Hoàng Bì Đổi Vận - Chương 2: Căn Nhà Tranh Gió Lùa
Con đường đất dẫn vào xóm Trại của làng Tân Hợp ngập ngụa bùn lầy sau những ngày mưa phùn dai dẳng. Hai vệt bánh xe tải lún sâu xuống rãnh đất đỏ quạch,…
Nội dung chương
Con đường đất dẫn vào xóm Trại của làng Tân Hợp ngập ngụa bùn lầy sau những ngày mưa phùn dai dẳng. Hai vệt bánh xe tải lún sâu xuống rãnh đất đỏ quạch, mỗi lần tôi ghì vô lăng để lách qua ổ gà, chiếc Giải Phóng lại rên lên từng chập ken két. Tiếng sắt thép rệu rã cọ xát vào nhau giữa khoảng không vắng lặng khiến lòng tôi thắt lại. Rừng thông hai bên sườn đồi tối đen như mực, đứng sừng sững trong sương đêm, cành lá chĩa lên nền trời đục ngầu hình thù nham nhở.
Tôi đạp phanh, tắt máy xe ngay trước bãi đất trống cách cổng rào chừng mươi mét. Động cơ ngừng gầm rú, trả lại cho không gian tiếng gió bấc rít qua những tán lá nhọn hoắt trên đỉnh đồi. Tôi không dám nổ máy lâu, sợ tiếng ồn đánh thức xóm giềng và cũng xót từng giọt dầu diesel của lão Thạch. Ngồi yên trong cabin vài giây để mắt quen dần với bóng tối, tôi đưa mu bàn tay lên mũi ngửi. Thứ mùi xạ hương tanh tưởi từ túm lông chồn dưới gầm xe ban nãy vẫn còn đó, bám riết vào từng thớ da, đặc quánh và lạnh buốt. Tôi chùi vội tay vào vạt áo bông sờn rách, mở cửa nhảy xuống đất.
Gió lạnh quất thẳng vào mặt làm tôi rùng mình. Đất bùn bết chặt lấy đế ủng cao su nặng trịch. Trước mắt tôi, căn nhà gianh ba vách nứa trét đất của vợ chồng tôi nằm chênh vênh nơi mép đồi, trông còi cọc và xơ xác trước những cơn cuồng phong từ phương Bắc tràn về. Mái rạ mục nát bên chái bếp bị gió giật tung từng mảng, trơ ra bộ sườn tre đen đúa. Từ khe liếp nứa dán giấy báo cũ kỹ, một đốm sáng vàng vọt, tù mù hắt ra, yếu ớt đến mức hạt sương rơi ngang qua cũng đủ che khuất.
Tôi bước nhanh tới mé hiên, khẽ lay cánh cửa liếp ọp ẹp:
- Lệ ơi. Anh đây. Mở cửa cho anh.
Bên trong có tiếng lục đục vội vã. Tiếng dép nhựa mòn vẹt kéo lê trên nền đất nện, rồi then tre gạt sang một bên. Cánh cửa hé mở, hơi ấm tù túng lẫn mùi dầu hỏa khét lẹt xộc ra ngoài. Vợ tôi đứng đó, tay cầm cây đèn hoa kỳ bằng thủy tinh cáu bẩn muội than. Chiếc bóng gầy guộc của cô ấy đổ dài lên vách đất nứt nẻ, chao đảo theo từng ngọn gió lùa qua khe cửa.
Mới xa nhà có ba ngày mà trông Lệ tàn tạ đi nhiều quá. Mái tóc đen dài ngày nào giờ xơ xác, búi vội sau gáy bằng một cọng dây thun ố vàng. Gò má cô ấy nhô cao, hốc mắt thâm quầng trũng sâu, khóe miệng khô nứt nẻ rớm máu vì lạnh. Trên vai cô ấy khoác chiếc áo len cũ thủng lỗ chỗ nơi cùi chỏ, vạt áo trước ngực còn vấy những vệt nước cháo loãng đã khô cứng.
- Anh Bính... Sao bảo đêm nay anh theo xe hàng của bác Thạch qua cửa khẩu luôn cơ mà? - Giọng Lệ run rẩy, đôi mắt mở to ngạc nhiên rồi nhanh chóng chùng xuống vẻ lo âu. - Xe hỏng dọc đường hay có chuyện gì hả anh?
- Xe vẫn chạy được. Anh tạt về đưa tiền cho em rồi đi ngay kẻo đoàn xe qua đèo Kéo Luông mất. - Tôi bước vào trong, vội vã cài then cửa lại để ngăn luồng gió buốt đang lùa theo sau gót.
Căn nhà trống huếch trống hoác. Tài sản đáng giá nhất chỉ là chiếc giường tre ọp ẹp kê sát vách trong và cái bàn con ghép bằng ván thùng đạn pháo cũ kỹ. Giữa nhà, một chiếc chậu thau nhôm sứt quai đặt hứng những giọt nước rỉ xuống từ mái tranh dột nát, kêu "tong... tong" từng nhịp đều đặn, buốt óc.
Trên giường tre, thằng An đang nằm co ro dưới tấm chăn chiên chi chít miếng vá. Thằng bé năm tuổi teo tóp như một cành củi khô, mặt mũi đỏ bừng vì sốt. Lồng ngực nó gầy giơ xương sườn, phập phồng gấp gáp theo từng cơn rít khò khè nghẹt thở nơi cuống họng. Tiếng thở của con nặng nhọc, đứt quãng, giống hệt âm thanh của chiếc ống bễ lò rèn rách bạt mà tôi từng thấy ở xưởng sửa chữa dưới huyện.
Tôi bước tới mép giường, quỳ một chân xuống nền đất lạnh, đưa bàn tay thô ráp áp lên trán con. Trán thằng bé nóng rực như hòn than vùi trong tro, nhưng hai bàn chân thò ra ngoài mép chăn lại tím tái, lạnh ngắt như chân người chết.
- Nó sốt từ chiều qua tới giờ chưa dứt - Lệ sụt sùi, đặt cây đèn dầu lên mặt bàn con rồi ngồi bệt xuống bên cạnh tôi. - Chiều nay em cạo gió, giã lá tía tô cho nó uống mà chẳng đỡ. Cứ chập tối là ngực nó lại rút lõm vào, thở không ra hơi. Em muốn đưa nó ra trạm xá xã nhưng trong túi cạn sạch tiền, trời lại mưa to quá...
Lời kể của vợ như những nhát búa nện thẳng vào thái dương tôi. Một nỗi chua chát nghẹn ứ nơi cổ họng, chát đắng và tàn nhẫn. Tôi là thằng đàn ông ba mươi sáu tuổi, sức dài vai rộng, lái chiếc xe tải chở hàng chục tấn hàng lậu vượt biên giới mỗi tuần, vậy mà nhìn con ốm thập tử nhất sinh lại chẳng có nổi vài hào mua cho nó viên thuốc hạ sốt tử tế. Lương tài xế thuê của lão Thạch bị trừ hết vào tiền lãi của khoản nợ mua lại chiếc xe cũ nát từ hai năm trước. Càng chạy, nợ càng phình to, cái nghèo như chiếc thòng lọng siết chặt lấy cổ cả gia đình này.
- Đừng khóc nữa. Có tiền rồi đây. - Tôi thọc tay vào túi áo trong, lôi ra xấp tiền giấy nhàu nát mà lão Thạch vừa tạm ứng.
Những tờ tiền mệnh giá mười ngàn, hai mươi ngàn đồng quăn góc, cáu bẩn mùi mồ hôi và mùi dầu mỡ, tôi cẩn thận vuốt thẳng từng tờ rồi nhét vào lòng bàn tay gầy trơ xương của Lệ.
- Hai trăm ngàn. Lão Thạch ứng trước cho chuyến hàng này. Sáng mai, trời vừa hửng là em bế thằng An ra ngay trạm xá huyện, nhờ bác sĩ kê thuốc tốt nhất cho nó. Nếu trạm xá không đủ thuốc thì bắt xe đò xuống tận bệnh viện tỉnh. Đừng tiếc tiền, nghe chưa? Con nó không chịu nổi cái lạnh này đâu.
Lệ cầm xấp tiền trong tay, những ngón tay khẳng khiu run lên bần bật. Nước mắt cô ấy ứa ra, lăn dài trên đôi gò má xám xịt, rơi lã chã xuống những tờ giấy bạc. Cô ấy cắn chặt môi để không bật ra tiếng khóc nấc, sợ làm đứa trẻ thức giấc.
- Anh lấy đâu ra nhiều thế này? Lão Thạch khét tiếng keo kiệt, bao giờ chịu nhả tiền trước đâu... Anh có phải cam kết điều gì nguy hiểm không? Em nghe bảo đợt này biên phòng làm gắt lắm, mấy bãi hàng trên Đồng Đăng bị lùng sục suốt...
- Chuyến này lão cần đi gấp, hàng về bãi an toàn thì lão thưởng thêm. Em đừng bận tâm chuyện dọc đường, anh quen từng khúc cua trên cái đèo Kéo Luông ấy rồi. Lo cho thằng bé trước đi.
Tôi gạt phắt câu hỏi của vợ, cố giữ giọng bình thản nhưng bụng dạ lại cồn cào từng cơn. Chiều giờ tôi đã có hạt cơm nào vào bụng đâu. Hơi lạnh ngấm qua lớp áo mỏng khiến dạ dày tôi quặn thắt, cồn cào đòi ăn.
Lệ lau vội nước mắt, nhìn tôi ái ngại:
- Anh chưa ăn gì phải không? Để em dọn cơm. Hôm nay em có độn thêm sắn, vẫn còn một bát để phần anh trong chõ.
Cô ấy đứng dậy, lúi húi bên góc bếp chật chội. Tiếng vung nồi bằng nhôm va vào nhau khô khốc. Một lát sau, Lệ bưng ra chiếc bát sành sứt mẻ đặt lên bàn. Bát cơm nguội ngắt, hạt gạo đỏ khô khốc trộn lẫn những lát sắn thái mỏng phơi khô đã ngả màu mốc xám. Thức ăn kèm chỉ có một đĩa nhỏ đựng mấy cọng rau muống luộc thâm sì và một bát nước mắm pha loãng với nước sôi, nổi lềnh bềnh vài hạt muối hột.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng tre đã gãy một nan, cầm đôi đũa cả mòn vẹt. Trước khi ăn, tôi đưa hai bàn tay ra định bốc miếng sắn, nhưng mùi tanh nồng ban nãy lại xộc lên.
- Để anh ra chum múc gáo nước rửa cái tay đã. Mùi dầu máy bám kinh quá.
Tôi bước ra mé hiên sau, nơi đặt chiếc chum sành hứng nước mưa dưới máng tre. Nước trong chum lạnh buốt thấu xương. Tôi vục gáo dừa múc nước dội xối xả lên hai bàn tay, lấy nắm lá bưởi khô vò nát chà xát thật mạnh vào kẽ móng tay. Da thịt tôi đỏ ửng lên vì rát, nhưng kỳ lạ thay, thứ mùi xạ hương quái gở ấy vẫn trơ trơ bám chặt. Nó không hề phai nhạt dưới nước lã, trái lại, khi gặp nước lạnh, mùi hôi tanh ấy càng bốc lên nồng nặc hơn, ngai ngái hệt như mùi thịt sống để lâu ngày trong góc tối.
Tôi nghiến răng, lau mạnh tay vào vạt áo rồi quay vào nhà. Bụng đói cồn cào khiến tôi không còn tâm trí bận tâm đến mùi hương ấy nữa. Tôi và một miếng cơm độn sắn vào miệng. Miếng sắn khô bã, dai ngoách xát vào cổ họng nuốt xuống nghẹn đắng. Hạt gạo đỏ cứng ngắc như sỏi vụn. Tôi nuốt ực một cái, cố dằn cơn buồn nôn đang dâng lên từ cuống họng, rồi và tiếp miếng thứ hai.
Lệ ngồi bên cạnh, lặng lẽ nhìn tôi ăn, hai bàn tay vẫn nắm chặt xấp tiền cọc để trên đùi. Ánh đèn dầu leo lét hắt bóng hai vợ chồng lên vách nứa, run rẩy theo từng đợt gió rít qua khe liếp.
- Ăn từ từ thôi anh, nghẹn đấy. - Lệ rót cho tôi bát nước vối nguội ngắt. - Chuyến này anh đi mấy ngày thì về?
- Nếu suôn sẻ, qua khỏi trạm kiểm soát bên kia biên giới giao xong hàng thì tối mai anh quay đầu xe về bãi. - Tôi nuốt vội ngụm nước chát đắng. - Lần này xong việc, anh tính xin lão Thạch cho nghỉ mấy ngày, ở nhà sửa lại cái mái bếp và chít lại vách nứa cho ấm. Nhìn thằng An thở thế này, anh đau ruột lắm.
- Vâng... Căn nhà này rách nát quá rồi. Đêm nào gió mùa về, hai mẹ con cũng ôm nhau thức trắng vì lạnh. Thằng An cứ mê sảng suốt, nó bảo nó nghe thấy tiếng cào móng trên mái nhà...
Lệ chưa dứt câu thì một cơn gió lốc bất thần từ trên đỉnh đồi dội xuống. Cả căn nhà gianh rung lên bần bật. Liếp cửa nứa va vào cột nhà kêu "bành bành", bụi tro từ bếp than tàn bay mù mịt khắp gian phòng. Ngọn lửa đèn dầu chao nghiêng, phụt khói đen sì rồi lụi dần, chỉ còn một đốm đỏ le lói bằng hạt đỗ.
Không gian bỗng nhiên chìm vào một sự im lặng kỳ dị. Gió ngoài đồi thông như ngừng bặt trong chốc lát.
"Rúc... cù... cù..."
Âm thanh ma quái vang lên từ cánh rừng thông ngay phía sau vách buồng. Tiếng chim cú rúc. Nó không rúc xa xăm nơi đỉnh núi mà ngay sát sạt trên chạc cây thông cằn cỗi sau nhà.
"Rúc... cù... cù..."
Hồi thứ hai vang lên, đanh gọn và sắc nhọn như mảnh sành cứa vào màng nhĩ. Tiếng kêu kéo dài một cách thê lương, mang theo hơi lạnh buốt giá của rừng thiêng nước độc len qua từng kẽ vách đất, làm da gà tôi nổi rộp lên dọc hai cánh tay. Người vùng cao kiêng nhất tiếng chim cú rúc đêm đông. Cú rúc một hồi là có điềm dữ, rúc ba hồi tức là thần chết đang lượn lờ quanh nóc nhà đòi mạng người.
"Rúc... cù... cù..."
Hồi thứ ba kết thúc bằng một tiếng khạc khàn đục như người già ho lao.
Bát cơm trên tay tôi dừng khựng lại giữa chừng. Lệ sợ hãi nép sát vào lưng tôi, một tay run rẩy túm chặt lấy gấu áo bông của chồng, hơi thở cô ấy dồn dập trong sợ hãi:
- Anh... chim cú... Sao nó lại đậu ngay sau nhà mình mà rúc thế kia?
- Kệ nó. Rừng thông nhiều chim chuột, nó kiếm mồi thôi. - Tôi gằn giọng, cố trấn an vợ nhưng sống lưng tôi lạnh toát.
Mùi xạ hương trên ngón tay tôi bỗng nhiên bốc lên ngùn ngụt, nồng nặc và tanh tưởi gấp mười lần lúc ở bãi xe. Mùi vị ấy quấn lấy không khí trong gian phòng chật hẹp, khiến từng ngụm thở trở nên đặc quánh, nhờn nhợt nơi đầu lưỡi.
Chính lúc ấy, tấm chăn chiên trên giường tre khẽ động đậy.
Thằng An cựa mình. Nó không hề khóc lóc hay ho sặc sụa như mọi bận. Thằng bé chầm chậm ngồi dậy giữa đống chăn rách. Đôi mắt nó mở trừng trừng trong bóng tối lờ nhờ của ngọn đèn dầu sắp tắt. Con ngươi của đứa trẻ năm tuổi không có vẻ gì là ngây thơ ngơ ngác thường ngày, nó đờ đẫn, trũng sâu và ánh lên một tia sáng vàng vọt kỳ quái dưới bóng mờ muội than.
- An... con dậy đấy à? Để mẹ lấy nước cho con uống nhé. - Lệ vội buông áo tôi ra, toan bước tới mép giường.
Thằng bé không trả lời mẹ. Nó ngồi bất động, cổ ngoẹo sang một bên theo một góc gãy gập gượng gạo. Cánh tay khẳng khiu, gầy trơ xương của nó từ từ giơ lên khỏi mép chăn chiên. Những ngón tay nhỏ xíu, xám ngoét chỉ thẳng về phía khe hở của liếp cửa nứa - nơi bóng tối ngoài sân đêm đen đặc như mực đang bao trùm lấy con đường mòn.
Nó không nhìn mẹ, cũng không nhìn bát cơm trên tay tôi. Cặp mắt đục ngầu của nó dán chặt vào khoảng không đen ngòm sau cánh cửa liếp.
Đôi môi nứt nẻ của thằng An mấp máy. Cổ họng nó phát ra những tiếng rít the the, rin rít như tiếng kim loại cọ vào đá mài, một chất giọng khàn đặc, khô khốc khác hẳn tiếng bi bô thường ngày:
- Ba ơi...
Tôi chết trân tại chỗ, bát cơm trên tay run rẩy làm rơi vài hạt gạo nguội xuống đất nện:
- An... con bảo sao?
Thằng bé vẫn giữ nguyên ngón tay chỉ ra khe cửa tối tăm ngoài hiên. Nó nghiêng đầu, khóe miệng từ từ nhếch lên một nụ cười méo mó, lạnh tanh:
- Ba ơi... có bác mặc áo lông vàng đứng nhìn ba ăn cơm.
Lời thì thào của đứa con năm tuổi rơi tõm vào khoảng không gian chết chóc của căn nhà tranh rách nát.
Một luồng gió độc thốc mạnh qua khe liếp, thổi phụt tắt ngọn đèn hoa kỳ. Gian nhà chìm nghỉm vào bóng tối đen kịt, lạnh buốt như dưới đáy mồ. Mùi xạ hương tanh tưởi ập tới, đặc quánh chẹn ngang cuống họng tôi.