Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 13: Vị khách không mời từ tiệm đồ cổ
Tôi ngồi một mình trong căn phòng 604 chong ngọn đèn bàn bóng sợi đốt màu vàng đục, lắng tai nghe tiếng gió rít qua những khe hở của khối bê tông già…
Nội dung chương
Tôi ngồi một mình trong căn phòng 604 chong ngọn đèn bàn bóng sợi đốt màu vàng đục, lắng tai nghe tiếng gió rít qua những khe hở của khối bê tông già cỗi.
Gió đêm nay đổi hướng, thổi thốc từ phía bãi đất hoang phía đông nam về khu tập thể cũ kỹ này. Từng cơn gió quất mạnh vào khung cửa kính nứt nẻ ở góc ban công nhỏ, làm lớp kính mỏng rung lên bần bật theo từng nhịp thở của trời đất. Tiếng rít qua kẽ hở tạo thành chuỗi âm thanh the thé rợn người, tựa tiếng huýt sáo của ai đó đang lởn vởn ngay sát mép rèm cửa hoen ố. Tôi với tay vặn chặt thêm chốt kim loại đã rỉ sét để giữ cho hai cánh cửa không va đập vào nhau, nhưng mép kính rạn hình mạng nhện vẫn run rẩy phát ra tiếng rung khô khốc.
Căn phòng nồng nặc thứ mùi hỗn tạp giữa vôi ẩm, bột xi măng rơi vãi và dư vị của luồng khí xú uế dưới tầng năm vừa trào ngược lên ban nãy. Dù tôi đã dùng một mảnh giẻ dày bịt chặt miệng cống thoát sàn trong nhà tắm, cái lạnh tanh nồng ấy vẫn bám riết lấy không gian, đọng lại từng hạt ẩm li ti trên mặt bàn làm việc bằng gỗ ép.
Tôi kéo chiếc ghế gỗ sát lại gần bàn, ngửa bàn tay trái lên xem xét. Trên mu bàn tay, lớp da hãy còn đỏ ửng vì bị chà xát xà phòng quá mạnh, nhưng cảm giác nhờn dính của giọt nước rỉ xuống từ trần nhà hình như đã ăn sâu vào biểu bì, để lại một vệt thâm mờ nhạt chìm dưới lớp biểu mô.
Đôi mắt người đàn bà trùm áo mưa xám ở chiếu nghỉ cầu thang vẫn còn in đậm trong đầu tôi. Người phụ nữ ấy không mang theo hành lý, chiếc la bàn gỗ đào trong tay ả là loại vật dụng đặc chế của giới phong thủy tà môn, dùng để định vị âm huyệt và tử khí tụ tán. Cú gõ ngón tay khô khốc của ả lên mặt la bàn không phải một hành vi vô thức. Ả đã phát hiện ra tôi, hoặc chí ít ả nhận ra trên người tôi có mang theo một thứ khí tức không thuộc về người phàm trần.
Trên mặt bàn, cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* nằm im lìm dưới quầng sáng vàng vọt của bóng đèn dây tóc.
Bìa sách bằng da cừu thuộc màu nâu đen bóng nhẫy theo năm tháng, bốn góc bịt đồng thau mòn vẹt. Cuốn sách này là di vật duy nhất ông nội để lại cho tôi trước khi qua đời ở quê nhà, kèm theo ba điều răn thép: không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm. Từ ngày dọn về căn phòng 604 này, tôi luôn cất nó dưới đáy ba lô, bọc trong một lớp vải điều đỏ thắm để tránh tán khí. Nhưng tối nay, biến cố ở phòng 504 đã đẩy toàn bộ trục hung sát của tòa nhà vào trạng thái căng như dây đàn, buộc tôi phải lấy sách ra để tìm hiểu căn nguyên.
Tôi lật nhẹ từng trang giấy dó ngả vàng, mùi trầm mục và chu sa nhàn nhạt bốc lên làm dịu bớt bầu không khí u uất trong phòng. Những dòng chữ Hán chép tay ngay ngắn ghi chép về các loại tà pháp, trận đồ và địa mạch được viết bằng mực tàu đen nhánh. Nhiều đoạn bị khuyết góc do mối mọt gặm nhấm từ hàng chục năm trước, để lại những khoảng trống bí ẩn không lời giải đáp.
Tôi lật đến mục ghi chép về các loại sát cục trong nhà ở, ngón tay dừng lại ở trang vẽ hình đồ trận thất tinh nghịch hành. Đúng lúc ngón tay tôi vừa trượt qua mép giấy, một luồng khí lạnh buốt từ dưới gầm bàn đột ngột xông thẳng lên mặt.
Ngọn đèn bàn chớp giật liên hồi, sợi vonfram bên trong bóng thủy tinh phát ra tiếng rè rè chói tai.
Gió ngoài cửa sổ vẫn gầm rú, nhưng bên trong căn phòng kín mít này, không hề có một luồng gió nào lọt qua được lớp giẻ chèn cửa. Dẫu vậy, mép của cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* đặt trên bàn đột ngột rung lên bần bật.
Soạt.
Trang giấy dó tự động lật qua một trang.
Tôi nín thở, hai tay rút lui khỏi mặt bàn gỗ, lưng dán chặt vào thành ghế. Mắt trái của tôi bắt đầu co giật từng chập dữ dội, lớp màng đỏ thẫm hiện lên che khuất một phần tầm nhìn. Qua con mắt âm dương, tôi nhìn thấy một luồng sát khí màu đen xám quấn quanh cuốn sách, không phải thứ sát khí bình thường mà là loại âm khí bốc lên từ những xác chết chịu oan khuất tột cùng.
Soạt... soạt... rạp...
Những trang sách tự động lật giở liên tục trước mắt tôi, tốc độ mỗi lúc một nhanh. Tiếng giấy cọ vào nhau ràn rạt trong căn phòng tĩnh mịch tạo nên âm thanh khô khốc rợn người. Từng trang ghi chép về phù chú, cấm kỵ, các thuật bói toán lướt qua dưới ánh sáng vàng đục của chiếc đèn bàn. Cuốn sách lật đến gần phần cuối, nơi có những trang giấy dó để trắng tinh từ thuở ban đầu, chưa hề có một nét bút nào chạm vào.
Phập.
Cuốn sách dừng lại đột ngột.
Hai trang giấy mở rộng nằm trơ trọi dưới chụp đèn. Đó là một trang giấy dó hoàn toàn để trắng, mặt giấy thô ráp, lấm tấm những vụn vỏ cây chưa được nghiền mịn.
Tôi ghé sát mắt nhìn xuống, tim đập dồn dập từng hồi trong lồng ngực. Không có chữ. Chỉ có khoảng trắng hoang hoải của giấy cũ nhuốm màu thời gian.
Thế nhưng, chỉ trong vài hơi thở tiếp theo, thớ giấy màu vàng nhạt bắt đầu biến đổi.
Từ sâu bên trong cấu trúc của xơ giấy dó, những đốm màu đỏ tươi li ti bắt đầu trồi lên. Chúng giống như những giọt máu tươi bị rỉ ra từ bên dưới mặt bàn, chầm chậm thấm ngược lên bề mặt. Ban đầu chỉ là những chấm nhỏ bằng đầu kim, sau đó lan rộng ra, kết nối lại với nhau tạo thành những vệt ngoằn ngoèo. Thứ chất lỏng đó không phải mực viết thông thường, nó phát ra một mùi tanh nồng rất nhẹ, quyện chặt với mùi lưu huỳnh ẩm ướt.
Mực đỏ ngấm từ trong thớ giấy ra, tự uốn lượn thành từng nét chữ Hán chân phương, sắc lẹm như được khắc bằng mũi dao găm:
*Thế Thân Táng.*
Mỗi một nét chữ hiện lên, ngọn đèn sợi đốt lại hạ bớt một phần độ sáng. Điều đó khiến căn phòng càng lúc càng chìm sâu vào một quầng sáng mờ tối u ám.
Tôi ghìm chặt lòng bàn tay xuống đầu gối để ngăn cơn run rẩy vô cớ, tập trung đọc từng dòng chữ đỏ rực đang lần lượt hiện hình trên mặt giấy trắng:
*"Kẻ mượn xác đổi mệnh, tất lập sát cục nghịch thiên. Đem người sống đặt vào phương hung vị, khóa chặt lục khiếu, dìm trong nước cống uế tạp. Lấy dây thừng siết họng để hồn không xuất, lấy cọc gỗ ghìm lưng để phách không tan. Đầu hướng bắc, chân đạp nam, mặt úp xuống đất bùn chờ ngày thối rữa."*
Từng con chữ đỏ lòm đập thẳng vào mắt tôi, khiến gáy tôi lạnh toát.
Tư thế tử thi mà cuốn sách vừa miêu tả trùng khớp hoàn toàn với những gì tôi đã suy đoán và nhìn thấy từ vũng nước đen rỉ qua sàn phòng khách 504. Người đàn ông tầng dưới chết trong tư thế úp mặt xuống nền nhà tắm ẩm thấp, thi thể trương phình bị chèn ép dưới sức nặng của đồ gỗ, cổ họng nghẹn đặc tử khí mà không thể thoát ra ngoài.
Đó không phải là một cái chết do thù oán cá nhân thông thường. Kẻ thủ ác cố tình tạo ra một cái chết dơ bẩn, đau đớn và bế tắc để luyện thành một "thế thân".
Dòng chữ đỏ trên trang sách tiếp tục rỉ ra, nét chữ ngoằn ngoèo run rẩy như nét viết của một người đang hấp hối:
*"Thế thân đã thành, ba ngày tích tụ oán hận, bảy ngày đổi lấy dương thọ của kẻ chủ mưu. Một khi sát khí phát tiết, người ở phương trên gánh chịu ba phần trọc khí, kẻ qua đường chịu một phần tai ương. Nếu có dị nhân nhúng tay phá trận nửa chừng, vạn kiếp sát nghiệp trút ngược về thân kẻ ấy."*
Lời giải thích hiển hiện rõ ràng trước mắt. Người ở phương trên gánh chịu ba phần trọc khí chính là tôi, kẻ đang ngồi ngay bên trên hiện trường, ở căn phòng 604 này. Giọt nước rỉ thấu xương dính dớp trưa nay rơi xuống mu bàn tay tôi, dòng nước đen trào ngược qua nắp cống ban nãy, tất cả đều là trọc khí của trận Thế Thân Táng đang tìm cách tràn lên tìm vật dẫn.
Và lời răn thứ hai của ông nội, *bất phá sát cục*, một lần nữa được cuốn sách cảnh báo bằng thứ mực đỏ rợn người này. Kẻ bày ra trận pháp này thâm độc đến cùng cực. Hắn không chỉ muốn mượn mạng đổi thọ, mà còn gài sẵn một cái bẫy sát nghiệp để trói chết bất kỳ người tu tập huyền môn nào có ý định can thiệp.
Tôi giơ tay định chạm vào mép trang sách để kiểm tra chất mực, nhưng ngón tay chưa kịp hạ xuống thì tiếng động bên ngoài hành lang vang lên.
Cộc.
Tiếng gõ cửa khô khốc, nhẹ bẫng rơi vào khoảng không tĩnh mịch.
Tôi sững người, giữ nguyên tư thế cúi gập người trên bàn. Cả tòa chung cư tầng sáu lúc này chỉ có một mình tôi thuê trọ. Những căn phòng còn lại đều bỏ hoang, khóa gỉ sắt bám chặt từ nhiều năm nay. Người quản lý tòa nhà không bao giờ bước chân lên tầng này sau chín giờ tối, còn hàng xóm tầng dưới thì một người vừa chết thối rữa, người phụ nữ áo mưa xám kia cũng đã rời đi từ lúc xe cứu thương chuyển xác đi.
Cộc. Cộc.
Thêm hai tiếng gõ nữa nối tiếp, âm thanh vang lên ở phần dưới của cánh cửa gỗ, cách mặt sàn chỉ khoảng ba mươi phân.
Nó quá thấp đối với tầm với của một người trưởng thành. Tiếng gõ vang lên đều đặn, không có vẻ gì là hấp tấp, nhưng lại mang theo một thứ nhịp điệu rợn người làm lông tơ sau gáy tôi dựng đứng.
Tôi tắt ngọn đèn bàn. Căn phòng ngay lập tức chìm vào bóng tối đặc quánh, chỉ còn chút ánh sáng nhờ nhợ từ ngọn đèn đường xa xa hắt qua khung kính nứt nẻ ngoài ban công.
Mắt trái của tôi phát huy tác dụng trong bóng tối. Lớp màng mỏng màu đỏ cam mở rộng tầm nhìn, giúp tôi nhìn xuyên qua gian phòng nhỏ chật hẹp, hướng thẳng về phía cánh cửa ra vào bằng gỗ dán ọp ẹp.
Dưới khe cửa hẹp sát mép nền xi măng, có một vệt bóng đen đang nằm bất động.
Thứ đó không đứng thẳng. Nó đang áp sát mặt sàn, như thể một cơ thể đang trườn bò hoặc một đứa trẻ đang ngồi xổm co quắp ngay trước bậc thềm cửa phòng tôi.
Hức... hức...
Một tiếng thút thít nghẹn ngào luồn qua khe cửa, lọt vào trong phòng.
Âm thanh đó nhỏ xíu, the thé, nghèn nghẹn như tiếng khóc của một đứa trẻ chừng bốn, năm tuổi bị bỏ rơi giữa đêm lạnh. Tiếng khóc lúc đứt lúc nối, mang theo âm hưởng của bọt nước sủi bọt ùng ục trong cuống họng, mỗi một tiếng nấc lại kèm theo mùi hôi thối của bùn đen cống rãnh phả qua khe gỗ.
Mở cửa... mở cho con với... lạnh quá...
Giọng nói trẻ con thì thào qua then cài, từng từ từng chữ trượt trên nền gạch men lạnh ngắt.
Ngực tôi thắt lại trong một cảm giác nặng nề khó thở. Trực giác mách bảo tôi rằng đây chính là thứ âm linh sinh ra từ cái chết oan khuất ở tầng năm, hoặc tệ hơn, là một phần oán niệm của thuật Thế Thân Táng đang bị đẩy lên đây để tìm lối thoát. Thứ đó đang dùng hình hài và âm thanh của một đứa trẻ vô tội để đánh vào lòng trắc ẩn của người bên trong.
Nếu là một người bình thường không hiểu huyền thuật, có lẽ trong cơn hoảng loạn họ đã lao ra mở chốt cửa để kiểm tra xem có đứa trẻ nào lạc lõng ngoài hành lang hay không.
Nhưng nếu mở cánh cửa đó ra, âm khí tích tụ sẽ ùa vào như thác lũ, phá vỡ toàn bộ phong thủy căn phòng và kéo người mở cửa vào vòng xoáy của sát cục.
Lời răn thứ nhất của ông nội bỗng vang lên bên tai tôi rõ mồn một, trầm đục và dứt khoát: *Bất độ quỷ.*
Độ quỷ là việc của những bậc cao tăng đắc đạo hoặc những kẻ có pháp lực cao thâm gánh vác được nghiệp chướng thế gian. Một kẻ kế thừa tàn khuyết như tôi, bước chân vào việc độ hóa một linh hồn oán hận trong trận hung sát này chẳng khác nào tự thiêu thân trong biển lửa. Thương xót cho một oán linh đang chịu sự thao túng của tà thuật chính là con đường ngắn nhất để bước chân vào cửa tử.
Tôi đứng yên bên bàn làm việc, nuốt khan một ngụm nước bọt xuống cổ họng đang khô khốc như rang. Các khớp ngón tay nắm chặt lấy mép bàn gỗ ép đến mức trắng bệch.
Tôi không nhúc nhích. Tôi dằn xuống mọi sự tò mò và cảm giác xót xa đang manh nha trong lồng ngực.
Bên ngoài, thấy không có phản hồi, tiếng thút thít bỗng im bặt.
Khoảng không gian ngoài hành lang chìm vào một sự im lặng chết chóc trong vài nhịp thở. Ngay sau đó, âm thanh biến đổi.
Xoẹt!
Một tiếng cào xé rợn gai ốc vang lên trên mặt ngoài của cánh cửa gỗ.
Không còn là tiếng gõ cộc cộc giả vờ nhã nhặn nữa. Đó là âm thanh của những móng tay cứng như kim loại đang cào mạnh vào lớp sơn màu xanh đã bong tróc của cửa phòng 604.
Xoẹt... xoẹt... roạt...
Từng đường cào dài, kéo từ đỉnh cửa xuống tận sát chân tường. Mảnh vụn của lớp sơn gỗ cũ rơi lả tả xuống nền xi măng ngoài hành lang, phát ra những tiếng lách tách khô khốc.
Bóng đen dưới khe cửa bắt đầu co giật, phình to ra như một bọc mủ đen sì, ép chặt vào mép dưới cánh cửa. Gỗ dán của cánh cửa phòng tôi mỏng manh đến mức tôi có thể nhìn thấy phiến gỗ đang hơi cong vào phía trong dưới sức ép của thứ vô hình bên ngoài.
Cánh cửa rung lên từng hồi bần bật theo nhịp cào cấu điên cuồng. Tiếng thở phì phò tanh nồng luồn qua kẽ hở, mang theo mùi tử thi thối rữa và nước thải cống rãnh nồng nặc hơn bao giờ hết. Thứ đó biết tôi đang ở bên trong. Nó biết có người sống đang thở sau lớp then cài mỏng manh này, và nó thèm khát dương khí để giải thoát cho sự bế tắc của chính nó.
Tôi lấy lại bình tĩnh, từ từ xoay người lại.
Tôi quay lưng hoàn toàn về phía cánh cửa gỗ đang bị cào xé.
Mắt âm dương từ từ thu hẹp lại, giảm bớt luồng sát khí đập vào thị giác để giữ cho tâm trí không bị dao động. Tôi kéo ghế ngồi xuống, đặt hai bàn tay ngay ngắn lên mặt cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục*. Những dòng chữ đỏ rực về thuật Thế Thân Táng vẫn đang lấp lánh như than hồng trong bóng tối của căn phòng, như một lời nhắc nhở lạnh lùng về ranh giới sinh tử.
Suốt một đêm dài, gió bão ngoài trời tiếp tục gầm thét, hòa lẫn vào tiếng móng quỷ cào xước ngoài hành lang.
Mỗi nhịp cào rách lớp sơn gỗ là một lần thử thách giới hạn chịu đựng của thần kinh. Tiếng kim loại cọ vào thớ gỗ mục ràn rạt, ràn rạt, kéo dài từ nửa đêm cho đến tận lúc những tiếng chim sẻ đầu tiên cất lên trên mái tôn khu tập thể.
Tôi ngồi bất động trên ghế như một pho tượng đá, mắt nhìn vào khoảng không mờ mịt trước mặt, hai tai nghe trọn vẹn từng âm thanh cào cấu rợn người ấy mà không hề quay đầu lại một lần nào. Căn phòng 604 vẫn lạnh ngắt, và dấu ấn của trận sát cục tầng dưới đã chính thức chạm đến ngưỡng cửa của tôi.