèn dầu từ trong nhà hắt ra ngoài sân chiếu thẳng vào đôi dép lê màu xanh của cô đặt ở bậc cửa.
Hai mũi dép lê của cô, vốn được cô đặt hướng ra phía sân lúc chập tối, giờ đây đã xoay ngược góc chín mươi độ.
Chúng đang quay mũi thẳng vào căn phòng ngủ của cô, nơi chiếc giường tre nhỏ đang mở sẵn cánh cửa buồng tối tăm.