Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 7: Mùi ẩm mốc ở hành lang
Hơi ẩm mốc bốc lên từ bậc thang dẫn từ tầng hầm kỹ thuật lên tầng sáu quẩn quanh trong cuống họng tôi suốt dọc đường đi. Tiếng then sắt rỉ sét va đập vào…
Nội dung chương
Hơi ẩm mốc bốc lên từ bậc thang dẫn từ tầng hầm kỹ thuật lên tầng sáu quẩn quanh trong cuống họng tôi suốt dọc đường đi. Tiếng then sắt rỉ sét va đập vào khung cửa ngoài hành lang theo từng cơn gió giật tạo ra âm thanh ken két, chói gắt buốt óc. Những lời cảnh báo của người thợ bảo trì dưới căn hầm tối tăm vẫn còn văng vẳng bên tai: hạn ba mươi năm của trận pháp đã đến hạn, và người thuê phòng trước tôi đã phát điên nửa năm trước sau những đêm gào thét tìm vạt áo ướt.
Tôi đẩy cánh cửa gỗ phòng 604. Ổ khóa cơ cũ phát ra tiếng cạch khô khốc.
Bên trong phòng tối om. Luồng khí tù túng, nặng nề phả thẳng vào mặt, mang theo mùi thạch cao ướt nước và mùi vôi vữa lâu ngày không đón ánh mặt trời. Tôi với tay bật công tắc đèn. Bóng đèn tròn công suất thấp treo lơ lửng giữa trần khẽ nhấp nháy vài nhịp trước khi tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, ảm đạm. Trên tường, vệt nước rỉ từ góc hộp kỹ thuật chạy dài xuống chân tường vẫn ươn ướt, đọng lại thành một lớp màng nhờn nhớt sẫm màu.
Không thể để nguyên hiện trạng này thêm một đêm nào nữa. Trục nước thông hơi phía sau bức tường này chính là nơi tích tụ uế khí của cả toà nhà mười tầng xây đè lên hầm hài cốt. Dù tuân thủ lời thề tổ tiên không được tự tiện phá giải sát cục của người khác lập ra, nhưng việc ba trí trận pháp phòng ngự tự bảo vệ bản thân thì gia quy Huyền Môn Quỷ Lục không hề cấm cản.
Tôi đặt chiếc balo vải ba xuống sàn gạch, ngồi xổm xuống lấy ra mấy món đồ vừa gom góp được. Một xấp giấy bùa vàng sẫm làm từ vỏ cây dâu tằm, thỏi mực chu sa mài sẵn ngâm nước mưa đầu mùa, bảy đồng tiền đồng Càn Long đã hoen gỉ mép viền, cùng một chiếc la bàn phong thủy bằng gỗ đào mặt gương nhỏ bằng bàn tay. Kế hoạch của tôi rất rõ ràng: dọn sạch góc tường ẩm mốc sau lưng tủ quần áo, dùng bột chu sa hòa giấm gạo vẽ một đường chỉ ranh giới ngăn cách khí hàn thủy. Sau đó tôi đặt bảy đồng tiền đồng theo thế Thất Tinh Trấn Huyệt để tạm thời ép uế khí rút ngược vào trong ống bê tông lõi thép.
Muốn tiếp cận chân tường, tôi bắt buộc phải dời chiếc tủ quần áo bằng gỗ ép công nghiệp ra chỗ khác. Chiếc tủ này do chủ nhà để lại từ trước, cao gần chạm trần, hai cánh cửa lệch bản lề phát ra tiếng cọt kẹt mỗi lần đóng mở. Nó kê sát góc tường bên phải, chắn trọn vẹn bề mặt của mảng tường rỉ nước.
Tôi bước lại gần, hai tay bám chặt vào mép gỗ mục ẩm dưới hông tủ, gồng sức kéo mạnh.
Đáy tủ cọ xát trên nền gạch hoa kêu rít một vệt dài chói tai. Lớp bụi mịn và xác gián khô dưới gầm tủ bay mù mịt, sực lên mùi hôi thối đặc trưng của đồ đạc bị bỏ hoang trong góc tối. Khi dịch chuyển chiếc tủ ra ngoài được khoảng ba gang tay, mảng tường lộ ra sau lưng nó khiến chân mày tôi giật mạnh.
Vôi vữa ở mảng tường đó đã bong tróc từng mảng lớn, trơ ra lớp gạch chỉ đỏ sẫm ẩm ướt. Trên bề mặt xi măng xám xịt, có vô số vết cào cấu bằng móng tay người hằn sâu thành từng rãnh nhỏ, tụ lại dày đặc ở độ cao ngang ngực. Vết cào kéo dài xuống tận chân tường, một vài chỗ vẫn còn vệt ố màu nâu đen khô cứng, dấu vết của máu thịt bị chà xát đến rách toạc để lại.
Tôi ngồi thụp xuống, đưa mắt kiểm tra mép chân tủ nơi vừa bị kéo lệch. Chiếc tủ gỗ ép công nghiệp này đã xuống cấp nghiêm trọng, đáy tủ bị ẩm mốc ăn ruỗng từ dưới lên, mềm nhũn như bìa các tông ngâm nước. Thế nhưng, ở góc trong cùng bên phải đáy tủ, một tấm ván ép mỏng hình chữ nhật lại có màu sắc khô ráo hơn hẳn so với phần còn lại. Mép ván hơi kênh lên, để lộ một khe hở nhỏ cỡ ngón tay trỏ.
Tôi đưa ngón tay vào khe hở, khẽ cạy nhẹ.
Tấm ván ép không hề được đóng đinh cố định vào khung đáy tủ. Nó chỉ được gá tạm bợ bằng hai mẩu băng dính hai mặt đã khô keo, giòn rụm vụn ra thành bột. Nhấc tấm ván sang một bên, bên dưới đáy rỗng của ngăn kéo tủ xuất hiện một hốc kẹt tối tăm, sâu chừng một gang tay.
Nằm gọn lỏn trong hốc kẹt là một bọc ni lông màu đen, được buộc thắt nút ba lần rất chặt chẽ để chống ẩm. Lớp ni lông bám đầy bụi đen và mạng nhện giăng kín.
Tôi rút con dao gấp bằng thép đen trong túi quần ra, rạch nhẹ lớp bọc ngoài cùng. Mùi giấy ẩm hòa lẫn mùi mực bút bi cũ xộc thẳng lên mũi. Bên trong bọc ni lông là một cuốn sổ tay bìa bọc da màu xanh thẫm, kích thước cỡ bàn tay, bốn góc bìa bị mài mòn trơ cả lớp lõi giấy cứng bên trong. Trên gáy sổ có dán một mẩu băng dính giấy ghi dòng chữ viết tay bằng bút mực đen đã phai màu: Lê Hữu Quân - Nhật ký đồ án tốt nghiệp và việc làm .
Lê Hữu Quân. Đây chính là người thanh niên đã thuê căn phòng 604 này trước tôi.
Tôi ngồi bệt xuống nền gạch lạnh ngắt, tựa lưng vào mép giường gỗ, lật mở trang bìa đầu tiên của cuốn sổ.
Nét chữ ban đầu của người tên Quân rất nắn nót, ngay ngắn, thể hiện tính cách của một sinh viên ngành kiến trúc cẩn thận, tỉ mỉ. Những trang đầu ghi chép từ khoảng tháng tám năm ngoái, chủ yếu xoay quanh việc cậu ta may mắn tìm được một căn phòng trọ rộng rãi, giá thuê chỉ bằng một nửa so với mặt bằng chung trong khu nội thành để vừa làm đồ án tốt nghiệp vừa tiết kiệm chi phí sinh hoạt.
Ngày 12 tháng 8: Chuyển đến phòng 604 chung cư cũ. Phòng rộng, yên tĩnh, ban công nhìn ra khu chợ tạm bên dưới rất thoáng. Tiền thuê một triệu hai trăm nghìn cả điện nước, quá rẻ cho một đứa sinh viên sắp ra trường như mình. Bác chủ nhà bảo phòng này để trống mấy năm nay vì người ta chê tầng cao không có thang máy, nhưng thang máy vừa được ban quản lý sửa lại rồi, chạy hơi kêu một chút nhưng vẫn dùng tốt. Góc phòng cạnh tủ áo hơi ẩm, có tiếng nước róc rách trong tường, mai phải mua xi măng trắng về trét lại.
Ngày 19 tháng 8: Đồ án ngập đầu, đêm nào cũng phải thức vẽ bản vẽ đến ba giờ sáng. Ở đây ban đêm tĩnh mịch đến phát sợ. Cứ tầm một giờ sáng là trong hộp kỹ thuật sau tường lại phát ra tiếng róc rách rất to, nghe như có ai đó đang xả nước liên tục từ tầng thượng xuống. Nước chảy mạnh đến mức vách tường rung lên từng đợt. Mình đã báo cho tổ bảo trì ở tầng hầm, nhưng lão già ở đó chỉ nhìn mình chằm chằm rồi bảo đừng bận tâm, đường ống cũ nên áp lực nước không đều.
Tôi lật tiếp vài trang. Bắt đầu từ đầu tháng chín, nét chữ trong cuốn sổ bắt đầu xuất hiện sự biến đổi rõ rệt. Các dòng kẻ ngang không còn giữ được sự thẳng thớm, nét bút kéo dài hơn, mực ấn sâu vào trang giấy thể hiện tâm trạng ức chế và căng thẳng tột độ.
Ngày 03 tháng 9: Lại mất ngủ. Ba đêm liên tiếp mình đều mơ thấy cùng một giấc mơ quái đản. Mình thấy mình đang đứng giữa một vũng nước đen ngập đến mắt cá chân ngay trong căn phòng này. Góc tường sau tủ quần áo nứt toác ra, nước từ bên trong ộc ra sàn lênh láng. Giữa dòng nước đen ngòm đó, có một người phụ nữ mặc áo xanh sẫm ướt sũng đang đứng quay lưng lại phía mình. Tóc người đó dài chấm gót, bết dính đầy bùn đất tanh tưởi. Cổ áo ướt nhẹp dán chặt vào da thịt tái nhợt. Mình muốn bước lại gần hỏi xem là ai, nhưng chân mình như bị đóng đinh xuống sàn. Người phụ nữ đó không quay đầu lại, chỉ cất tiếng thở rít khè khè qua kẽ răng. Tỉnh dậy thì thấy chăn ướt đẫm mồ hôi, nhưng kỳ lạ là hai ống quần ngủ của mình lạnh buốt và ướt sũng từ đầu gối trở xuống.
Ngày 11 tháng 9: Không phải là mơ! Chắc chắn không phải là mơ! Đêm qua lúc hai giờ sáng, mình đang ngồi làm việc bên bàn thì nghe thấy tiếng giọt nước rơi 'tong... tong...' ngay sau gáy. Mình quay lại nhìn, trên mặt sàn xi măng trước tủ quần áo có một vệt nước kéo dài từ góc tường ra đến mép giường. Vệt nước hình bàn chân trần của phụ nữ, năm ngón chân bệt nước rõ mồn một. Mình lao ra kiểm tra vòi nước nhà vệ sinh, khóa van rất chặt, sàn nhà vệ sinh khô ráo hoàn toàn. Vậy vệt nước đó từ đâu ra? Mùi bùn đất tanh nồng ngập ngụa trong phòng, mở tung cửa sổ gió lùa cũng không tài nào xua đi được.
Đến những trang viết của tháng mười, nét chữ của Lê Hữu Quân đã hoàn toàn mất đi sự kiểm soát. Chữ viết nguệch ngoạc, xiêu vẹo, nhiều đoạn chữ đè lên nhau như thể người viết vừa viết vừa run rẩy trong cơn hoảng loạn tột cùng. Có những trang giấy bị lem lấm tấm những giọt nước tròn xoe đã khô cứng, làm nhòe cả mực bút bi.
Ngày 24 tháng 10: Tóc mình rụng từng mảng lớn trên gối. Mắt mình đỏ ngầu, không thể chợp mắt quá mười lăm phút. Cứ nhắm mắt lại là người phụ nữ đó lại xuất hiện. Bây giờ bà ta không còn đứng quay lưng nữa. Đêm qua, bà ta quay nửa mặt lại. Mặt bà ta trương phềnh, da thịt bủng beo như xác chết ngâm nước lâu ngày, hai hốc mắt trống rỗng chỉ có nước đen rỉ ra ròng ròng. Bà ta thì thầm bên tai mình, giọng ồm ồm như phát ra từ đáy cống ngầm. Bà ta bảo lạnh quá, bà ta bảo vạt áo của bà ta bị rách rồi, bắt mình phải tìm lại vạt áo ướt cho bà ta. Mình gào lên hỏi vạt áo ở đâu, bà ta chỉ tay vào bức tường sau tủ áo. Mình lấy búa đập tường, hàng xóm chạy sang đập cửa chửi bới dọa gọi công an. Bọn họ không nhìn thấy bà ta! Chỉ có mình nhìn thấy! Bà ta đang đứng ngay sau lưng người hàng xóm lúc ông ta đứng chửi mình ngoài cửa!
Tôi khẽ thở dài, ngón tay lướt qua những vết lõm sâu hoắm trên mặt giấy. Tình trạng này trong Huyền Môn gọi là Âm Sát Nhập Cốt . Người thuê cũ không có mắt âm dương bẩm sinh, cũng không biết thuật bế khí hộ thể. Sống liên tục trong một căn phòng là điểm hội tụ của uế khí và âm hồn oán niệm, dương khí trong cơ thể cậu ta bị bào mòn từng ngày. Khi nguyên khí suy kiệt đến một mức nhất định, thần hồn sẽ bị nhiễu loạn, tự động đồng hóa tần số với tà linh nơi đáy huyệt ngầm, dẫn đến việc nhìn thấy những ảo tượng chân thực đến mức phát điên.
Tôi lật sang những trang kế tiếp. Từ tháng mười một trở đi, cuốn sổ bị xé toạc mất mười mấy trang liên tục. Những vết xé nham nhở, vội vã, để lại những mảnh vụn giấy kẹt lại ở gáy sổ.
Chỉ còn lại một trang cuối cùng nằm lẻ loi ở áp chót cuốn sổ.
Trang giấy này không hề ghi ngày tháng. Toàn bộ bề mặt trang giấy phủ kín những dòng chữ được viết bằng bút bi đỏ lẫn bút bi xanh đan xen hỗn loạn. Người viết đã dùng lực tay ấn mạnh đến mức đầu bút bi cày rách toạc cả thớ giấy mục, tạo thành những lỗ thủng lởm chởm.
Mày là ai? Đứa nào vào ở cái phòng này sau tao? Đọc được những dòng này thì chạy đi! Đừng có tin lời ban quản lý! Đừng có tin lão bảo trì! Tòa nhà này là một cái mồ chôn sống! Bọn họ đang nuôi nó! Bọn họ dùng người sống ở phòng này để cho nó hút dương khí!
Bên dưới dòng chữ lớn đó, có một đoạn được khoanh tròn bằng nhiều vòng mực đỏ đậm, mực thấm qua tận mặt sau:
CẢNH BÁO QUAN TRỌNG NHẤT: TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC MỞ CỬA! TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC NHẬN ĐỒ NGƯỜI KHÁC GỬI! Ban đêm nếu có tiếng gõ cửa gọi tên mày, dù có chết cũng không được mở! Nếu có người đưa gói đồ qua khe cửa hay bảo mày nhận bưu phẩm hộ người khác, TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC CẦM VÀO! Nó không tự vào phòng được nếu không có sự đồng ý của mày! Nó đang mượn tay người sống để đưa đồ vào phòng! Tao lỡ tay cầm bọc vải ướt của người ta gửi lúc nửa đêm rồi... Tao sắp phải đi theo bà ta rồi... Vạt áo ướt... vạt áo ướt nằm dưới đáy giếng...
Đoạn chữ dừng lại đột ngột ở đó. Cuối trang là một vệt mực kéo dài ngoằn ngoèo xé toạc góc giấy dưới cùng, như thể người viết đang cầm bút thì bị một lực lượng vô hình giật mạnh ra phía sau.
Tôi gấp cuốn sổ tay lại, lòng bàn tay chạm vào lớp bìa da lạnh ngắt.
Lời cảnh báo tuyệt vọng cào xé trên trang giấy rách nát kia hoàn toàn khớp với những mẩu chuyện rời rạc mà tôi đã nghe lỏm được sáng hôm qua ở khu chợ tạm dưới chân chung cư.
Sáng hôm ấy, lúc tôi ngồi ở quán nước chè đầu con ngõ nhỏ mua vài gói mì tôm và chai nước khoáng, bà bán bánh rán và mấy người phụ nữ lớn tuổi quanh vùng đã ngồi chụm đầu xì xào bàn tán về căn phòng tầng sáu. Lúc đó tôi chưa để tâm nhiều, chỉ nhớ mang máng bà cụ bán quán nước chặc lưỡi thở dài:
Cái thằng bé sinh viên trường kiến trúc ấy trông khôi ngô, ngoan ngoãn thế mà khổ. Đang yên đang lành tự nhiên gầy rộc đi như nghiện, đêm hôm cứ mở cửa chạy rầm rầm khắp hành lang lẩm bẩm tìm áo ướt áo khô gì đấy. Đùng một cái nửa năm trước, đúng cái đêm mưa bão ngập cả ngã tư, người ta thấy phòng nó sáng đèn suốt ba ngày không tắt. Đến khi người nhà với công an phá cửa ập vào thì phòng trống trơn. Chìa khóa vẫn cắm nguyên ở ổ khóa bên trong cánh cửa, ví tiền, điện thoại, máy tính vẽ đồ án vẫn nằm trên bàn làm việc, nhưng người thì bốc hơi không còn một vết tích. Tìm khắp các bệnh viện, cống rãnh xung quanh suốt cả tháng trời chẳng thấy xác đâu, coi như mất tích.
Một người phụ nữ ngồi cạnh bấy giờ còn hạ thấp giọng chen vào:
Tôi nghe bảo hôm thằng bé mất tích, cô hàng xóm đối diện nửa đêm nhìn qua mắt mèo thấy có bóng người đứng ngoài cửa phòng 604 đưa cho nó một bọc gì bọc bằng vải đen sũng nước. Sáng hôm sau hỏi lại thì không ai trong tầng nhận là có người giao hàng hay gửi đồ vào giờ đó cả.
Ký ức về cuộc trò chuyện ở quán nước chè chợ cóc va đập mãnh liệt với từng dòng chữ rách nát trong cuốn nhật ký của Lê Hữu Quân.
Mất tích trong căn phòng khóa trái cửa từ bên trong. Chìa khóa vẫn cắm trong ổ. Đồ đạc còn nguyên, chỉ có người là biến mất vào hư không giữa một đêm mưa gió.
Tôi đứng dậy, cất cuốn sổ tay vào sâu trong ngăn kéo balo của mình.
Căn phòng 604 lúc này im ắng đến rợn người. Tiếng gió bên ngoài ban công đập vào cánh cửa kính lỏng ốc vít kêu lạch cạch từng hồi. Tôi bước lại gần góc tường sau chiếc tủ áo, ngồi xổm xuống kiểm tra kỹ lưỡng mảng tường vừa lộ ra.
Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn tròn, những vệt cào cấu sâu hoắm trên lớp vữa xi măng hình như đang tối sầm lại. Ở khe nứt nơi chân tường, một dòng nước màu đen mỏng như sợi chỉ bắt đầu rỉ ra, chầm chậm trườn qua khe gạch hoa, mang theo mùi bùn đất tanh tưởi quen thuộc dưới đáy hầm hài cốt.
Nó không tự vào phòng được nếu không có sự đồng ý của mày... Nó đang mượn tay người sống để đưa đồ vào phòng...
Dòng chữ cảnh báo viết bằng mực đỏ của người thuê cũ một lần nữa dội lại trong đầu tôi, nặng nề và buốt giá.
Tôi siết chặt chiếc la bàn gỗ đào trong tay, mắt trái khẽ giật liên hồi. Khí sát trong đường ống phía sau bức tường này không hề ngủ yên. Nó đang dịch chuyển, từng chút một, chờ đợi một cái cớ danh chính ngôn thuận để bước qua ngưỡng cửa căn phòng này.