Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 4: Ba điều răn của tổ tông
Ánh sáng ban mai lọt qua khe hở của tấm rèm cửa sổ bằng vải thô mang theo sắc xám nhờ nhờ, không đủ xua tan cái lạnh ẩm ướt đã ngấm vào từng thớ gỗ trong…
Nội dung chương
Ánh sáng ban mai lọt qua khe hở của tấm rèm cửa sổ bằng vải thô mang theo sắc xám nhờ nhờ, không đủ xua tan cái lạnh ẩm ướt đã ngấm vào từng thớ gỗ trong phòng 604.
Tôi mở mắt khi chuông điện thoại rung lên từng hồi đều đặn trên mặt bàn gỗ. Suốt cả đêm qua, tôi gần như không ngủ một giấc trọn vẹn. Mỗi lần chìm vào cơn mơ màng, tiếng bước chân trần kéo lê lẹt xẹt và âm thanh cọ xát ken két của đồ vật nặng nề trên trần nhà lại vọng về trong tiềm thức, sắc nhọn như mũi khoan ép chặt vào màng nhĩ. Đến khoảng bốn giờ sáng, chuỗi âm thanh quái dị ở tầng bảy mới ngừng hẳn, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch nặng trĩu của một khu nhà tập thể cũ kỹ đang mục ruỗng giữa lòng đô thị.
Tôi ngồi dậy, vươn tay tắt báo thức, xoa hai thái dương đang giật lên từng cơn đau nhức. Hơi thở phả ra trong căn phòng mang theo làn sương mỏng tang. Nhiệt độ ở căn phòng cuối hành lang này luôn thấp hơn bên ngoài chừng bốn đến năm độ, một sự chênh lệch rõ rệt đủ khiến cho da thịt người sống phải rợn lên từng đợt gai ốc.
Sau khi rửa mặt bằng dòng nước máy lạnh ngắt chảy ra từ chiếc vòi rỉ sét, tôi mặc áo khoác mỏng, chuẩn bị xuống dưới phố ăn một bát phở nóng trước khi đến giảng đường đại học cho buổi thảo luận chuyên đề buổi sáng. Cuộc sống của một sinh viên năm cuối vẫn phải tiếp diễn, bất chấp việc ban đêm tôi đang phải chia sẻ không gian sống với những thứ không thuộc về dương gian.
Tôi kiểm tra lại xâu tiền ngũ đế treo ngay ngắn phía sau chốt cửa gỗ. Năm đồng tiền đồng ánh lên sắc xanh cổ kính dưới ánh sáng mờ nhạt, dây chỉ đỏ xâu qua tâm tiền vẫn giữ nguyên độ căng, không có dấu hiệu bị đứt hay sờn rách. Ít nhất thì phong ấn phòng vệ căn bản này vẫn chưa bị xâm phạm trực tiếp từ bên ngoài.
Tôi vặn tay nắm, kéo cánh cửa phòng 604 vào phía trong.
Cửa vừa mở ra một khoảng chừng nửa thước, luồng gió lạnh từ hành lang lùa vào lập tức mang theo một mùi hôi nồng nặc. Đó là thứ mùi hăng hắc của tàn hương trầm cháy dở trộn lẫn với mùi tanh nồng của bùn đất ứ đọng lâu ngày dưới cống rãnh.
Bước chân tôi dừng khựng lại ngay trên ngưỡng cửa.
Ngay tại ranh giới phân chia giữa nền gạch hoa cũ trong phòng và nền xi măng xám xịt của hành lang, có một vật thể lạ đang nằm án ngữ.
Đó là một chiếc bát sành màu nâu da lươn, loại bát thô vụng thường thấy ở các vùng quê dùng để đựng nước chấm hoặc đồ cúng lễ ngoài trời. Miệng bát có vài vết mẻ nham nhở, để lộ ra phần xương gốm màu xám đục bên trong.
Chiếc bát được đặt ngay ngắn chính giữa lối đi, cách mép cửa gỗ chưa đầy năm phân.
Bên trong lòng bát nén chặt một lớp gạo sống trắng đục. Mặt gạo được gạt phẳng phiu, nhưng trên lớp gạo trắng ấy lại vương vãi những vụn than đen sì. Cắm ngập sâu vào chính giữa bát gạo là ba que chân nhang màu đỏ.
Cả ba que nhang đều đã bị ai đó dùng tay bẻ gãy phần đầu, chỉ để lại đoạn chân nhang cụt ngủn dài chừng hai đốt ngón tay cắm thẳng đứng, chĩa thẳng ba đầu gãy xơ xác lên phía trên. Xung quanh gốc chân nhang, gạo sống ngả sang một màu vàng nhạt khác thường, giống như bị thấm đẫm một lớp mỡ động vật đã ôi thiu.
Đồng tử mắt tôi co rút lại. Mắt âm dương ở bên trái khẽ giật giật, một luồng khí lạnh mảnh như sợi chỉ vô hình từ bát sành bốc lên, lượn lờ trước mặt tôi rồi tản ra xung quanh.
Gạo sống cắm chân nhang gãy đặt trước cửa nhà là một hung tượng cực nặng trong huyền môn.
Trong phong tục tang ma và tế tự dân gian, gạo là biểu tượng của sự sống, mang tính dương dùng để nuôi dưỡng con người. Nhưng khi gạo sống bị nén chặt vào bát sành kết hợp với tàn tro và chân nhang gãy, nó lập tức biến thành vật tụ âm dẫn đạo. Chân nhang gãy mang ý nghĩa đoạn tuyệt dương thọ, cắt đứt sinh lộ , còn gạo sống tẩm tàn tro chính là thứ mồi câu linh hồn lang thang tìm về cửa.
Kẻ nào bước qua bát gạo này mà vô tình đá phải hoặc bước hụt chân qua nó, dương khí nơi hai lòng bàn chân sẽ bị hút cạn trong chốc lát, tạo ra một vết nứt trong hồn phách để tà vật bám vào.
Nhưng điều khiến cho máu trong người tôi đông cứng lại không chỉ có bát gạo sành.
Ánh mắt tôi dời từ chiếc bát xuống tấm thảm chùi chân đặt ngay trước ngưỡng cửa. Tấm thảm bằng sợi dừa thô ráp màu nâu đã cũ mèm, bình thường chỉ bám một ít bụi cát khô.
Hiện tại, trên mặt thảm in hằn một dấu chân người lớn màu xám đen, rõ ràng đến từng đường nét. Dấu chân ấy được tạo thành từ lớp bụi bẩn và tàn tro vàng mã đêm qua, dẫm sâu xuống từng sợi xơ dừa.
Hình dáng bàn chân hoàn toàn bình thường, kích thước tương đương với chân của một người đàn ông trưởng thành.
Thế nhưng, hướng quay của dấu chân lại nghịch lý nghịch lý đến rợn cả gáy.
Gót chân in lún rất sâu ở mép ngoài của tấm thảm, quay ngược vào phía trong phòng 604, hướng thẳng về phía chiếc giường sắt nơi tôi nằm ngủ đêm qua.
Trong khi đó, phần ức bàn chân và năm ngón chân lại bấu chặt xuống mặt thảm, chĩa thẳng mũi chân ra ngoài hành lang tối tăm.
Một dấu chân người đi ngược.
Không có ai bước đi bình thường mà lại tạo ra một vết tích như vậy trước ngưỡng cửa. Chỉ có hai khả năng: hoặc kẻ đó đã đi lùi từng bước một từ hành lang tiến sát vào cửa phòng tôi trong bóng tối. Hoặc thứ để lại dấu vết này có cấu tạo cơ thể vặn ngược một trăm tám mươi độ, mặt quay về phía trước nhưng bàn chân lại bẻ quặt ra phía sau.
Nhìn dấu chân lún sâu trên lớp sợi dừa, tôi có thể hình dung ra cảnh tượng lúc rạng sáng. Một bóng đen câm lặng đứng áp sát vào khe cửa gỗ, hai bàn chân vặn ngược cắm chặt xuống đất, cúi gập người đặt chiếc bát gạo sành xuống ngay trước mặt, rồi cắm ba que nhang gãy vào lòng bát.
Hơi lạnh từ nền đất bốc lên qua đế giày khiến lòng bàn chân tôi buốt giá.
Một người bình thường khi bước ra khỏi cửa vào buổi sáng sớm, trong trạng thái ngái ngủ, rất dễ dàng vô thức dẫm trúng hoặc đá văng chiếc bát sành này. Nếu tôi bước chân ra ngoài mà không nhìn xuống dưới, bàn chân tôi chắc chắn sẽ đạp thẳng lên dấu chân tro đen kia, đồng thời mũi giày sẽ hất tung bát gạo cúng quái dị.
Một cái bẫy được tính toán vô cùng hiểm độc.
Tôi đứng yên tại chỗ, lấy lại bình tĩnh để định hình lại tâm thức. Lời dặn dò của ông nội trong những năm tháng theo ông học đạo lại vang vọng trong ký ức tôi:
Gặp vật dẫn âm án ngữ trước ngưỡng môn, tuyệt đối không được hoảng loạn la hét, không được dùng chân đá đổ, càng không được dùng da thịt trần trụi chạm vào vật phẩm. Kẻ bày trận dùng oán khí làm bẫy, chỉ cần ngươi động thủ bằng tay trần, mồ hôi và hơi ấm của người sống sẽ chuyển giao quyền sở hữu đồ vật, biến cái bẫy của người khác thành tai ương của chính mình.
Tôi lùi lại một bước, quay người đi vào góc phòng, nhặt lấy vài tờ báo cũ của tuần trước để trên bàn học.
Tôi gấp đôi tờ báo lại tạo thành một mặt phẳng cứng cáp, rồi xé thêm hai mảnh giấy báo khác quấn chặt quanh bàn tay phải như một lớp găng tay bảo hộ tạm thời. Sau đó, tôi mở ngăn kéo bàn, lấy ra một chiếc túi ni lông màu đen dày dặn, loại túi đựng rác kín gió.
Cầm những thứ đó trên tay, tôi bước chậm rãi trở lại mép cửa.
Hành lang tầng sáu lúc này vẫn vắng ngắt như một hầm mộ. Cánh cửa phòng 602 cách đó vài mét vẫn đóng im ỉm, không một tiếng động. Trên vách tường rêu mốc, những vệt tàn tro đen sì đêm qua bị gió cuốn vẫn còn bám lại lấm lem, kéo dài từ chiếu nghỉ cầu thang bộ đến tận chân tường phòng tôi.
Tôi quỳ một chân xuống nền gạch bên trong phòng, giữ khoảng cách an toàn với dấu chân ngược trên tấm thảm. Bàn tay bọc giấy báo cẩn thận luồn mép tờ báo cứng xuống đáy chiếc bát sành.
Xoẹt...
Tiếng đáy bát sành cọ xát vào nền xi măng thô ráp phát ra âm thanh khô khốc.
Ngay khi mép giấy báo chạm vào thân bát, một luồng hàn khí buốt nhói truyền thẳng qua lớp giấy, khiến các đầu ngón tay tôi tê dại đi trong chốc lát. Tôi cắn chặt răng, vận một luồng khí tức từ đan điền dồn lên cánh tay để chống lại cái lạnh âm tà đang xâm lấn, dứt khoát dùng tờ báo xúc trọn chiếc bát sành lên khỏi mặt đất.
Lớp gạo sống bên trong hơi rung rinh, nhưng ba que chân nhang gãy vẫn cắm thẳng tắp, không hề lay động dù chỉ một li. Mùi mỡ thiu nồng nặc xộc thẳng vào cánh mũi khiến dạ dày tôi quặn thắt lại từng cơn buồn nôn.
Tôi nhanh chóng nghiêng tờ báo, trút trọn vẹn chiếc bát sành cùng toàn bộ gạo sống và chân nhang vào trong chiếc túi ni lông màu đen đã mở sẵn dưới sàn.
Không để rơi rớt một hạt gạo nào ra ngoài.
Sau khi chiếc bát nằm trọn trong túi, tôi túm chặt miệng túi lại, thắt nút ba vòng liên tiếp thật chặt, ngăn chặn hoàn toàn luồng âm khí thoát ra không gian xung quanh. Toàn bộ động tác diễn ra dứt khoát, chuẩn xác theo đúng quy tắc thu dọn hung khí mà ông nội từng chỉ dạy.
Còn lại dấu chân ngược trên tấm thảm chùi chân.
Tôi không vội vứt bỏ tấm thảm. Tôi đứng dậy, đi vào góc bếp nhỏ lấy chai cồn y tế bảy mươi độ và một bao diêm.
Cồn y tế mang tính hỏa nhiệt, có tác dụng tẩy uế vết tích tà khí ở mức độ cơ bản. Tôi mở nắp chai cồn, rưới đều chất lỏng trong suốt lên toàn bộ bề mặt dấu chân bằng tro đen trên tấm thảm dừa. Mùi cồn bốc lên nồng nặc, lấn át đi mùi hương trầm quái dị còn vương lại ngoài hành lang.
Tôi quẹt một que diêm, thả ngọn lửa nhỏ xuống mặt thảm.
Phụt!
Một ngọn lửa màu xanh lam bùng lên tức thì trên bề mặt lớp xơ dừa ngấm cồn. Ngọn lửa liếm láp qua từng vệt tro đen, thiêu rụi dấu chân quái dị trong chớp mắt. Trong làn lửa xanh le lói, một làn khói trắng mỏng bốc lên kèm theo tiếng nổ lách tách rất nhỏ, như thể có vô số bọt khí li ti đang bị nhiệt độ thiêu cháy.
Khi ngọn lửa tắt ngấm, dấu chân tro đen đã biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại một mảng cháy xém hình bầu dục trên nền thảm xơ dừa cũ kỹ.
Tôi thở phào ra một hơi dài, thu dọn các mẩu giấy báo bọc tay thả vào một chiếc túi rác khác.
Tôi cầm túi ni lông đen đựng bát sành gạo sống bước nhanh ra ngoài hành lang, hướng thẳng về phía cầu thang bộ. Bước chân tôi cố tình giẫm mạnh xuống sàn xi măng, phát ra những tiếng vang đanh gọn giữa không gian tĩnh mịch.
Khi đi ngang qua cửa phòng 602, tôi liếc mắt nhìn sang.
Cánh cửa gỗ mục nát của phòng bà lão vẫn đóng chặt chẽ, nhưng ở khe cửa phía dưới sát mặt đất, tôi nhìn thấy một dải bóng đen đang khẽ rung rinh.
Có người đang đứng ngay sau cánh cửa, áp sát mặt vào khe hở để theo dõi từng cử động của tôi ở bên ngoài.
Tôi không dừng bước, cũng không quay đầu lại nhìn. Tôi tiếp tục sải bước xuống cầu thang, mang chiếc túi đen chứa bát sành xuống khu vực chứa rác thải tập trung ở góc sân sau của khu chung cư. Tại đây, rác thải sinh hoạt của hàng trăm hộ dân xung quanh đổ về tạo nên một luồng trọc khí hỗn tạp của đời thường. Thứ trọc khí này tuy hôi hám bẩn thỉu nhưng lại mang dương khí của số đông người sống, đủ sức phong tỏa và làm tiêu tán dần âm khí bám trên bát sành trước khi xe rác thành phố đến vận chuyển đi vào buổi chiều.
Xử lý xong bát gạo, tôi quay trở lại phòng 604, cẩn thận khóa chặt cửa lại từ bên trong.
Cơn đói cồn cào trong bụng đã biến mất hoàn toàn sau chuỗi sự việc vừa rồi. Tôi ngồi xuống mép giường, kéo chiếc ba lô du lịch dưới gầm giường ra ngoài, lấy cuốn sách cổ bọc vải lam của tổ tiên đặt lên mặt bàn gỗ.
Bìa sách làm bằng da dê thuộc thủ công, màu vàng sậm đã ngả sang màu nâu đen vì dấu vết thời gian. Bốn chữ Hán Huyền Môn Quỷ Lục màu chu sa vẫn còn sắc nét, toát lên một vẻ trang nghiêm, cổ kính.
Tôi lật nhẹ từng trang giấy dó mỏng manh nhưng dẻo dai phi thường. Những nét chữ viết tay bằng mực tàu mực son xen kẽ hiện ra trước mắt: ghi chép về các loại bùa chú, pháp khí, phương vị trạch cát, cùng vô số những câu chuyện về các loại dị tượng, tà thuật lưu truyền trong chốn nhân gian.
Tôi lật đến chương thứ tư của phần Tà Thuật Biến Dị , ngón tay dừng lại ở một trang giấy có vẽ hình một chiếc bát úp ngược và ba vệt gạch chéo tượng trưng cho nhang gãy.
Bên cạnh hình vẽ là những dòng chữ Hán chân phương ghi rõ: Thế Thân Dẫn Lộ Thuật .
Tôi chăm chú đọc từng hàng chữ giải nghĩa bên dưới:
Kẻ mắc trọng tội nơi u minh, hoặc kẻ mang trên mình món nợ âm quá hạn bị quỷ sai tầm nã, ắt thân thể suy kiệt, hồn phách phân rã từng ngày. Để trốn tránh kiếp nạn diệt vong, những kẻ tà tâm thường dùng đến thuật Thế Thân Dẫn Lộ.
Cách thức thi triển: Dùng gạo sống hút oán khí của bản thân, bẻ gãy ba que nhang tạ tội cắm vào tâm gạo, đặt trước ngưỡng cửa nhà người khác vào giờ Tý hoặc giờ Sửu. Lại dùng tàn tro vẽ đường dẫn lối, in dấu chân nghịch hành hướng vào nội thất trạch phòng.
Dấu chân nghịch hành tức là thế đi lùi của người chết. Kẻ sống trong phòng nếu sơ ý dẫm phải dấu chân nghịch hoặc chạm tay trần vào bát gạo thế mạng, tức là đã vô tình tiếp nhận khế ước vô hình, tự nguyện đứng ra gánh thay món nợ âm cho kẻ bày trận. Khi âm sai hoặc tà vật tìm đến đòi nợ, chúng sẽ theo dấu vết gạo và chân nhang mà tìm thẳng đến kẻ đã nhận vật phẩm, đoạt mệnh người gánh thay."
Đọc đến đây, ngón tay tôi khẽ siết chặt lấy mép trang sách.
Từng chữ, từng câu trong cuốn Quỷ Lục đều trùng khớp một cách hoàn hảo với những gì vừa xuất hiện trước cửa phòng tôi sáng nay.
Bà lão phòng 602 đêm qua đốt vàng mã không khói ở chiếu nghỉ cầu thang, dẫn dụ đàn tro đen trườn đến trước cửa phòng tôi, hoàn toàn không phải là một hành động mê tín cúng bái thông thường của một người già lẩm cẩm.
Bà ta đang muốn tôi chết thay.
Hoặc nói đúng hơn, có một món nợ âm vô cùng khủng khiếp đang treo lơ lửng trên đầu ai đó ở tầng sáu này, và thời hạn thanh toán đã đến rất gần. Kẻ đó cần một kẻ thế mạng, một sinh linh mang dương khí đầy đủ để ném ra làm mồi nhử cho thứ kinh hoàng đang chuẩn bị tìm đến đòi nợ.
Tôi là một sinh viên mới chuyển đến căn phòng 604 bị bỏ hoang nhiều năm, sống cô độc một mình, không người thân thích quanh khu vực này. Trong mắt kẻ bày trận, tôi chính là vật tế thần hoàn hảo nhất: chết đi một cách bất đắc kỳ tử giữa một căn phòng vốn đã mang tiếng có ma, sẽ chẳng có ai nghi ngờ hay đào sâu tìm hiểu nguyên nhân thực sự.
Không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm.
Ba điều răn nghiêm ngặt của tổ họ Tô khắc trên trang đầu cuốn sách một lần nữa đập vào mắt tôi.
Điều răn thứ hai ghi rõ: không phá sát.
Nghĩa là gặp hung sát của người khác thì không được tự tiện nhúng tay hóa giải, không được can thiệp vào nhân quả báo ứng của thế gian. Món nợ âm của kẻ khác là do chính kẻ đó gây ra, nghiệp chướng của họ phải do chính linh hồn họ gánh chịu.
Nếu sáng nay tôi nổi lòng sân hận, cầm bát gạo đó sang đập vỡ trước cửa phòng 602 để trả đòn, tôi đã vi phạm điều răn phá sát, tự kéo mình lún sâu hơn vào vòng xoáy oán thù của giới huyền môn ngầm.
Tôi chọn cách âm thầm thu dọn, dùng cồn thiêu hủy dấu chân ngược, vứt bát sành vào nơi chứa rác để phân tán âm khí. Đó là cách duy nhất để tự bảo vệ mình mà không làm kinh động đến trật tự nhân quả đang vận hành quanh khu nhà này.
Thế nhưng, kẻ chủ mưu liệu có chịu dừng lại ở đây?
Một khi cái bẫy thứ nhất thất bại, kẻ đang đứng bên bờ vực bị âm giới đòi mạng chắc chắn sẽ phát điên. Cơn tuyệt vọng của một kẻ sắp chết sẽ thúc đẩy chúng làm ra những hành vi điên cuồng và tàn độc hơn gấp bội.
Tôi khép cuốn sách cổ lại, cẩn thận bọc vải lam bọc kín rồi cất sâu vào đáy ba lô.
Ngẩng đầu nhìn lên trần nhà xám xịt chằng chịt những vết nứt hình mạng nhện, tôi lại nhớ đến tiếng bước chân trần kéo lê lẹt xẹt và tiếng tủ gỗ bị giật từng đoạn một đêm qua ở tầng bảy.
Tiếng động trên đỉnh đầu và bát gạo trước cửa phòng liệu có mối liên kết ngầm nào với nhau hay không?
Căn chung cư cũ này nhìn bề ngoài chỉ là một khối bê tông rệu rã đang chờ ngày giải tỏa giữa lòng thành phố nhộn nhịp. Nhưng bên dưới lớp vỏ bọc bình lặng của đời sống thị dân nghèo nàn, những bánh răng tà dị của giới huyền môn ngầm hình như đang bắt đầu chuyển động, từng nấc một siết chặt quanh căn phòng 604.
Bên ngoài cửa sổ, trời bắt đầu đổ cơn mưa rào đầu mùa. Những hạt mưa nặng hạt quất rầm rầm vào tấm kính ố vàng, phủ lên toàn bộ khu chung cư một màn nước mờ mịt, xám ngắt.