Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 2: Ngọn đèn dầu bên khe cửa
Ánh sáng ban mai lọt qua lớp kính mờ đục của khung cửa sổ ban công, xua đi màn đêm u uất đặc quánh trong căn phòng 604. Khối không khí lạnh buốt đè nặng…
Nội dung chương
Ánh sáng ban mai lọt qua lớp kính mờ đục của khung cửa sổ ban công, xua đi màn đêm u uất đặc quánh trong căn phòng 604.
Khối không khí lạnh buốt đè nặng trên lồng ngực tôi suốt nửa đêm qua rút dần từng chút một theo tiếng còi xe inh ỏi vọng lên từ trục đường lớn cách đó hai dãy nhà. Khớp ngón tay cái bên phải của tôi tê dại vì giữ chặt ấn Định Tâm suốt nhiều giờ liền. Tôi thở hắt ra một hơi dài, buông lỏng các đốt ngón tay đã cứng đờ, ngồi dậy trên chiếc nệm mỏng cáu bẩn. Lưng áo phông ướt đẫm mồ hôi lạnh, dính dấp vào da thịt mang lại cảm giác khó chịu đến rợn người.
Chiếc quạt trần ba cánh trên trần nhà đã dừng hẳn. Nó nằm im lìm trong tư thế rỉ sét quen thuộc, như thể những vòng xoay gắt gỏng cùng tiếng rít khô khốc đêm qua chưa từng xảy ra. Dưới chân giường, mặt sàn gạch hoa xám xịt phủ một lớp bụi mịn mờ nhạt, tuyệt nhiên không lưu lại bất cứ vết tích nào của cái bóng cúi gập người sát mặt tôi.
Tôi bước xuống giường, với tay lấy chiếc áo khoác gió mỏng trùm lên người rồi tiến về phía chiếc bàn gỗ tạp kê sát góc tường. Chiếc bọc vải điều vẫn nằm nguyên vẹn tại vị trí cũ. Tôi cẩn thận tháo từng nút thắt, mở lớp vải điều đỏ sẫm để lộ ra bìa da cừu sờn góc của cuốn Huyền Môn Quỷ Lục .
Bề mặt bìa sách lạnh ngắt, chạm vào tay trơn láng một cách kỳ lạ. Tôi cẩn thận lật từng trang giấy dó ngả màu vàng sậm, mùi mực nho cổ xen lẫn hương trầm thảo mộc xông thẳng vào cánh mũi, giúp đầu óc tôi tỉnh táo trở lại đôi chút.
Những nét chữ Hán viết bằng mực chu sa và mực đen đan xen nhau hiện ra dưới ánh sáng sớm. Cuốn sách này không ghi chép bùa chú cầu tài hay phương pháp hàng yêu phục ma hoa mỹ. Phần lớn nội dung bên trong là những ghi chép tỉ mỉ của các đời tổ phụ họ Tô về địa thế, khí mạch, hình thể tà túy cùng những phương pháp tự bảo toàn tính mạng khi lỡ bước vào nơi hung hiểm.
Tôi lật đến chương Uế Sát Quyển, ngón tay dừng lại ở dòng chữ nhỏ ghi chép về dấu hiệu tụ khí của nhà cổ.
Đất dữ chứa uế, khí xám không tan. Ban ngày chìm sâu dưới lòng gạch vữa, đêm xuống bốc lên hóa thành hàn triều. Kẻ cư ngụ lâu ngày thần hồn suy thoái, mắt thấy hình quỷ, tai nghe tiếng rên rỉ, thực chất là uế khí mượn hình mà tác quái.
Phía dưới đoạn chú giải là ba nét chu sa gạch đậm, nhắc lại ba điều răn cấm kỵ của tổ tiên: Không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm.
Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ mực đỏ đã phai nhạt qua nhiều năm tháng. Hiện tượng rợn người đêm qua, từ luồng khí lạnh buốt xương đến chiếc quạt tự quay và bóng hình gập người sát mặt tôi, hoàn toàn trùng khớp với hiện tượng uế sát tích tụ lâu ngày sinh ra dị tượng. Đây là đất có oán khí kết đọng chưa được giải tỏa, người bình thường sống ở đây nhẹ thì đau ốm triền miên, nặng thì tinh thần bấn loạn tự tìm đường chết.
Điều may mắn duy nhất là thứ tồn tại trong phòng 604 đêm qua chưa chạm tới mức độ ác sát thành hình có thể trực tiếp làm tổn thương da thịt con người. Nó chỉ dựa vào uế khí để khuấy động tâm trí, ép người lạ mặt phải tự phát điên vì sợ hãi.
Tôi khép cuốn sách lại, gói kỹ trong lớp vải điều rồi cất sâu vào ngăn đáy của chiếc vali kéo, khóa cẩn thận bằng hai ổ khóa đồng.
Rửa mặt bằng dòng nước máy tanh nồng mùi clo và rỉ sắt, tôi thay chiếc áo thun khô ráo rồi cầm theo chìa khóa phòng bước ra ngoài. Đã bảy giờ sáng, tôi cần ra ngoài ăn chút gì đó lót dạ và tìm hiểu thêm về tòa chung cư kỳ quái này.
Hành lang tầng sáu vào buổi sớm vẫn lạnh lẽo lạ thường. Những cánh cửa sắt rỉ sét của các phòng lân cận đều đóng kín mít, không có lấy một tiếng mở then hay bước chân qua lại. Tôi rảo bước thật nhanh qua căn phòng 603 bị bịt tôn kín mít, tiến thẳng về phía cầu thang bộ thoát hiểm.
Bước xuống sảnh tầng một, ánh nắng vàng nhạt chiếu rọi khắp khoảng sân nhỏ xi măng nứt toác. Sự ngột ngạt u tối trên tầng sáu bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho nhịp sống ồn ã thường nhật của một góc phố cũ. Tiếng còi xe máy gắt gỏng ngoài ngõ, tiếng rao của gánh hàng rong và mùi khói than tổ ong phả ra cay nồng mang lại cảm giác thực tại rõ rệt.
Đầu con ngõ nhỏ dẫn vào khu tập thể có một quán trà chén bình dân dựng tạm dưới gốc cây bàng già. Bên cạnh bàn trà là một quầy hàng bán bún riêu cua bình dân bốc khói nghi ngút.
Tôi bước vào quán, kéo một chiếc ghế nhựa thấp ngồi xuống góc khuất.
Cho cháu một bát bún đầy đủ với một cốc trà nóng ạ, tôi nói với bà cụ bán hàng đang thoăn thoắt chan nước dùng vào bát.
Có ngay đây cậu thanh niên, bà chủ quán ngẩng lên nhìn tôi, nụ cười trên gương mặt nhăn nheo chợt khựng lại khi ánh mắt bà lướt qua quầng thâm nhạt dưới mắt tôi. Mới chuyển tới khu này à cháu? Trông mặt lạ hoắc.
Vâng, cháu là sinh viên, mới dọn vào phòng 604 chiều qua, tôi điềm tĩnh đáp.
Bàn tay đang cầm chiếc muôi múc nước dùng của bà cụ bỗng khẽ run lên một nhịp. Nước canh nóng bắn nhẹ ra mép nồi nhôm, xèo một tiếng khô khốc trên mặt bếp than. Một người đàn ông trung niên mặc áo ba lỗ ngồi uống trà gần đó cũng dừng động tác nhấp ngụm chè đặc, ngước mắt lên nhìn tôi với vẻ mặt đầy ái ngại.
Bà chủ quán đặt bát bún nghi ngút khói cùng một đĩa rau sống xuống trước mặt tôi, hạ giọng hỏi nhỏ:
Phòng 604 ở cuối hành lang tầng sáu ấy hả? Cái phòng bỏ trống cả nửa năm nay?
Đúng rồi bác. Giá thuê ở đó khá rẻ, phù hợp với sinh viên chuẩn bị ra trường như cháu. Tôi cầm đôi đũa tre xé đôi chiếc khăn giấy lau sạch rồi bắt đầu ăn miếng bún đầu tiên. Vị chua thanh của giấm bỗng và vị béo của riêu cua khiến bụng tôi ấm lại phần nào.
Người đàn ông mặc áo ba lỗ quay hẳn người sang phía tôi, lắc đầu chép miệng:
Thanh niên bây giờ liều thật đấy. Chắc thằng cha môi giới tên Bình dắt cậu tới chứ gì? Lão ấy chỉ giỏi lừa mấy đứa từ quê lên không biết chuyện. Cái khu nhà tập thể này xây từ thời bao cấp, kết cấu đã xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống ống nước thì vỡ nát hết. Nhưng cái đó chưa phải tệ nhất đâu.
Tôi dừng đũa, làm ra vẻ ngơ ngác của một người trẻ chưa hiểu sự đời:
Cháu thấy phòng ốc hơi cũ kỹ một chút thôi, chứ không gian khá yên tĩnh. Có vấn đề gì khác nữa sao chú?
Người đàn ông rít một hơi thuốc lào sòng sọc, phả làn khói trắng đục mù mịt lên tán lá bàng rồi ghé sát lại gần:
Yên tĩnh quá mức ấy chứ! Cậu có biết tại sao tầng sáu chỉ có lác đác vài ba người già ở lì không chịu dời đi, còn lại bỏ trống trơn không? Mà quan trọng hơn, cậu có để ý cái trần nhà trên đầu mình không?
Trần nhà sao cơ ạ? Tôi hỏi, giữ cho giọng nói bình thản nhất có thể.
Tầng bảy phía trên phòng cậu đã bị ban quản lý cùng phường xuống khóa chặt, hàn kín cửa sắt bằng năm thanh thép chữ V từ ba năm trước rồi, người đàn ông hạ thấp giọng đến mức chỉ đủ cho ba người chúng tôi nghe thấy. Họ dùng xích sắt to bằng ngón chân cái quấn ba vòng quanh then cài, rồi hàn chết mép cửa lại. Tuyệt đối không cho ai bước chân lên đó nữa.
Bà chủ quán bún riêu cũng chêm vào, giọng run run:
Hồi đó chuyện ầm ĩ cả một góc phố. Người ta đồn ầm lên là trên tầng bảy xảy ra chuyện chẳng lành, có người chết treo lơ lửng trong căn phòng phía trên phòng 604 của cháu đấy. Mùi hôi thối bốc ra cả tuần lễ người ta mới phá cửa vào được. Lúc đưa ra thì xác đã khô quắt lại trên xà nhà rồi. Sau vụ đó, cả dãy tầng bảy liên tục xảy ra chuyện kỳ lạ, người thuê chạy tán loạn trong đêm. Ban quản lý chịu không nổi đành phải niêm phong toàn bộ tầng trên cùng.
Tôi húp một ngụm nước dùng nóng, cố nén cảm giác lạnh buốt vừa trườn lên dọc sống lưng.
Tầng bảy bị hàn kín cửa sắt từ ba năm trước. Điều đó có nghĩa là căn phòng nằm ngay trên đỉnh đầu tôi đêm qua hoàn toàn là một khoảng không gian chết, không có người ở, không có đường ra vào cho bất kỳ ai.
Thế sau khi hàn cửa thì sao ạ? Mọi chuyện đã ổn thỏa chưa bác? Tôi hỏi tiếp, cố tình để lộ chút bất an của một kẻ trót thuê nhầm chỗ xấu.
Người đàn ông áo ba lỗ cười nhạt một tiếng, gõ gõ tẩu thuốc lào xuống mặt bàn gỗ:
Ổn cái gì mà ổn! Mấy người sống ở tầng sáu chuyển đi gần hết cũng vì chuyện đó. Cứ tầm nửa đêm về sáng, người ta lại bảo nhau nghe thấy tiếng động lục đục trên tầng bảy vọng xuống. Nhưng cửa sắt bên ngoài hàn chết queo, rêu phong bám đầy, ổ khóa rỉ sét không hề có vết cạy mở. Cậu mới ở một đêm chắc chưa thấm đâu. Nếu còn tiền cọc thì ráng chịu mất một ít mà dọn đi sớm đi cháu ạ. Chỗ đó người sống ở không nổi đâu.
Tôi cảm ơn hai người họ, im lặng ăn cho hết bát bún rồi uống cạn cốc trà nóng đã nguội bớt. Trả tiền xong, tôi rời khỏi quán nước, đi dạo một vòng quanh các con ngõ lân cận để mua sắm vài vật dụng cá nhân thiết yếu cho buổi tối: một túi gạo nếp nhỏ, một cuộn chỉ ngũ sắc và vài ngọn nến trắng không mùi.
Lời kể của hai người dân ở quán trà đã xác nhận mối nghi ngờ của tôi. Tầng bảy không đơn thuần là bị bỏ hoang, mà đã trở thành một nơi cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Nơi bị phong tỏa càng lâu, uế khí và oán niệm tích tụ càng dày đặc, không có ánh mặt trời xua tan thì sẽ biến thành một cái đầm lầy âm khí khổng lồ ngay trên đầu tôi.
Chiều tà buông xuống nhanh chóng. Bầu trời thành phố bị bao phủ bởi tầng mây xám xịt báo hiệu một đợt gió mùa đông bắc tràn về.
Tôi trở về phòng 604 khi ánh hoàng hôn cuối cùng tắt hẳn. Cầu thang bộ tối om vì bóng đèn compact ở chiếu nghỉ tầng năm đã cháy từ lâu. Tôi bước đi từng bước cẩn trọng, tiếng đế giày vải cọ xát trên mặt bậc thang xi măng vang lên lộp cộp giữa không gian tĩnh mịch.
Khi đi ngang qua hành lang tầng sáu, tôi liếc nhìn lên phía cầu thang dẫn lên tầng bảy. Ở khúc ngoặt chiếu nghỉ bên trên, một cánh cửa sắt nặng nề màu xanh rỉ sét hiện ra dưới ánh đèn pin điện thoại. Đúng như người đàn ông ban sáng miêu tả, năm thanh thép chữ V được hàn chéo qua khung cửa, mối hàn đã ố vàng vì thời gian. Giữa hai cánh cửa là một sợi xích sắt to bản quấn chằng chịt, khóa lại bằng chiếc ổ khóa treo bằng đồng đen kịt vì bụi bặm. Trên khung cửa, người ta còn dán một dải giấy niêm phong màu đỏ đã mục nát, rách tơi tả theo gió.
Một mùi ẩm mốc xen lẫn mùi gỗ mục nồng nặc phả ra từ các khe hở của cánh cửa sắt hàn kín.
Tôi quay trở lại phòng 604, cài then sắt cẩn thận. Tôi lấy một nắm gạo nếp rải thành một đường chỉ mảnh ngang ngưỡng cửa ra vào, sau đó đặt chiếc xâu tiền ngũ đế của ông nội dưới chân mép cửa bên trong. Đây là thuật Khu Uế Cố Trạch căn bản nhất, giúp ngăn không cho tà khí từ hành lang tràn vào trong khi tôi ngủ.
Làm xong mọi việc, tôi ngồi vào bàn học, bật ngọn đèn bàn nhỏ chạy pin rồi lấy sách vở bài tập ra đọc để giết thời gian.
Mười một giờ đêm, tiếng xe cộ ngoài phố lớn thưa thớt dần rồi tắt hẳn. Thành phố chìm vào giấc ngủ muộn.
Tôi tắt đèn bàn, leo lên giường nằm ngay ngắn, kéo tấm chăn mỏng lên ngang ngực. Đêm nay không khí trong phòng thậm chí còn lạnh hơn đêm trước, cái lạnh không xuất phát từ gió trời mà ngấm dần từ bốn bức tường vôi nứt nẻ và trần nhà xi măng thô ráp.
Tôi nhắm mắt lại, duy trì nhịp thở đều đặn, hai bàn tay buông lỏng tự nhiên, trong lòng bắt đầu thầm niệm khẩu quyết Thanh Tâm Ninh Thần được ghi chép ở trang đầu cuốn Huyền Môn Quỷ Lục:
Tâm nhược băng thanh, thiên sáp bất kinh. Vạn biến do tâm, định tĩnh vi chủ...
Thời gian trôi qua chầm chậm giữa sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Đúng mười hai giờ đêm, một âm thanh lạ bắt đầu xuất hiện.
Âm thanh đó không phát ra từ hành lang ngoài cửa, cũng không phải từ khung cửa sổ ban công.
Nó vang lên ngay trên bề mặt tấm trần bê tông cách đỉnh đầu tôi chừng hai mét rưỡi.
Lẹt... xẹt...
Lẹt... xẹt...
Đó là tiếng ma sát của da thịt trần trụi tiếp xúc với nền xi măng thô nhám. Tiếng bước chân của một người không mang giày dép, đang kéo lê bàn chân từng bước một cách nặng nề.
Mỗi bước đi đều kèm theo một tiếng thở hắt ra nghẹn ứ, như thể người đó đang phải mang vác một vật nặng khủng khiếp trên vai. Bàn chân trần kéo lê từ phía góc phòng đối diện, di chuyển chầm chậm theo đường chéo hướng về phía vị trí chiếc giường sắt của tôi.
Tôi nằm bất động, ngón tay cái bên phải vô thức bấm nhẹ vào đốt thứ hai ngón trỏ, giữ chặt tâm trí không để giao động. Khẩu quyết Thanh Tâm vẫn tiếp tục xoay vần trong suy nghĩ.
Ngay sau tiếng bước chân lê lết, một âm thanh khác lại tiếp tục vang lên chói tai.
Két... rít...
Tiếng chân của một món đồ gỗ rất nặng bị kéo lê trên sàn nhà. Âm thanh gỗ ma sát vào nền cát sỏi vụn phát ra những tiếng rít ken két rợn tóc gáy, khiến màng nhĩ tôi căng buốt. Đồ vật đó hình như là một chiếc tủ lớn hoặc một chiếc bàn thờ nặng hàng trăm cân, đang bị một sức mạnh thô bạo kéo giật từng đoạn một.
Rầm!
Một cú giáng mạnh như thể có ai đó vừa thả rơi một thanh xà gỗ xuống sàn tầng trên. Cả trần nhà phòng 604 khẽ rung chuyển, những hạt bụi vôi trắng li ti từ các vết nứt trên trần rơi lả tả xuống mặt chăn bông của tôi.
Tiếng kéo lê đồ vật lại tiếp tục vang lên, lần này dồn dập hơn.
Két... két... rít...
Tiếng bước chân trần cũng dồn dập theo, lẹt xẹt, lẹt xẹt chạy vòng quanh một khoảng không gian cố định ngay phía trên trần nhà. Nó di chuyển theo hình tròn, càng lúc càng thu hẹp bán kính lại, như thể đang vây quanh một tâm điểm vô hình.
Và tâm điểm đó, chuẩn xác từng tấc một, chính là vị trí tôi đang nằm.
Hơi lạnh từ trần nhà tỏa xuống buốt giá như có một tảng băng khổng lồ đang áp sát đỉnh đầu. Mùi dầu hỏa khét lẹt cùng mùi tanh nồng của rỉ sắt đêm qua lại ùa về, lấp kín từng ngóc ngách của căn phòng chật hẹp.
Bản năng con người luôn thôi thúc kẻ nằm dưới phải mở mắt ra, ngước nhìn lên phía phát ra âm thanh để xác nhận xem thứ gì đang đe dọa mình.
Nhưng lời dặn khắc cốt ghi tâm của ông nội trong những ngày tôi còn nhỏ lập tức vang lên bên tai:
Trạch hung kỵ vọng đỉnh. Đêm nằm đất dữ, nếu nghe thấy tiếng động nghịch thường trên đầu, tuyệt đối không được mở mắt, không được ngoái đầu nhìn thẳng lên xà nhà hay trần nhà. Mắt âm dương một khi nhìn thấy hình hài uế khí đang tích tụ, tức là đã tiếp nhận đường dẫn âm dương, thứ ở trên sẽ mượn ánh nhìn đó mà giáng thẳng xuống người.
Tôi cắn chặt môi dưới, ép hai mi mắt dính chặt vào nhau, không để lộ ra dù chỉ một khe hở nhỏ. Ngực tôi phập phồng theo từng nhịp thở sâu, cố gắng duy trì sự bình thản tối đa. Xâu tiền ngũ đế dưới chân cửa vẫn đang phát huy tác dụng, ngăn chặn tà khí từ bên ngoài xâm lấn, nhưng những gì đang diễn ra ngay trên đỉnh đầu này lại thuộc về một quy luật hoàn toàn khác.
Đột nhiên, toàn bộ tiếng kéo lê đồ gỗ nặng nề im bặt.
Tiếng bước chân trần lẹt xẹt cũng biến mất.
Căn phòng chìm vào một sự tĩnh lặng đến ngạt thở. Không có tiếng gió rít, không có tiếng côn trùng, tiếng mưa đêm qua cũng không còn.
Cộp.
Một tiếng dộng nhẹ, khô khốc vang lên ngay trên tấm trần bê tông, thẳng tắp với vị trí trán của tôi.
Tiếp theo đó là tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng, phả ra từng luồng khí lạnh cách lớp bê tông ngăn cách chỉ vài chục phân. Có thứ gì ở tầng bảy vừa dừng lại ngay phía trên đỉnh đầu tôi, bất động, và đang cúi xuống nhìn xuyên qua lớp trần nhà.