HEO NĂM MÓNG - Chương 2: Đường về
Bến xe Miền Tây sáng thứ Ba - ít người. Tôi mua vé Phương Trang chuyến mười bốn giờ, ngồi đợi ở quán cà phê quầy bên trong, gọi một ly đen đá. Đèn neon…
Nội dung chương
Bến xe Miền Tây sáng thứ Ba - ít người. Tôi mua vé Phương Trang chuyến mười bốn giờ, ngồi đợi ở quán cà phê quầy bên trong, gọi một ly đen đá. Đèn neon trắng phủ lên gạch men cũ, mùi nước lau nhà còn vẩn lên từ chân ghế. Trên loa, một giọng nữ thông báo giờ xe chạy đi Cần Thơ, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu - tên các thành phố đọc gọn và nhanh, như đọc tên người chết trong sổ.
Tôi mở điện thoại. Có ba tin nhắn mới. Hà gửi địa điểm đón ở bến Bãi Xàu - kèm số tài khoản BIDV. "Anh chuyển 5 triệu góp tang nha. Em ứng trước rồi." Tôi mở app ngân hàng, chuyển. Mười giây sau Hà để icon "đã nhận". Anh em ruột mà nhắn nhau như chuyển khoản công ty - không bao giờ thêm một câu ngoài việc.
Chị editor gửi thêm: "Khang, mai mốt rảnh nhắn chị. Có chuyện muốn hỏi." Tôi không trả lời. Tôi biết "chuyện muốn hỏi" là gì - chị muốn tôi viết một bài về tang Khmer, tôi đoán không sai. Editor nào cũng vậy: thấy phóng viên có chất liệu là gọi.
Mười bốn giờ. Xe lăn bánh. Tôi ngồi ghế cạnh cửa sổ, hàng ba từ cuối. Phía trước, một bà cô khoảng sáu mươi mở hộp xôi vò ra ăn - mùi xôi nóng tỏa lên, ấm và ngọt, lạc lõng giữa mùi máy lạnh xe. Bà ăn yên lặng, không mời ai. Tôi ngả đầu vào kính cửa sổ.
Sài Gòn lùi dần. Cao ốc Bến Vân Đồn - nhà thờ Đức Bà - cầu Phú Mỹ - rồi nhà tôn lụp xụp dọc đường vào An Hoà. Tôi quen mỗi đoạn đường này từ những chuyến Phương Trang về Cần Thơ thời sinh viên, nhưng hôm nay nó nhìn lạ. Như thể tôi đang đi một con đường thật khác mà chỉ tình cờ có cùng cảnh quan.
---
Trạm dừng Long An.
Tôi xuống đi vệ sinh, mua tô bún mọc nóng. Nước dùng trong, mọc dai, nhưng nuốt không vô. Bà nội tôi - bà nội bên ba - hay mua bún mọc cho tôi hồi nhỏ. Bà nội đã mất mười năm rồi. Tôi không nhớ bà ngoại từng mua bún mọc cho tôi lần nào chưa. Bà ngoại không ra chợ mấy. Bà ngồi nhà, đan kẹp tóc, nấu cơm Khmer cho cậu sư bên chùa nếu cậu ghé. Cậu hay ghé - em ruột của bà. Cậu là người duy nhất trong phum đến nhà bà mà không cần báo trước.
Lên xe lại. Ghế cạnh cửa sổ. Đồng lúa đang gặt hai bên quốc lộ. Máy gặt màu cam chạy qua chạy lại trong khói bụi vàng. Tôi tựa đầu vào cửa kính. Rung lắc đều. Nhớ - bà ngoại không bao giờ dùng điện thoại. Lần nào gọi cho bà cũng phải qua máy bàn nhà cậu sư bên chùa Pra Sat. Máy bàn đổ chuông lâu tới bốn hồi. Rồi giọng cậu - "Pheap hả con? Bà khoẻ. Để cậu kêu bà." Rồi tiếng dép lẹp xẹp. Rồi giọng bà, lẫn trong gió vì bà đứng ngoài hiên nói, nói không quá ba câu. "Pi-ấp, ăn cơm chưa? Ừ. Để máy cho cậu đi." Tôi không nhớ bà từng hỏi tôi về Sài Gòn.
Hồi tám tuổi - sáng cuối cùng ở phum, bà bón cho tôi bát cháo cá lòng tong. Cá nhỏ bằng ngón tay út, bà lược xương kỹ từng con, không sót dù một sợi nhỏ. Tôi há miệng. Bà xúc. Không nói gì. Chén cháo nóng, hơi bốc lên mặt bà - mặt bà sáng lên trong hơi nóng đó, mắt bà long lanh nhưng không phải vì khóc, chỉ vì hơi nước. Tôi nhớ tôi đã ngồi ăn rất chậm - vì biết chỉ cần ăn xong là phải đi. Mẹ đứng cạnh xe đò gọi giọng gấp: "Thằng Khang lên đây mau, xe chạy bây giờ." Tôi đứng dậy chạy đi. Bà bước theo tới cổng, chạm ngón tay cái vào trán tôi - cái chạm khô và ấm. Bà vẫn không nói. Mắt bà nhìn tôi rất lâu - lâu đến mức tôi tưởng bà sắp nói gì đó, nhưng không. Bà chỉ nhìn. Rồi tôi lên xe. Mẹ kéo cửa đóng. Tôi nhìn ra cửa sổ - bà đứng giữa cổng, một tay vịn vào chấn cửa, không vẫy.
Tôi mở mắt. Xe đang chạy qua cầu Cần Thơ. Sông Hậu đục dưới nắng trưa. Một con đò chở cát chạy chậm dưới chân cầu. Người đàn bà trên đò đang phơi cái áo đỏ lên cọc tre. Tôi nhìn cái áo đỏ lâu hơn mức cần thiết, không biết tại sao.
--- 13h40. Bến xe Bãi Xàu. Tôi kéo vali xuống xe, đứng lại để quen với nắng. Nắng ở đây khác Sài Gòn - khô hơn, vàng hơn, đậm mùi cá khô và bùn đồng. Tôi nhận ra Hà từ xa. Nó đứng cạnh chiếc Wave cũ của bà, tay ôm hai cái nón bảo hiểm.
Tóc buộc cao. Áo thun đen, quần jean bạc màu. Gầy hơn lần Tết gặp ở nhà ba mẹ - má hốc, cổ tay nhỏ như que củi. Tôi bước tới. Hai anh em không ôm. Hà chìa nón bảo hiểm: "Anh đội đi. Đường ổ gà dữ lắm." Tôi cài quai nón.
Hà nổ máy. Tôi ngồi sau. Wave cũ chạy êm hơn tôi tưởng - bà giữ máy kỹ. Từ Bãi Xàu về phum Pra Sat khoảng mười cây. Đường đất hai bên kênh. Kênh Bãi Xàu nước đục màu trà, lục bình trôi chậm thành từng bè. Rặng thốt nốt xa xa ngả bóng in lên nền trời trắng.
Vài đứa trẻ cởi truồng tắm dưới cống, la hét. Một ông già ngồi trước nhà chẻ tre, không ngẩng nhìn xe chạy qua. Một con bò mộng đứng giữa đường, đuôi quẫy chậm - Hà bóp còi nhẹ, con bò nhích sang một bước. Mùi phân bò pha mùi rạ ướt - cái mùi miền Tây mà tôi đã quên nhiều năm.
"Tang lễ tới đâu rồi?" - tôi hỏi, giọng lẫn trong gió.
"Hôm qua làm ngày một rồi. Cậu sư bên chùa Pra Sat nhận chủ trì. Cậu nói làm đủ bảy ngày. Tối nay tới ngày hai."
"Ai lo chi phí?"
"Mấy dì họ góp. Ba gửi về mười triệu. Mẹ -" Hà ngừng một nhịp. "- mẹ không về."
Tôi không nói gì. Hà cũng không nói thêm.
Xe chạy qua cây cầu sắt nhỏ bắc ngang kênh. Hà giảm ga, lách ổ gà. Rồi nó nói - giọng đều, nhưng thấp hơn chút:
"Bà mất khoảng hai, ba giờ sáng. Sáng hôm qua dậy mới biết."
"Ai phát hiện?"
"Dì Tư Đường qua lấy gạo. Dì gọi không thấy bà ra. Đẩy cửa vô - bà nằm thẳng trên giường. Tay nắm chặt."
"Nắm gì?"
"Em không thấy. Cậu sư tới trước em." Tôi im. Hà chạy thêm một đoạn, rồi nói tiếp - giọng chậm từng chữ: "Mặt bà méo về phía sau nhà."
"Méo là sao?"
"Miệng với mắt kéo lệch hết về một bên. Phía sau. Phía lò mổ heo cũ của ba." Tôi siết tay lên thanh sắt phía sau yên xe. Lò mổ heo cũ - cái chỗ tôi từ chối bước vào từ năm lên tám.
"Em xin cậu xoay đầu lại bình thường rồi. Cậu nói im đi. Đừng hỏi ai." Hà nói câu đó như chuyện thời tiết - giọng đều, chẳng lên xuống. Nhưng hai vai nó hơi cứng. Tôi thấy, vì tôi ngồi sau. Một con chó vàng chạy ngang đường. Hà thắng nhẹ. Con chó biến sau bụi mía. Xe chạy tiếp.
---
14h30. Đến phum Pra Sat.
Tôi xuống xe trước cổng nhà bà. Sân đất đầy người. Nhà gỗ ba gian mái tôn, hai cây sao trước cửa đã lớn hơn tôi nhớ - gốc sao đường kính phải gần một mét, vỏ sần như da voi. Bàn thờ ngoài hiên đặt sẵn - di ảnh bà lúc bảy mươi, mặt nghiêng, không cười. Nhang xám dày khói. Mùi trầm lẫn mùi mồ hôi người và mùi cá kho dưới bếp. Bên hông nhà, một con chó vện đang nằm thè lưỡi dưới gốc khế - tôi nhớ con này, nó đã gần mười lăm tuổi.
Tôi đứng ở cổng ba giây. Họ hàng quay ra nhìn. Tôi chỉ nhận được bốn, năm mặt. Còn lại lẫn vào nhau - cùng màu da, cùng nếp nhăn, cùng kiểu áo bà ba sậm màu. Vài bà cô nói tiếng Khmer. Vài chú nói tiếng Việt giọng Sóc Trăng. Tiếng Khmer tôi hiểu chừng một nửa - như làn nước đục, vớt được cái này, tuột cái kia.
Cậu sư Bun-Thoeun bước ra từ gian giữa. Áo cà sa cam, đầu cạo trọc, bước chân nhẹ. Cậu dừng trước mặt tôi, đưa hai tay nắm vai tôi - cái nắm chắc hơn tôi nhớ.
"Pheap, choom-reap-suor." (Pheap, chào con.)
Tôi đáp: "Choom-reap…" rồi tắc. Không nhớ nổi chữ kế tiếp. Cậu cười nhẹ - nụ cười không tới mắt - rồi buông vai tôi:
"Vào trong đi, lạy bà."
Tôi bước vô. Quỳ trước bàn thờ. Di ảnh bà - mặt nghiêng, mắt nhìn về phía nào không rõ. Tôi chắp tay, gõ trán xuống nền xi măng. Không khóc được. Tôi không biết tại sao.
Đứng dậy. Người ta đang xúm lại chào hỏi - tiếng Việt, tiếng Khmer lẫn nhau - nhưng tôi vô tình liếc về phía sau nhà. Qua khung cửa bếp, tôi thấy nó.
Lò mổ heo cũ.
Bốn bức tường vôi xám. Cửa sắt khoá rỉ. Mái tôn lệch một góc. Nó đứng đó, cách nhà chừng ba mươi bước, im lặng như một con thú đang nín thở. Tôi nhìn ba giây. Rồi quay đi.
Hà xuất hiện sau lưng tôi:
"Anh đi tắm rửa đi. Lát cậu cúng."
---
Tối. Lễ cúng ngày thứ hai xong. Họ hàng ăn cơm ngoài hiên rồi lục tục về. Tôi đứng ngoài hiên hút thuốc. Gió từ phía kênh thổi vô mát, mang theo mùi bùn non.
Hà bước ra, ngồi xuống bậc thềm cạnh tôi. Không nói. Tôi đưa bao thuốc - nó lắc đầu. Im lặng hai phút. Tiếng dế ngoài bụi chuối sau nhà kêu đều. Tiếng ai chén bát dưới bếp. Tiếng cậu sư niệm kinh trong gian giữa - giọng trầm, tiếng Pali đều như nhịp thở.
Rồi Hà nói - giọng thấp, không nhìn tôi:
"Anh."
"Hử."
"Bà nắm cái gì trong tay khi mất mà ai cũng tránh nói." Tôi ngừng tay đưa thuốc lên môi.
"Cái gì?"
"Em không biết. Cậu sư nói tự rớt ra rồi. Mà em thấy cậu nhặt giấu vào tay áo. Em không dám hỏi." Tôi nhìn cái đốm lửa cuối điếu thuốc. Hà ngẩng lên - mắt nó sáng yếu trong ánh đèn hiên: "Anh là phóng viên mà." Em nói câu ấy như ném một cái cuốc xuống chân tôi. Tôi không biết có nên cúi xuống nhặt hay không.