Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 6: Tro tàn bay ngược gió

Cơn ho rút cạn chút dưỡng khí cuối cùng trong lồng ngực khi tôi leo từng bậc thang bộ từ tầng bốn lên tầng sáu. Sau sự cố buồng thang máy bị ngắt điện…

Nội dung chương

Cơn ho rút cạn chút dưỡng khí cuối cùng trong lồng ngực khi tôi leo từng bậc thang bộ từ tầng bốn lên tầng sáu. Sau sự cố buồng thang máy bị ngắt điện giữa chừng, hai bắp chân tôi căng cứng, mỗi nhịp bước đều dội lên tận khớp háng một cơn nhức mỏi âm ỉ. Toàn bộ hành lang tầng sáu chìm trong bầu không khí đặc quánh của buổi chiều mưa rỉ rả. Mùi ẩm mốc bốc lên từ lớp sơn tường bong tróc, quyện chặt với mùi tàn tro vàng mã sót lại từ sáng sớm nay tạo thành một thứ phong vị lợm giọng.

Tôi tra chìa khóa vào ổ, xoay hai vòng. Then cài sắt rít lên một tiếng khô khốc rồi nhả chốt.

Vừa đẩy cánh cửa gỗ ép bước vào trong, tôi lập tức khựng lại nơi ngưỡng cửa.

Một luồng mùi lạ ập thẳng vào sống mũi. Mùi này khác hẳn mùi hương trầm thoang thoảng hay mùi khói vàng mã không khói của bà lão phòng 602 đêm qua. Nó là mùi thối rữa nồng nặc của xác thịt ngâm nước lâu ngày đang trong thời kỳ phân rã, tanh tao đến buốt óc, hệt như ai đó vừa vớt một khúc xác chuột chết trương sình nhét vào kẽ tường.

Tôi vội vàng vặn công tắc đèn tuýp. Ánh sáng vàng nhạt chập chờn bừng lên, soi rõ căn phòng trọ chật hẹp.

Tiếng nước rỉ tí tách phát ra từ phía góc bếp nhỏ bên cạnh nhà vệ sinh.

Tỏng... tỏng... ùng ục...

Tiếng động không đều đặn. Cứ sau vài giọt rơi đập vào lòng bồn rửa bằng inox là một tiếng ục rền rĩ nghẹn ứ dưới đường ống dẫn bằng nhựa xám. Tôi bước chậm rãi lại gần, bước chân dẫm khẽ trên nền gạch hoa trơn nhẫy hơi ẩm.

Bên dưới bồn rửa chén, nắp cống thoát sàn đang sủi bọt. Một thứ chất lỏng màu đen sền sệt, quánh đặc như dầu nhớt thải pha lẫn bùn đáy ao đang từ từ đùn ngược lên qua những khe hở của nắp đậy kim loại. Chất lỏng ấy không chảy xuôi mà trào dâng từng đợt theo nhịp thở phì phò của đường ống ngầm. Mỗi lần bọt khí vỡ ra, thứ mùi tanh tưởi rợn người lại cuộn lên, sộc thẳng vào khoang mũi khiến dạ dày tôi thắt lại từng cơn dữ dội.

Tôi cúi thấp người, soi đèn pin điện thoại vào gầm chậu rửa.

Đoạn ống nhựa uốn cong chữ P rỉ ra từng giọt đen nhờn. Những con ốc ren kim loại giữ mối nối đã bị hoen gỉ nặng nề, lớp cao su đệm xung quanh mủn ra thành những mảng đen vụn, bám đầy sợi tơ nấm mốc trắng nhờ. Nước bẩn không đơn thuần rỉ qua mép ron, áp lực từ sâu dưới lòng đất hình như đang dồn ứ lại, đẩy ngược toàn bộ chất thải lên mặt sàn căn phòng 604 này.

Tôi đưa tay vặn thử van khóa nước cấp gắn trên vách tường gạch. Cần gạt kim loại cứng đờ vì rỉ sét đóng cặn, tôi phải dùng hết sức bình sinh, ấn mạnh mu bàn tay xuống.

Két!

Khớp van gãy rời một nửa, nhưng tiếng ùng ục dưới cống vẫn không hề dừng lại. Nước thải trào ngược không bắt nguồn từ đường ống cấp nước sạch của riêng phòng tôi. Nó dâng lên từ trục thoát nước thải chính của cả toà nhà, từ nơi sâu thẳm dưới chân móng bê tông đang oằn mình giữa cơn mưa lớn.

Chất dịch đen bóng loang ra mặt sàn, chạm đến mép đế giày của tôi. Nhìn kỹ dưới ánh đèn pin, trong màng chất lỏng nhờn dính ấy lấm tấm những mẩu vụn màu trắng đục, vụn vỡ như những mảnh xương dăm nhỏ xíu trộn lẫn tóc rối kết thành từng búi dài ngoằng.

Mắt âm dương nơi mắt trái của tôi giật giật từng cơn. Một lớp sương xám mờ ảo bao phủ lấy vũng nước đen, tỏa ra tử khí đặc sệt. Thứ nước thải này hoàn toàn chứa đựng oán niệm và khí tức của những thứ chết chóc tích tụ lâu năm, không phải rác thải sinh hoạt thông thường của cư dân trong khối nhà.

Nếu cứ để mặc cho dòng nước uế tạp này tiếp tục tràn ra, toàn bộ căn phòng sẽ ngập ngụa trong âm sát, biến nơi đây thành một bãi tha ma thu nhỏ trước khi đêm nay buông xuống.

Tôi đứng thẳng dậy, lùi lại hai bước, với lấy mảnh giẻ lau cũ chặn tạm quanh miệng cống thoát rồi xỏ chân vào đôi dép tổ ong cũ. Cần phải tìm người phụ trách kỹ thuật tầng trệt để khóa van chặn cục bộ hoặc kiểm tra máy bơm chìm dưới hố ga toà nhà. Dù có muốn dùng thuật phong thủy để trấn áp, trước hết tôi vẫn phải xử lý triệt để cái vòi xả vật lý đang rỉ máu đen này.

Khép cửa phòng 604, tôi rảo bước nhanh qua hành lang tầng sáu, lần này dứt khoát chọn lối cầu thang bộ thoát hiểm để đi xuống, tránh xa chiếc thang máy chết tiệt kia.

Mỗi tầng lầu trôi qua dưới bước chân tôi đều mang một vẻ hoang tàn đồng dạng. Tầng năm vắng ngắt, cửa các căn hộ đều đóng kín mít, then cài rỉ sét im lìm. Tầng bốn thoang thoảng mùi thuốc bắc ẩm mốc. Tầng ba có vài hộ gia đình sinh sống nhưng tuyệt nhiên không một tiếng cười nói trẻ con, chỉ có tiếng kim đồng hồ quả lắc điểm từng nhịp khô khan vọng qua khe cửa gỗ.

Xuống đến tầng trệt, không gian mở rộng ra một sảnh chung tối tăm, ẩm ướt. Nền xi măng nứt nẻ loang lổ những vũng nước mưa tạt vào từ khoảng sân trước.

Góc trong cùng của tầng trệt, nằm khuất sau gầm cầu thang bộ dẫn xuống tầng hầm để xe cũ, là một cánh cửa sắt sơn màu xanh lá cây đã tróc từng mảng lớn, để lộ khung kim loại đỏ quạch màu rỉ sét. Phía trên cánh cửa có gắn một tấm biển mica ố vàng ghi ba chữ nguệch ngoạc: PHÒNG KỸ THUẬT .

Cửa không khóa, chỉ khép hờ bằng một sợi dây kẽm xoắn tạm vào then gài.

Tôi bước lại gần, ngón tay vừa chạm vào then sắt thì một luồng hơi ẩm lạnh buốt từ khe cửa phả vào lòng bàn tay. Tôi gạt nhẹ sợi dây kẽm, đẩy cánh cửa sắt vào trong.

Kẽo kẹt...

Bản lề khô dầu rít lên một chuỗi âm thanh chói tai xé toang không gian tĩnh mịch của góc khuất tầng trệt.

Có ai ở đây không? Tôi cất tiếng hỏi, giọng trầm và đều.

Bên trong không có tiếng trả lời. Đáp lại tôi chỉ có tiếng quạt thông gió cũ kỹ quay lờ đờ trên góc tường cao, phát ra tiếng cọ xát phành phạch nặng nề theo từng vòng quay.

Căn phòng kỹ thuật rộng chừng mười lăm mét vuông, bừa bộn đến mức khó tìm được một chỗ đặt chân sạch sẽ. Dưới sàn nhà vứt la liệt những cờ lê rỉ sét, ống nhựa PVC cắt dở, dây điện cao su cuộn tròn thành từng đống bám đầy bụi đen và mạng nhện. Mùi dầu máy khét lẹt trộn lẫn với mùi vôi vữa ẩm ướt tạo nên một thứ không khí ngột ngạt đến khó thở.

Một chiếc bàn gỗ công nghiệp mục nát kê sát góc tường bên phải, trên mặt bàn bày một ấm trà đã nguội ngắt từ bao giờ, nước trà bên trong ngả màu đen sẫm, đóng một lớp váng mỏng. Nhân viên bảo trì toà nhà rõ ràng vừa rời đi cách đây không lâu, hoặc giả kẻ chịu trách nhiệm trông nom nơi này vốn có thói quen bỏ bê vị trí.

Tôi tiến sâu vào giữa phòng, dự định tìm chiếc chìa khóa van tổng của trục nước số hai để mang lên tự tay xử lý mối nối ở phòng mình.

Thế nhưng, khi ánh mắt tôi quét qua bức tường đối diện cửa ra vào, bước chân tôi đột ngột khựng lại.

Ghim trên tấm bảng gỗ ép bạc màu loang lổ vết ẩm là một xấp bản vẽ kỹ thuật khổ lớn đã ngả màu vàng váng đậu. Những góc giấy bị mối mọt gặm nham nhở, mép giấy quăn queo vì hơi ẩm tích tụ qua hàng thập kỷ. Bụi bám một lớp mờ trên bề mặt bản vẽ, nhưng những nét mực in màu xanh đen và các ký hiệu kỹ thuật vẫn còn hiện rõ mồn một.

Đó là bản vẽ hoàn công chi tiết mạng lưới cấp thoát nước và đường hầm kỹ thuật ngầm của khu chung cư cũ này, có niên đại thi công từ hơn ba mươi năm trước.

Tôi lấy vạt áo lau nhẹ lớp bụi bám trên mặt giấy, rọi đèn pin điện thoại vào từng đường nét chằng chịt.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, cảm giác kỳ dị đã dấy lên trong lòng tôi.

Là một người từ nhỏ đã được ông nội rèn giũa từng nét vẽ phong thủy trong Huyền Môn Quỷ Lục, tôi quá quen thuộc với các đồ hình địa lý, mạch nước và khí huyệt. Một bản vẽ cấp thoát nước đô thị thông thường luôn tuân theo nguyên tắc ngắn nhất, dốc nhất để đảm bảo dòng chảy lưu thông thuận lợi. Nước thải sinh hoạt từ các căn hộ sẽ theo các hộp kỹ thuật thẳng đứng đổ dồn về bể tự hoại dưới móng rồi dẫn thẳng ra cống cái của thành phố.

Thế nhưng, sơ đồ trước mắt tôi lại hoàn toàn đi ngược lại mọi quy chuẩn xây dựng cơ bản.

Hệ thống cống ngầm dưới chân móng toà nhà này không hề chạy thẳng ra ngoài. Chúng bị bẻ cong thành tám nhánh rãnh ngầm ngoằn ngoèo, uốn lượn quanh bốn góc móng của khối nhà theo một trật tự vô cùng bất thường. Tám đường rãnh xả nước thải đan xen vào nhau, rẽ ngoặt ở những góc chín mươi độ vô lý, tạo thành một mạng lưới khép kín chạy bao quanh chân toà chung cư.

Mắt trái tôi nhói buốt khi lần theo những đường kẻ mực xanh.

Đây là đồ hình Bát quái.

Một đồ hình Bát quái ngược, thuộc về hệ thống bài ba tà phái cực kỳ hiểm độc.

Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Tám quẻ vị trí trên bản vẽ đều bị đảo lộn toàn bộ theo thế nghịch hành. Vị trí quẻ Khảm thuộc Thủy lẽ ra phải đặt ở hướng Bắc để dẫn nước xuôi dòng thì lại bị cưỡng ép dời về phương Nam thuộc Hỏa, tạo thế Thủy Hỏa tương xung.

Nghiêm trọng hơn cả, toàn bộ điểm thu nước của bảy tầng lầu, thay vì đổ xuống bể ngầm bên dưới để tiêu thoát, lại được thiết kế chảy dồn về một ống góp trung tâm. Từ ống góp khổng lồ đó, một đường ống thoát hơi và trục kỹ thuật đặc biệt lại vươn thẳng đứng lên trên, xẻ dọc suốt từ lòng đất sâu xuyên qua các tầng nhà.

Tôi nín thở, ngón tay run rẩy lần theo đường mực đỏ vẽ trục kỹ thuật đứng.

Trục kỹ thuật số 04.

Đường ống dẫn xả uế khí và âm hàn từ trận hình bát quái ngược dưới đáy móng không hề thoát ra ngoài không khí tự nhiên. Nó được đấu nối trực tiếp vào hộp gen kỹ thuật chạy dọc theo góc tường của một dãy phòng nằm ở góc chết phía Tây Bắc của toà nhà.

Điểm kết thúc của đường ống gom uế khí đó, nơi toàn bộ xú uế và sát khí ngưng tụ lại trước khi tràn ra ngoài, nằm chính xác tại vị trí bồn rửa và sàn nhà của căn hộ số 604.

Căn phòng của tôi.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng xông thẳng lên đỉnh đầu, khiến toàn bộ da gà trên hai cánh tay tôi nổi rộp lên.

Căn phòng 604 không phải ngẫu nhiên mà bị ẩm thấp quanh năm. Nó cũng không phải tình cờ bị bỏ hoang suốt nhiều năm trời giữa một khu chung cư giá rẻ đất chật người đông giữa nội thành.

Ngay từ ngày toà nhà này được đổ móng đặt cọc cách đây ba mươi năm, kẻ thiết kế ra bản vẽ này đã cố tình biến căn phòng 604 thành Huyệt Nhả Xú Khí .

Trong thuật phong thủy trấn yểm đô thị ngầm, có một bí pháp tà đạo mang tên Cửu U Đảo Dẫn . Khi xây dựng một công trình lớn trên nền đất có nhiều mồ mả hoặc tụ tập quá nhiều âm khí uế tạp, thay vì làm lễ giải trừ hay dời chuyển tốn kém, kẻ chủ sự sẽ thiết kế toàn bộ hệ thống thoát nước ngầm theo thế bát quái nghịch. Toàn bộ ô trọc, bệnh tật, oán khí và tử khí của hàng trăm con người sống trong toà nhà sẽ không bị thải bỏ ra ngoài mà bị gom lại, ép chạy tuần hoàn dưới lòng đất để nuôi dưỡng địa mạch nhân tạo.

Và để toà nhà không bị sát khí cắn trả làm sụp đổ, người ta bắt buộc phải chừa ra một lỗ thoát khí độc.

Cái lỗ thoát ấy được gọi là Mắt Huyệt Âm Sát .

Bất kỳ ai dọn vào sống tại căn phòng nằm ngay trên Mắt Huyệt sẽ vô tình trở thành tấm bia sống hứng trọn toàn bộ uế khí, tai ương và bệnh tật của cả khối nhà. Người đó sẽ gánh thay quả báo cho toàn bộ cư dân xung quanh, cơ thể sẽ bị âm sát bào mòn dần dần, lục phủ ngũ tạng mục rữa, tinh thần hoảng loạn rồi cuối cùng chết trong cô độc và điên dại. Khi kẻ xấu số chết đi, oán khí của chính kẻ đó lại tiếp tục hòa vào dòng nước ngầm, củng cố thêm sức mạnh cho trận pháp trấn yểm tà dị bên dưới.

Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng, mồ hôi túa ra ướt đẫm trán.

Bát gạo thế thân với ba que nhang gãy của bà lão phòng 602 đêm qua, tiếng bước chân kéo lê và tiếng tủ gỗ bị kéo giật trên tầng bảy, chiếc thang máy đột ngột dừng giữa tầng bốn mang theo tử khí tanh nồng... Tất cả những mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng chốc kết nối lại với nhau thành một bức tranh hoàn chỉnh và đáng sợ.

Bà lão phòng 602 không tự nhiên nhắm vào tôi. Cả toà chung cư này, hoặc ít nhất là những kẻ hiểu biết về giới huyền môn ngầm đang ẩn nấp tại đây, đều biết căn phòng 604 là nơi chứa chấp thứ gì.

Họ đang chờ đợi một kẻ dại dột bước vào căn phòng đó.

Một kẻ mang đầy đủ dương khí nhưng không hay biết gì về mối hiểm họa dưới chân, bước vào để làm cái mộc chắn bão cho bọn họ, để gánh chịu thay cơn thịnh nộ của âm giới đang đến ngày đáo hạn.

Người thuê trước tôi ở căn phòng này rốt cuộc đã chịu đựng chuyện này như thế nào? Người đó còn sống hay đã chết?

Đúng lúc đó, từ góc tối phía sau giá để đồ kim loại trong phòng kỹ thuật, vang lên một tiếng sột soạt khô khốc.

Tôi giật mình quay phắt đầu lại, hạ thấp ngọn đèn pin.

Một bóng người gầy gò, lưng còng rạp xuống đang lúi húi ngồi xổm trong góc kẹt giữa hai chồng lốp xe cũ. Kẻ đó mặc một bộ quần áo công nhân xanh thẫm bám đầy vết dầu đen, hai bàn tay thô ráp đang cầm một chiếc kìm bấm bằng thép gỉ.

Người đó chầm chậm ngẩng đầu lên.

Dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn tuýp bên ngoài hắt vào, khuôn mặt của người đàn ông bảo trì hiện ra với làn da xám xịt như tro nguội, một bên mắt đục ngầu không có con ngươi, còn bên mắt còn lại thì trợn trừng, nhìn xoáy thẳng vào mặt tôi không hề chớp.

Khóe miệng ông ta giật giật, để lộ hàm răng ố vàng khuyết mất mấy chiếc răng cửa.

Cậu em... tìm ai? Giọng nói của ông ta khàn đặc, the thé như tiếng kim loại cào vào đáy nồi rỉ.

Tôi bình tĩnh thu lại ánh mắt đang nhìn vào tấm bản vẽ, siết nhẹ lòng bàn tay để các khớp ngón tay phát ra tiếng răng rắc rất khẽ, giữ vững thần sắc:

Cháu ở phòng 604. Ống nước sàn nhà bị trào ngược, nước đen bốc mùi hôi thối lắm. Cháu xuống tìm người phụ trách để khóa bớt van trục số hai.

Nghe đến ba chữ phòng 604 , con mắt lành lặn của người đàn ông bỗng co rút lại một cách dữ dội.

Bàn tay cầm chiếc kìm thép của ông ta khẽ run lên một nhịp. Ông ta không đứng dậy, vẫn giữ nguyên tư thế ngồi xổm kỳ dị giữa đống lốp xe mục, ánh nhìn dán chặt vào mặt tôi như thể đang nhìn một cái xác chết biết đi.

Trào ngược à? Ông ta lặp lại câu hỏi bằng một nụ cười méo mó, lạnh tanh. Cái trục đó... ba năm nay chưa từng thông được đâu. Nước dưới ấy chảy ngược lên là chuyện thường. Cậu mới chuyển đến, chịu khó lau dọn đi.

Chất lỏng trào lên có mùi xác rữa, màu đen quánh như dầu cặn. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta, từng chữ thốt ra đều mang sức nặng đè nén. Không phải nước thải sinh hoạt thông thường. Bác là thợ kỹ thuật ở đây lâu năm, bác nhìn sơ đồ này mà không biết bên dưới móng toà nhà đang chôn thứ gì sao?

Nụ cười trên mặt người đàn ông lập tức đông cứng lại.

Không gian trong căn phòng kỹ thuật chùng xuống, ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa sắt mục nát ngoài hành lang.

Người thợ bảo trì chầm chậm buông chiếc kìm sắt xuống nền xi măng. Tiếng kim loại va chạm với mặt đất vang lên một tiếng keng khô khốc, sắc lẹm. Ông ta chống hai tay lên đầu gối, run rẩy đứng dậy, thân hình lòng khòng xiêu vẹo như một cành cây khô gãy gập.

Cậu nhìn hiểu được bản vẽ đó? Ông ta hạ thấp giọng xuống, âm thanh rít qua kẽ răng run rẩy.

Đồ hình Bát quái nghịch hành, gom uế khí về huyệt độc. Tôi đáp gọn lỏn, mắt trái lóe lên một tia sáng lạnh. Các người xây toà nhà này đè lên một bãi tha ma cổ, đúng không?

Người đàn ông không trả lời ngay. Ông ta đảo mắt nhìn quanh căn phòng kỹ thuật tối tăm, rồi bất thần bước nhanh tới bên cửa ra vào, thò tay kéo sập cánh cửa sắt lại, gài then chốt bên trong một cách cẩn thận.

Khi quay lưng lại đối diện với tôi, gương mặt xám xịt của ông ta đã phủ đầy một nỗi kinh hoàng không thể che giấu.

Im mồm đi! Ông ta gắt khẽ, giọng run bần bật như người đang lên cơn sốt rét. Cậu muốn chết thì cũng đừng kéo tôi theo! Toà nhà này không phải do đám thợ bọn tôi thiết kế. Bản vẽ đó là của chủ đầu tư đời đầu mang từ dưới xuôi lên cách đây ba mươi năm!

Ai là người vẽ nó? Tôi bước lên một bước, ép sát cự ly.

Tôi không biết tên, chỉ biết lão ta là một thầy phong thủy có ngón tay cụt, người ta gọi lão là thầy Bảy Chột! Người thợ bảo trì thở dốc, hai bàn tay bấu chặt vào mép bàn gỗ mục. Năm đó lúc đào móng, máy xúc múc trúng một cái hầm gạch chứa toàn chum đựng hài cốt vô danh. Nước đen từ dưới đáy huyệt phun lên ngập cả hố móng, sặc mùi thối suốt ba tháng trời không tan. Đám thợ bỏ chạy tán loạn, không ai dám làm tiếp.

Tôi chăm chú lắng nghe, không bỏ sót một chi tiết nào trong từng câu chữ run rẩy của ông ta.

Sau đó thì sao?

Sau đó lão thầy Bảy Chột xuất hiện. Người bảo trì liếm đôi môi khô nứt nẻ, mắt liếc trộm lên trần nhà như sợ có thứ gì đang lắng nghe từ bên trên. Lão ta bảo đất này là đất 'Tụ Sát Đoạt Mệnh', nếu lấp lại bỏ đi thì cả khu phố xung quanh sẽ gặp đại họa liên miên, người chết không đếm xuể. Muốn yên ổn xây nhà lên trên, bắt buộc phải dùng thuật Đảo Trục Dẫn Khí, đào tám đường rãnh ngầm giam giữ xương cốt và nước độc bên dưới, rồi dựng một cột thông hơi bằng bê tông lõi thép dẫn toàn bộ sát khí lên tận tầng cao nhất để phân tán dần vào hư không.

Nhưng các người không hề phân tán nó vào hư không. Giọng tôi đanh lại. Trục kỹ thuật đó được bịt kín ở sân thượng, toàn bộ điểm xả bị dồn ngược vào căn phòng 604.

Người thợ bảo trì rùng mình một cái, ánh mắt lảng tránh ánh nhìn của tôi:

Lão Bảy Chột bảo... nếu xả ra không khí giữa trời, sát khí gặp gió sẽ tản ra khắp nơi, con cháu trong vùng hít phải sẽ sinh non, chết yểu, cả khu chung cư sẽ biến thành toà nhà ma trong vòng ba năm. Cách duy nhất để phong ấn triệt để là phải giữ lại một căn phòng trống làm 'Huyệt Nhãn', để khí uế tự tụ rồi tự tiêu theo chu kỳ ba mươi năm...

Và người thuê căn phòng đó sẽ là vật hiến tế để tiêu tán âm sát thay cho các người? Tôi lạnh lùng chất vấn.

Người đàn ông im lặng, lùi lại một bước, tựa hẳn lưng vào đống lốp xe cũ, hơi thở ngắt quãng đầy vẻ sợ hãi.

Sự im lặng của ông ta chính là câu trả lời rõ ràng nhất.

Người thuê trước tôi ở căn phòng đó... rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Tôi gằn từng tiếng, bước chân gõ xuống nền xi măng ẩm ướt từng nhịp chậm rãi nhưng nặng nề.

Gương mặt người thợ bảo trì co giật liên hồi khi nghe tôi nhắc đến người tiền nhiệm của căn phòng 604. Đôi môi thâm sì của ông ta mấp máy, bàn tay run rẩy đưa lên chỉ thẳng về phía cầu thang dẫn lên các tầng trên, giọng nói lạc hẳn đi giữa tiếng quạt thông gió rền rĩ:

Nó... nó phát điên rồi. Nửa năm trước, đêm nào nó cũng gào thét chạy dọc hành lang tầng sáu đòi tìm vạt áo ướt của ai đó... Rồi một đêm mưa to gió lớn hệt như đêm nay, nó biến mất không để lại một dấu vết. Cậu... cậu nếu còn muốn giữ lấy cái mạng son sẻ này, thì ngay đêm nay thu dọn đồ đạc mà cút khỏi cái phòng 604 đó đi! Hạn ba mươi năm của trận pháp... đến rồi!

Chương khác

Xem thêm