Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 10: Người canh gác lúc hoàng hôn
Tiếng bước chân nặng nề của chú Hưng nhỏ dần rồi tắt hẳn sau khúc quanh cầu thang tầng năm. Hành lang tầng sáu trở lại vẻ vắng lặng vốn có, chỉ còn tiếng…
Nội dung chương
Tiếng bước chân nặng nề của chú Hưng nhỏ dần rồi tắt hẳn sau khúc quanh cầu thang tầng năm. Hành lang tầng sáu trở lại vẻ vắng lặng vốn có, chỉ còn tiếng gió lùa qua khe thông gió rít lên từng hồi khan đặc.
Tôi vẫn đứng bất động trước tấm vải đỏ trùm kín chiếc gương lớn. Mùi mục nát của gỗ lim quyện với hơi ẩm mốc từ những kiện hàng cũ bốc lên nồng nặc. Dưới lớp vải nhung đỏ đã rách tả tơi kia, mặt kính tráng ngân vẫn ẩn chứa một khoảng sân viện cổ kính với mặt nước giếng u tối. Tôi lùi lại hai bước, cẩn thận kéo mép vải phủ kín phần chân đế, sau đó quay gót đi về phía căn phòng 604.
Cánh cửa gỗ dán số phòng 604 vẫn khép hờ. Trên ngón tay trỏ bàn tay phải của tôi, vết cắn đêm qua đã se miệng lại thành một vệt máu bầm tím sẫm, hơi nhức mỗi khi co duỗi. Vết chu sa tự vẽ bằng dương huyết trên trán đã khô cong, để lại cảm giác căng rát trên da thịt.
Tôi bước vào phòng, với tay bật công tắc đèn tuýp. Bóng đèn chớp nháy ba lần, phát ra tiếng vo vo trầm đục rồi tỏa ra ánh sáng trắng nhờ nhợ. Tôi tiến lại góc bàn học, mở ngăn kéo lấy ra một cây thước cuộn bằng kim loại, một chiếc đèn pin bóng led nhỏ và cây bút chì gọt sẵn đầu.
Những gì vừa chứng kiến nơi góc cầu thang thoát hiểm đã vượt ra ngoài phạm vi của một hiện tượng ma ám thông thường. Một chiếc gương Chuyển Hồn Kính chạm khắc phù triện tinh vi, được đặt đúng vào góc phương vị tụ sát dưới chân cầu thang suốt hơn chục năm trời, tuyệt đối không thể là sự trùng hợp vô tình của một kẻ dọn nhà để quên phế liệu.
Tôi tắt đèn, khép cánh cửa phòng 604 lại, quay trở ra giữa hành lang dài hun hút.
Hành lang tầng sáu dài khoảng ba mươi mét, nền lát gạch hoa màu vàng ngà đã mòn vẹt men sứ, hai bên tường quét vôi màu xanh nhạt nay đã bong tróc từng mảng lớn lộ ra lớp vữa trát cát đen xám xịt. Không khí ở đây luôn lạnh hơn tầng dưới từ hai đến ba độ, hơi nước ngưng tụ thành từng hạt li ti bám trên trần nhà.
Tôi bước về phía góc tường đầu tiên, nằm ngay mép chiếu nghỉ dẫn xuống tầng năm.
Khu vực này ẩm ướt nhất do nằm sát đường ống thoát nước mưa của tòa nhà. Tôi ngồi xổm xuống, bật đèn pin soi sát vào chân tường, nơi giao nhau giữa gạch lát sàn và lớp vữa chân tường. Đập vào mắt tôi là lớp rêu xanh bám dày đặc, nhớp nhúa.
Tôi rút chiếc tuốc nơ vít nhỏ mang theo trong túi quần, bắt đầu cạo nhẹ từng lớp rêu mốc và vôi vụn rơi lả tả xuống sàn.
Sau khoảng năm phút tỉ mỉ cạo từng mảng vôi xốp, mũi kim loại va phải một vật cứng phát ra tiếng cạch khô khốc. Tôi dùng chổi lông mềm quét sạch bụi cát xung quanh. Một đầu đinh sắt đường kính chừng một đốt ngón tay lộ ra, đóng ngập sâu vào mạch vữa giữa hai viên gạch nung.
Cây đinh sắt này đã hoen rỉ đến mức bề mặt sần sùi như da cóc, phủ một lớp rỉ sét màu nâu đỏ sẫm. Nhưng khi tôi dí sát ánh đèn pin vào quan sát kỹ, trên mũ đinh tròn dẹt có khắc chìm một hình ký tự ngoằn ngoèo. Đó là phù hiệu định hồn, nét khắc sâu và dứt khoát.
Tôi rút thước dây ra đo. Vị trí cây đinh nằm cách mặt sàn chính xác đúng bảy thốn, tương đương khoảng hai mươi ba centimet theo thước Lỗ Ban cổ.
Tôi đứng dậy, bấm thước dây thu lại, bước dọc theo bức tường bên phải đi về phía góc thứ hai, nơi đặt tủ điện tổng của tầng sáu.
Tại góc tường này, lớp vôi vữa bên ngoài còn khá nguyên vẹn, thoạt nhìn không thấy bất kỳ dấu vết nào bất thường. Tôi dùng chuôi tuốc nơ vít gõ nhẹ từng đoạn dọc theo mạch vữa. Đến điểm cách góc tường ba mươi centimet, âm thanh phát ra bỗng đục và đặc quánh lại, khác hẳn tiếng vang rỗng của những đoạn tường khác.
Tôi dùng đầu dẹp cậy mạnh lớp vữa trát bên ngoài. Một mảng vữa dày rơi xuống đất, để lộ ra cây đinh sắt thứ hai.
Cây đinh này dài hơn ngón tay trỏ, cắm nghiêng một góc bốn mươi lăm độ chếch thẳng xuống lòng đất. Mũ đinh cũng mang phù triện tương tự cây đinh đầu tiên, nhưng nét khắc có phần biến dạng, các đường rãnh bị lấp đầy bởi một lớp chất dẻo màu nâu đen có mùi ngai ngái khó chịu. Tôi đưa đầu ngón tay chạm nhẹ vào chất dẻo ấy rồi đưa lên mũi ngửi.
Mùi dầu xác trộn lẫn bột chu sa và than củi cào cào. Đây là thứ phụ gia chuyên dùng trong các nghi thức phong trấn âm phần của tà phái để ngăn không cho khí tức rò rỉ ra ngoài.
Lưng tôi bắt đầu toát ra một lớp mồ hôi mỏng. Tôi tiếp tục di chuyển sang góc tường thứ ba, nằm ở hốc giếng trời phụ đối diện phòng 602.
Ở đây, cây đinh thứ ba được đóng thẳng vào xà bê tông chịu lực, đầu đinh hơi nhô ra ngoài khoảng nửa phân. Xung quanh vết đinh, bê tông nứt toác thành những đường chân chim kéo dài lên tận trần nhà, như thể kết cấu chịu lực của tòa nhà đã bị một sức ép vô hình nào đó bẻ gãy từ bên trong.
Đến góc tường thứ tư, nằm ngay sát vách bên trái của căn phòng 604 nơi tôi đang thuê, cây đinh thứ tư lộ diện dưới một lớp giấy báo cũ dán đè lên tường từ nhiều năm trước.
Bốn cây đinh nằm ở bốn góc hành lang. Nhưng chưa dừng lại ở đó.
Tôi đứng ở giữa hành lang, bấm đèn pin rọi thẳng một đường từ đầu này sang đầu kia. Căn cứ theo vị trí của bốn cây đinh đã tìm thấy, tôi lần lượt bước thêm ba bước về phía cửa thang máy bỏ hoang, dùng tuốc nơ vít cậy mạch vữa trên tường đối diện phòng 603, rồi lùi lại hai bước kiểm tra chân tường phòng rác cũ.
Cây đinh thứ năm.
Cây đinh thứ sáu.
Và cây đinh thứ bảy nằm ngay dưới ngưỡng cửa phòng 604, cắm thẳng đứng từ trên xuống xuyên qua lớp đá mài của bậc cửa, đầu đinh đã bị người qua lại dẫm đạp mòn vẹt nhưng vẫn giữ nguyên vị trí then chốt.
Bảy cây đinh sắt.
Tôi lấy cây bút chì, lật mặt sau tờ hóa đơn tiền điện trong túi áo ra, phác nhanh sơ đồ hành lang tầng sáu rồi chấm bảy điểm tròn tương ứng với vị trí các cây đinh vừa phát hiện.
Khi nối bảy điểm đó lại bằng những đường thẳng gãy khúc, hình dáng hiện ra trên mặt giấy khiến đồng tử mắt trái của tôi giật thót một cái.
Đó là chòm sao Bắc Đẩu Thất Tinh.
Thiên Xu, Thiên Toàn, Thiên Cơ, Thiên Quyền tạo thành phần gáo; Ngọc Hoành, Khai Dương, Dao Quang kéo dài thành phần chuôi. Điểm chuôi cuối cùng, vị trí của sao Dao Quang mang sát khí nặng nhất, cắm chuẩn xác ngay dưới bậc cửa căn phòng 604 của tôi.
Thủ pháp này trong cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* gọi là Thất Tinh Đinh Phách.
Tổ tiên tôi từng ghi chép rõ ràng về trận pháp này trong chương thứ bảy của cuốn sách da bò:
Thất Tinh đóng mạch, giam phách đoạt hồn. Kẻ dụng thuật dùng bảy đinh sắt ngâm qua dầu xác đủ bốn mươi chín ngày, khắc định hồn phù, đóng sâu vào các huyệt vị xung yếu của trạch viện theo thế sao Bắc Đẩu. Phàm nơi nào bị Thất Tinh Đinh phong tỏa, âm khí bốn phương chỉ có thể tụ vào mà không thể thoát ra. Oan hồn uổng tử chết trong trận này vĩnh viễn bị giam hãm giữa các bức tường, ngày đêm chịu đựng nỗi đau xé thịt róc xương, sinh ra oán hận ngút trời. Qua năm dài tháng rộng, sát khí tích tụ biến nơi đó thành một lò dưỡng quỷ sống.
Đây hoàn toàn không phải một tòa chung cư bị ma ám ngẫu nhiên do người chết để lại oán niệm.
Có một kẻ thuộc giới huyền môn ngầm đã cố tình dùng thủ pháp tinh vi, tàn nhẫn này để biến toàn bộ tầng sáu thành một chiếc lồng giam vô hình. Kẻ đó đã tính toán tường tận từng số đo Lỗ Ban, từng góc chiếu của ánh sáng mặt trời, thậm chí biến chiếc gương đứng Chuyển Hồn Kính ở chân cầu thang thoát hiểm thành một chiếc phễu hút âm khí từ các tầng dưới dồn ngược lên tầng này.
Mục đích của việc giam giữ và nuôi dưỡng sát khí quy mô lớn như vậy là gì?
Cuốn sách của tổ tiên có nhắc đến một bí thuật tà đạo cổ xưa. Khi sát khí và oán niệm của một vùng đất bị nén chặt đến cực hạn, kẻ chủ trì trận pháp có thể dùng một vật tế sống mang bát tự thuần âm, hoặc một người cùng ngày cùng tháng cùng năm sinh, để khởi trận. Mục đích cuối cùng là đổi lấy thọ nguyên, mượn vận đổi mạng, hoặc luyện chế ra những tà vật nghịch thiên.
Căn phòng 604 nằm ngay tại vị trí sao Dao Quang - điểm phá quân, điểm sát phạt hung hiểm nhất của toàn bộ Thất Tinh Trận.
Tôi đứng lặng giữa hành lang, từng khớp xương trên ngón tay bóp chặt cán tuốc nơ vít đến trắng bệch.
Hình ảnh cuốn nhật ký ẩm mốc của Lê Hữu Quân giấu sau ổ cắm điện lại hiện rõ mồn một trong tâm trí tôi. Những nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy của anh ta ở những trang cuối cùng:
Ngày 14 tháng 7... Tôi nghe thấy tiếng nước chảy trong tường... Có ai đó đang gọi tên tôi từ dưới sàn nhà...
Ngày 22 tháng 7... Gương mặt tôi trong kính bắt đầu mờ đi... Tôi không nhìn rõ mắt mình nữa...
Ngày 3 tháng 8... Nó đứng ngoài cửa... gõ ba ngắn một dài... Tôi sắp không chịu nổi rồi...
Và dòng chữ viết bằng máu ở trang cuối:
Vạt áo ướt... vạt áo ướt nằm dưới đáy giếng...
Mọi mắt xích rời rạc bỗng chốc khớp chặt lại với nhau thành một bức tranh kinh hoàng.
Lê Hữu Quân, chàng trai trẻ thuê căn phòng này ba năm trước, sinh viên tỉnh lẻ lên thành phố trọ học, tính tình hiền lành nhút nhát. Anh ta không đơn thuần phát điên vì sợ hãi hay tự sát do áp lực cuộc sống như lời đồn đại của những người dân sống ở tầng dưới.
Lê Hữu Quân chính là con mồi đã được chọn lựa kỹ càng. Anh ta đã bị giam lỏng trong chính căn phòng 604 này, bị trận Thất Tinh Đinh Phách ngày đêm bào mòn dương khí, bị chiếc gương Chuyển Hồn Kính hút dần từng phần hồn phách cho đến khi hoàn toàn suy kiệt, biến thành vật tế sống để kích hoạt trận nhãn.
Nhưng ba cục huyền môn này vẫn chưa thực sự hoàn tất.
Nếu trận pháp đã kích hoạt thành công, tầng sáu này đã biến thành tử địa tuyệt đối từ ba năm trước, chứ không duy trì trạng thái âm u, ẩm mốc dằng dai như hiện tại. Chắc chắn đã có một biến cố nào đó xảy ra trong đêm Lê Hữu Quân biến mất, khiến trận pháp bị đình trệ giữa chừng. Kẻ bày trận buộc phải phong ấn tạm thời chiếc gương bằng lá bùa vàng và tấm vải đỏ rách nát kia, để mặc căn phòng 604 hoang phế chờ đợi một cơ hội khác.
Và cơ hội đó, hoặc con mồi tiếp theo được nhắm tới, chính là kẻ vừa dọn vào căn phòng này sau ba năm bỏ trống: tôi.
Một cơn gió mạnh bất ngờ thổi thốc từ ô cửa thông gió cuối hành lang vào, mang theo hơi nước mưa lạnh buốt tạt thẳng vào mặt tôi. Tiếng rít ghê rợn qua khe cửa sắt nghe như tiếng cười khẩy của cõi vô hình.
Tôi lấy lại bình tĩnh, nén chặt luồng khí lạnh đang trào dâng trong lồng ngực. Tôi cất đồ nghề vào túi, dùng chân gạt lại những mảng vữa rơi vãi trên sàn để xóa bớt dấu vết cậy phá, rồi chầm chậm quay người bước vào phòng 604.
Cánh cửa khép lại với một tiếng cạch khô khốc. Then cài kim loại được đẩy sâu vào ngàm khóa.
Căn phòng chìm trong bóng tối lờ nhờ của buổi chiều tà. Ngoài cửa sổ, cơn mưa dầm dề của thành phố lại bắt đầu nặng hạt. Những giọt nước quất liên hồi vào mặt kính cũ kỹ, tạo thành những vệt nước ngoằn ngoèo chảy dài như những giọt nước mắt câm lặng.
Từ tầng sáu nhìn ra xa, cả thành phố rộng lớn ngập chìm trong một màn sương mù xám xịt. Những tòa nhà cao tầng hiện đại chọc trời phía trung tâm rực rỡ ánh đèn led đa sắc, những dòng xe cộ nối đuôi nhau phát ra từng vệt sáng đỏ rực trên những đại lộ thênh thang.
Ở ngoài kia, hàng triệu con người vẫn đang tất bật với cuộc mưu sinh thường nhật, đi làm, tan ca, tụ tập ăn uống dưới những mái hiên sáng trưng. Họ hoàn toàn không hay biết rằng, ngay giữa lòng đô thị phồn hoa này, dưới lớp vỏ bọc của một khu chung cư cũ kỹ nứt toác sắp sửa bị giải tỏa, lại đang tồn tại một cái bẫy sát cục tàn độc của giới huyền môn ngầm đã giăng sẵn suốt nhiều năm qua.
Tôi đi đến bên giường, với tay kéo chiếc ba lô du lịch màu đen để ở góc phòng ra.
Kéo khóa ngăn phụ, tôi lấy cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* bọc da bò thô ráp đặt lên mặt bàn. Bìa sách đã sờn rách theo thời gian, những góc cạnh mòn vẹt vì bàn tay của bao thế hệ đi trước. Ở trang đầu tiên, ba dòng chữ viết bằng mực tàu đen nhánh của ông nội vẫn hiện lên sắc sảo từng nét một:
Bất độ oan quỷ. Bất phá sát cục. Bất kết duyên âm.
Ba điều răn cứng của dòng họ Tô.
Ngày tôi rời quê lên thành phố nhập học, trước ban thờ tổ tiên nghi ngút khói trầm, ông nội đã bắt tôi quỳ suốt ba canh giờ để dập đầu thề giữ trọn ba điều cấm kỵ này. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đó là những lời răn dạy cẩn trọng của một người đi trước muốn con cháu sống đời bình an, tránh xa những thị phi oán cừu của giới pháp sư đầy cạm bẫy.
Nhưng đứng trước Thất Tinh Đinh Phách trận này, tôi mới thấm thía sự thâm sâu và tàn khốc ẩn sau ba điều răn ấy.
Không phá sát.
Nếu hôm nay tôi bốc đồng, cậy hết bảy cây đinh sắt kia lên để giải tỏa oán khí cho hành lang này, sát khí bị dồn nén mười mấy năm sẽ bùng nổ tức thì, cắn ngược lại người phá trận. Hơn thế nữa, hành động đó sẽ lập tức kinh động đến kẻ đã bày ra thế trận tàn độc này trong bóng tối, biến tôi từ một kẻ trọ vô tình thành mục tiêu ám sát trực tiếp của một thế lực huyền môn mà tôi chưa hề biết rõ nông sâu.
Không độ quỷ.
Oan hồn của Lê Hữu Quân hay bất kỳ thứ gì đang cào cửa đêm qua đã bị dính chặt vào trận pháp, trở thành một phần của hung sát. Cố dùng kinh chú để siêu độ cho nó sẽ chỉ rước lấy sự phản phệ của địa sát, tự kéo mình xuống vũng lầy lăng trì.
Còn lời răn thứ ba, không kết duyên âm, chỉ cần sơ sẩy để một sợi tơ duyên hay một giọt máu hòa vào thế giới bên kia, bản thân sẽ vĩnh viễn đánh mất quyền làm chủ thể xác, biến thành bù nhìn cho kẻ khác giật dây.
Tôi cúi đầu, nhìn vết máu bầm trên ngón tay trỏ của mình. Đêm qua, nhờ một giọt dương huyết và một chữ Trấn trên cuốn sách cổ, tôi mới tạm thời giữ được mạng sống trước tiếng gõ cửa ba ngắn một dài. Nhưng đó chỉ là đòn thăm dò đầu tiên. Chiếc gương Chuyển Hồn Kính dưới chân cầu thang vẫn còn đó, bảy cây đinh sắt vẫn đang ngày đêm găm chặt vào mạch máu của tòa nhà. Kẻ bày trận chắc chắn sẽ không để chiếc lồng này tiếp tục dang dở.
Tôi lấy một tấm vải điều màu đỏ sạch sẽ, cẩn thận bọc cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* lại từng lớp từng lớp. Tôi đặt cuốn sách xuống tận đáy chiếc ba lô, chèn thêm hai lớp quần áo dày bên trên rồi kéo chặt khóa sắt.
Gió bên ngoài cửa sổ càng lúc càng gầm rú dữ dội hơn. Tiếng mưa đập vào kính rầm rập như những nắm đấm vô hình trút giận xuống căn phòng nhỏ. Ánh đèn tuýp trên trần nhà lại chớp nháy hai lần, tiếng vo vo kim loại rung lên bần bật trong tĩnh lặng.
Tôi đứng thẳng lưng bên khung cửa sổ, hai bàn tay buông thõng siết chặt lại thành nắm đấm. Ánh mắt tôi xuyên qua màn mưa dầm dề, nhìn sâu vào màn đêm đen đặc đang nuốt chửng những dãy hành lang hun hút của tòa chung cư cũ.
Giữ vững ba điều răn không có nghĩa là buông xuôi chờ chết.
Kẻ ẩn mình trong bóng tối muốn biến tôi thành Lê Hữu Quân thứ hai, muốn biến căn phòng 604 thành tế đàn hoàn tất trận pháp. Nhưng cuốn sách của tổ tiên đang nằm trong tay tôi, đôi mắt âm dương này có thể nhìn thấu hư thực giữa hai bờ sống chết.
Muốn lấy mạng tôi làm vật tế, kẻ đó sẽ phải tự mình bước ra ánh sáng.