Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 14: Trang sách mở giữa canh ba

Ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mùa đông rọi qua lớp kính bám đầy bụi than trên hành lang tầng sáu. Gió ngừng rít, nhưng cái lạnh thấu xương vẫn đọng lại…

Nội dung chương

Ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mùa đông rọi qua lớp kính bám đầy bụi than trên hành lang tầng sáu. Gió ngừng rít, nhưng cái lạnh thấu xương vẫn đọng lại trong từng thớ thịt.

Tôi bước ra khỏi phòng 604, cẩn thận khép cánh cửa gỗ ép lại sau lưng. Trên mặt ngoài của phiến gỗ dán, những vết cào cấu đêm qua hằn sâu thành từng rãnh nham nhở, để lộ phần cốt gỗ mùn cưa vàng vọt bên dưới lớp sơn xanh tróc vẩy. Mười đầu ngón tay của thứ oán linh đó cứng chẳng khác nào lưỡi đục sắt. Vụn sơn vụn gỗ rải rác dưới chân tường như vảy cá khô. Tôi dùng mũi giày gạt nhẹ đám mạt gỗ sang một góc, hít sâu một hơi không khí ẩm ướt nồng nặc mùi bùn cống rãnh còn sót lại rồi rảo bước xuống cầu thang.

Tầng năm vẫn im lìm tuyệt đối. Hai dải giấy niêm phong dán chéo trước cửa phòng 504 đã khô cứng, mép giấy hơi quăn lên vì hơi ẩm. Đám ruồi nhặng đêm qua đập cánh ầm ĩ hình như đã chết rũ hoặc chui sâu vào trong các hốc kẹt, không còn một tiếng động nhỏ nào lọt ra ngoài.

Tôi đi thẳng một mạch xuống sảnh tầng trệt.

Dưới chân cầu thang chung cư là một dãy hòm thư bằng sắt tây đã gỉ sét nghiêm trọng. Những chiếc hộp kim loại méo mó này được gắn vào tường từ hàng chục năm trước, lớp sơn xám bong tróc từng mảng lớn, để lộ màu kim loại đỏ quạch như máu đọng. Đa số các nắp hòm đều đã bung bản lề, bên trong chứa đầy hóa đơn tiền điện rách nát, tờ rơi quảng cáo khoan cắt bê tông đã ố vàng vì nước mưa tạt.

Tôi dừng chân trước hòm thư mang con số 604 đã mờ gần hết nét.

Khi đưa tay định gạt lớp mạng nhện giăng ngang miệng hòm, ngón tay tôi bỗng chạm phải một góc giấy ráp cứng kẹp sâu dưới khe hở hoen gỉ ở đáy hộp. Đó không phải tờ rơi thông thường. Tấm giấy có độ dày của loại giấy bồi thủ công ngày trước, viền mép bị xé nham nhở, nhuốm màu ố vàng của thời gian.

Tôi rút mẩu giấy ra.

Đó là một mẩu hóa đơn viết tay bằng mực tím đã phai màu, bên trên chỉ ghi vài dòng chữ ngắn ngủn cùng một con dấu vuông mờ tịt: *Tiệm phục chế sách da và sửa chữa cơ khí Lạc Thủy - Ngõ Lạc Thủy, số 17. Dưới cùng của tờ hóa đơn có một nét ký nguệch ngoạc bằng bút máy. Kèm theo đó là một dòng chữ khắc sâu vào thớ giấy: Vỏ bọc da trâu đen, chỉ gai tẩm nhựa thông, trả sau tiết Lập Đông.

Ngày tháng trên hóa đơn đã bị nước ngấm làm nhòe nhoẹt, nhưng nét chữ cứng cỏi như kia khiến lồng ngực tôi hơi chùng xuống. Nét chữ ấy rất giống thủ bút của ông nội tôi trong những trang ghi chú để lại ở đầu cuốn sách cổ. Phải chăng trước khi qua đời, ông từng đem một phần của cuốn bí điển hoặc một tài liệu nào đó đến nơi này để bọc lại?

Khuôn viên chung cư buổi sáng bắt đầu có vài bóng người già đi tập thể dục trở về, tiếng dép lê lẹt xẹt trên mặt bê tông hòa lẫn tiếng ho húng hắng phá tan sự tĩnh lặng. Tôi gấp mẩu hóa đơn nhét sâu vào túi áo khoác, kéo cao cổ áo len che kín cằm rồi bước nhanh ra khỏi cổng sắt.

Ngõ Lạc Thủy nằm cách khu chung cư của tôi chừng bốn cây số về phía bờ kênh cũ. Đó là một khu dân cư xập xệ hình thành từ những năm tám mươi, nằm kẹp giữa hai trục đường lớn mới mở. Những ngôi nhà ống ở đây cao lêu nghêu, xây chắp vá với đủ loại vật liệu, tầng trên nhô ra thụt vào che khuất gần hết ánh sáng mặt trời rọi xuống mặt ngõ.

Tôi đi bộ dọc theo con ngõ hẹp chỉ vừa hai chiếc xe máy tránh nhau. Nước thải từ những đường ống nhựa nứt nẻ trên cao tí tách rơi xuống những tấm bạt che tạm bợ, tạo nên chuỗi âm thanh lách tách đều đặn đến phát sốt ruột. Mặt đường lát gạch đỏ đã vỡ vụn, phủ một lớp rêu trơn trượt bốc lên mùi ẩm mốc của tường vôi lâu năm không thấy nắng.

Càng đi sâu vào trong, bóng người càng thưa thớt dần. Mùi dầu máy, mùi da thuộc ngâm hóa chất và mùi gỗ mục bắt đầu quyện vào nhau, đậm đặc trong không khí.

Căn nhà số 17 nằm nép mình ở một khúc quanh tối tăm nhất của ngõ. Phía trước cửa tiệm không có biển hiệu đèn led hay bảng quảng cáo bắt mắt. Chỉ có một tấm gỗ sồi mòn vẹt treo nghiêng ngả bên khung cửa sắt xếp đã rỉ sét, trên mặt gỗ khắc chìm năm chữ Hán đã mờ: *Lạc Thủy Trai Tu Thư*. Bên dưới tấm gỗ, một chiếc tủ kính nhỏ bày la liệt những bánh răng đồng, dây cót đồng hồ quả lắc han gỉ cùng vài xấp bìa da bò cứng quăn queo vì gió rét.

Tôi dừng lại trước bậc thềm xi măng mòn vẹt, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ lồng kính bên trong.

Két...

Bản lề khô dầu nghiến lên một tiếng chói tai.

Ngay khi đế giày của tôi vừa chạm qua ngưỡng cửa bằng gỗ lim đen bóng, một hiện tượng kỳ quặc ập đến bóp nghẹt thính giác của tôi.

Trong căn tiệm tối om rộng chừng hai mươi mét vuông, bốn bức tường treo kín hàng chục chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ đủ mọi kích cỡ. Trước khi tôi bước vào, từ ngoài ngõ đã có thể nghe thấy bản hòa tấu hỗn loạn của những tiếng kim loại va đập: tíc tắc, tíc tắc, keng, reng... Hàng chục con lắc bằng đồng đung đưa qua lại tạo nên một trường âm thanh dồn dập, bức bối.

Thế nhưng, ngay lúc bàn chân tôi hạ xuống mặt sàn đá hoa cũ kỹ bên trong tiệm, toàn bộ chuỗi âm thanh ấy dừng bặt.

Không có một giai đoạn giảm tốc nào. Hàng chục quả lắc đồng đang vung vẩy giữa chừng bỗng chốc đứng sững lại theo một góc nghiêng kỳ quái, như thể không gian bên trong căn phòng vừa bị một bàn tay vô hình tóm chặt lấy, đóng băng toàn bộ thời gian.

Sự im lặng ập xuống đột ngột đến mức tai tôi lùng bùng một hồi dài.

Mắt trái của tôi giật thắt lại một cái, cảm giác nhức buốt quen thuộc chạy dọc theo hốc mắt. Dưới góc nhìn của mắt âm dương, tôi thấy một luồng từ trường màu xám tro tỏa ra từ những góc tường ẩm thấp, hội tụ về phía chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ kê sát góc trong cùng của gian phòng.

Nơi đó có một bóng người đang ngồi còng lưng dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch.

Cửa không khóa, nhưng khách đến thì mang theo phong sương nặng quá.

Giọng nói cất lên khàn đặc, khô khốc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau dưới đáy giếng cạn.

Người đàn ông ngồi sau bàn từ từ ngẩng đầu lên. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu, diện mạo của lão hiện ra rõ ràng từng nét khắc khổ. Lão chừng ngoài sáu mươi tuổi, thân hình gầy guộc quấn trong một chiếc áo bông xám bạc màu đã rách vài chỗ ở khuỷu tay. Ống quần bên trái của lão bị cắt cụt đến tận đùi, ghim lại bằng một chiếc kim băng gỉ sét lớn.

Nhưng điểm khiến người ta lạnh gáy nhất lại nằm trên gương mặt lão.

Mắt trái của lão bị hỏng hoàn toàn, mí mắt sụp xuống dính chặt vào nhau tạo thành một vết sẹo co rút sâu hoắm, nhăn nhúm kéo dài từ thái dương xuống tận gò má. Chỉ còn mắt phải của lão còn nguyên vẹn, con ngươi màu vàng đục như mắt loài bò sát, sắc lẹm và lạnh lẽo chĩa thẳng vào tôi.

Đó chính là lão thợ đóng sách Trần Thao.

Lão Trần không đứng dậy, tay phải lão vẫn đang cầm một chiếc dùi sắt nhọn hoắt dùng để xâu lỗ sách da, đầu dùi còn dính những sợi chỉ gai màu nâu sẫm. Lão đặt chiếc dùi xuống mặt bàn gỗ lót cao su phát ra một tiếng cộp đanh gọn.

Cậu tìm ai? Lão hỏi, con ngươi vàng đục đảo một vòng từ đỉnh đầu xuống gót chân tôi.

Tôi bước thêm hai bước vào trong tiệm, giữ một khoảng cách an toàn chừng năm bước chân trước bàn làm việc của lão. Căn phòng sặc sùi mùi keo da trâu và mùi dầu nhớt dùng cho đồng hồ cơ khí.

Tôi tìm người thợ đóng sách theo địa chỉ trên tờ hóa đơn này.

Tôi rút mẩu giấy bồi nhàu nát trong túi áo ra, đặt nhẹ lên mép bàn làm việc rồi đẩy về phía lão.

Lão Trần liếc mắt nhìn tờ giấy, khóe miệng giật giật tạo nên những nếp nhăn xô lệch quanh vết sẹo mắt trái. Lão không vội cầm lấy tờ hóa đơn mà đưa bàn tay khẳng khiu, khớp xương nổi gồ ghề như cành củi khô ra trước ánh đèn dầu.

Khi ngón tay trỏ của tôi vừa thu về sau cú đẩy giấy, ánh lửa đèn dầu đỏ quạch chiếu thẳng vào đầu ngón tay tôi.

Trên đầu ngón tay trỏ và ngón giữa bàn tay phải của tôi, vệt mực đỏ chu sa ám vào da thịt từ đêm hôm trước vẫn chưa phai hết. Đó là thứ chu sa thượng hạng tự hiện trên trang sách của thuật Thế Thân Táng, mang theo mùi tanh nồng của huyết dụ và khí tức âm hàn đặc trưng.

Mắt phải của lão Trần bỗng co rút lại thành một chấm nhỏ. Lão chồm người tới trước, chiếc mũi gồ ghồ phập phồng hít một hơi dài vào không khí, như thể đang ngửi một thứ mùi vị vô hình bốc lên từ người tôi.

Họ Tô... Giọng lão Trần hạ thấp xuống một tông, trầm đục và run rẩy một cách kỳ dị. Mùi chu sa nung trong vạc đồng bảy bảy bốn mươi chín ngày, pha máu đầu mào gà trống hoa và sáp ong rừng... Cả cái thành phố này, chỉ có một người từng dùng loại mực luyện hồn này để chép sách.

Lão ngẩng phắt mặt lên, mắt chột co giật liên hồi, nhãn cầu bên phải sáng rực lên một thứ ánh sáng sắc bén đến rợn người:

Tô Hoài Sơn là gì của cậu?

Lồng ngực tôi đập mạnh một nhịp. Tô Hoài Sơn chính là tên thật của ông nội tôi. Kể từ khi ông qua đời ba năm trước ở vùng quê xa xôi, chưa từng có ai ở thành phố này nhắc đến tên ông trước mặt tôi một cách chuẩn xác như vậy.

Là ông nội tôi. Tôi đáp ngắn gọn, ánh mắt không hề né tránh cái nhìn xoi mói của lão già tàn tật.

Lão Trần thở hắt ra một hơi dài, luồng hơi trắng đục phả vào ngọn đèn dầu làm ngọn lửa chao đảo ngả nghiêng. Lão dựa lưng vào chiếc ghế gỗ bọc đệm rách nát, bàn tay gầy guộc chộp lấy mẩu hóa đơn trên bàn, đưa lên sát mắt phải để soi từng nét chữ.

Ba mươi năm rồi... Lão lẩm bẩm, giọng nói chìm trong sự hoài niệm lạnh lẽo. Năm đó lão già nhà cậu mang một tập cổ tịch rách nát đến đây, bắt tôi dùng da trâu đen ba tuổi bị sét đánh chết để làm bìa, dùng chỉ gai ngâm dầu thông bách tán để khâu từng nếp gấp. Lão bảo cuốn sách đó ghi chép những thứ không nên tồn tại trên đời. Nếu không dùng da trâu trấn áp tà khí, âm hồn trong sách sẽ cắn nuốt người trông coi nó.

Lão buông tờ giấy xuống, tiếng cười khùng khục nghẹn lại nơi cuống họng:

Lão Hoài Sơn chết rồi sao?

Mất ba năm trước. Tôi bình thản nói.

Chết là phải. Lão Trần gõ ngón tay cùi cụi xuống mặt bàn, âm thanh khô khốc vang vọng giữa căn phòng im ắng đến rợn người. Cả đời lão đi ngược lại quy luật sinh tử, mắt âm dương nhìn thấu âm dương nhị giới, sống được đến tuổi bảy mươi đã là trời xanh bỏ sót. Còn cậu... cậu kế thừa cuốn sách đó rồi đúng không?

Tôi im lặng không đáp. Trong giới huyền môn ngầm, sự im lặng chính là câu trả lời an toàn nhất. Lời răn của ông nội luôn khắc sâu trong đầu tôi: không bộc lộ căn cơ, không khoe khoang pháp bảo.

Nhưng lão già chột mắt này rõ ràng không cần tôi xác nhận. Lão liếc nhìn chiếc ba lô vải bạc màu tôi đang đeo chéo bên hông, khóe môi méo mó nhếch lên để lộ vài chiếc răng vàng ố.

Cậu không cần giấu. Mùi của cuốn *Huyền Môn Quỷ Lục* ngấm vào da thịt cậu từ trong tủy xương rồi. Vệt mực đỏ trên tay cậu là dấu tích của việc sách tự khai trang, đúng chứ? Cuốn sách đó một khi đã tự động hiện mực đỏ, tức là nó đã ngửi thấy mùi máu tanh của một đại trận sát cục vừa mới khởi động.

Lão Trần chống hai tay lên bàn, chồm nửa thân trên về phía tôi. Khoảng cách thu hẹp lại khiến tôi ngửi thấy rõ mùi thuốc rê nồng nặc lẫn mùi da thú ngâm chua bốc ra từ người lão.

Cậu có biết tại sao ba mươi năm trước ông nội cậu phải bọc cuốn sách đó bằng da trâu đen không? Lão gằn từng tiếng, mắt phải mở to trừng trừng.

Để ngăn âm khí rò rỉ? Tôi hỏi.

Âm khí rò rỉ chỉ là chuyện nhỏ! Lão Trần gắt lên, giọng khàn đặc như nghẹn đờm. Điều nguy hiểm nhất của cuốn sách đó không phải là những bí thuật tà môn ghi bên trong, mà là bản thân chất liệu làm nên nó. Từng trang giấy của cuốn sách đó đều được tẩm luyện bằng oán khí ngàn năm của bãi tha ma cổ. Nó là một khối 'tính linh' thuần âm!

Lão Trần chỉ ngón tay khẳng khiu về phía lồng ngực tôi:

Đối với những kẻ hành nghề huyền môn chính đạo, nó là cấm thư, là thứ tà vật gieo rắc tai ương. Nhưng đối với những kẻ nuôi quỷ, những phường tà tu đang ẩn nấp dưới đáy cống rãnh của cái thành phố này, cuốn sách cậu mang bên mình chính là mồi nhử chết người!

Lão dừng lại một chút, mắt chột khẽ giật giật, thanh âm hạ thấp xuống thành tiếng thì thầm rợn tóc gáy:

Hương vị của nó thơm tho và quyến rũ đối với lũ quỷ đói chẳng khác nào thịt tươi ném vào đàn chó sói. Cậu mang nó bên người, chẳng khác nào một ngọn đuốc rực lửa giữa đêm đen buốt giá. Đêm qua cậu đã nếm mùi rồi phải không? Tiếng móng vuốt cào cửa? Mùi bùn đen cống rãnh? Đó mới chỉ là món khai vị của một con quỷ con bị trận Thế Thân Táng ép ra mà thôi.

Tôi siết chặt quai ba lô. Lời nói của lão Trần khớp từng chi tiết với những gì tôi đã trải qua ở tầng sáu đêm qua. Người đàn bà áo mưa xám cầm la bàn gỗ đào, cái chết của người đàn ông ở phòng 504, và tiếng cào xé điên cuồng trên cánh cửa gỗ phòng tôi. Tất cả không phải ngẫu nhiên mà là một mắt xích đã được tính toán chuẩn xác.

Ông biết ai đứng sau trận Thế Thân Táng ở khu chung cư cũ? Tôi nhìn thẳng vào mắt lão, hỏi dồn.

Lão Trần cười khẩy, lắc đầu quầy quậy:

Tôi chỉ là một lão thợ đóng sách tàn phế sống chui rúc trong ngõ tối, việc của giới huyền môn ngầm các người, tôi không có mạng để xen vào. Nhưng tôi nợ lão Hoài Sơn một ân tình. Năm xưa nếu lão không chặt một chân trái trúng độc thi của tôi, cái mạng già này đã tan rữa từ ba mươi năm trước rồi.

Lão đưa tay kéo ngăn kéo bàn làm việc ra. Một tiếng kẽo kẹt kéo dài vang lên trong sự tĩnh lặng của căn phòng. Từ trong ngăn kéo bụi bặm, lão lôi ra một chiếc hộp sắt dẹp bằng bàn tay, nắp hộp hoen gỉ dán một mảnh giấy vàng đã rách nát.

Lão mở nắp hộp, bên trong là một cục sáp màu xám tro dẻo quánh, tỏa ra mùi thơm ngai ngái của cây ngải cứu khô và nhựa bồ kết.

Cầm lấy thứ này. Lão Trần đẩy chiếc hộp sắt về phía tôi. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, cạo một chút sáp này bôi lên bốn góc của cuốn sách và chốt cửa phòng. Nó là sáp phong ấn làm từ mỡ lợn lòi đen trộn tro bùa trừ tà. Nó không giúp cậu giết được thứ gì, nhưng có thể tạm thời che giấu bớt mùi tanh của cuốn sách, khiến lũ quỷ vật và những kẻ cầm la bàn dò la không thể định vị chính xác vị trí của cậu.

Tôi nhìn chiếc hộp sáp trong tay lão, chần chừ vài nhịp thở rồi đưa tay đón lấy. Lớp kim loại lạnh ngắt truyền qua da thịt, mang lại một cảm giác nặng trịch đến bất thường.

Cảm ơn lão Trần. Tôi cất chiếc hộp sắt vào túi áo trong.

Đừng vội cảm ơn. Lão Trần thu tay về, ánh mắt lại trở nên lạnh lùng và xa cách như lúc ban đầu. Tôi giúp cậu vì món nợ với lão già họ Tô, không phải vì muốn kết giao với cậu. Cuốn sách đó đã mở trang đỏ, tức là bánh xe nhân quả đã bắt đầu lăn. Những kẻ ba trí trận Thế Thân Táng ở tầng dưới căn nhà cậu không phải hạng tầm thường đâu. Chúng nó đang mượn địa mạch của khu chung cư mục nát đó để nuôi một thứ cực kỳ hung hiểm.

Lão gõ ngón tay xuống bàn, thanh âm trầm đục vang lên nhát gừng:

Nếu cậu không đủ bản lĩnh, hoặc phạm vào ba điều răn của họ Tô, cậu sẽ là kẻ tiếp theo bị nhét vào cỗ quan tài thế thân đó. Đến lúc ấy, cuốn sách sẽ đổi chủ, còn cái xác của cậu sẽ rữa nát dưới đáy cống như thằng khốn ở phòng 504.

Lão dứt lời, không thèm nhìn tôi thêm một lần nào nữa. Lão cúi đầu xuống, cầm lại chiếc dùi sắt nhọn hoắt và tiếp tục đâm mạnh vào mép của một tấm da trâu dày cộp trên bàn.

Phập.

Mũi dùi xuyên qua lớp da dày, phát ra một âm thanh nghẹn ứ rợn người.

Tôi hiểu rằng cuộc đối thoại đã kết thúc. Tôi khẽ gật đầu chào lão rồi xoay người bước ra phía cửa.

Ngay khi gót giày của tôi vừa nhấc qua bậc cửa gỗ lim để bước ra con ngõ Lạc Thủy ẩm ướt, một luồng không khí lạnh buốt từ phía sau lưng thình lình ùa tới.

Cạch!

Tíc tắc, tíc tắc, tíc tắc...

Keng! Keng! Keng!

Toàn bộ hàng chục chiếc đồng hồ quả lắc treo trên bốn bức tường trong tiệm đồng loạt sống dậy. Những quả lắc bằng đồng vung lên điên cuồng, hàng chục chiếc kim giây kim phút nhảy múa loạn xạ trên mặt số ố vàng, tạo nên một chuỗi âm thanh kim khí rền vang, gắt gỏng như tiếng nghiến răng của một bầy thú dữ vừa được tháo cũi.

Tôi quay đầu nhìn lại qua khe cửa kính mờ đục.

Bên trong căn phòng tối tăm, lão Trần vẫn ngồi bất động dưới ánh đèn dầu đỏ quạch, chiếc bóng gầy guộc cụt chân của lão in lên vách tường loang lổ, méo mó và dài ngoằng vươn tận lên trần nhà. Mắt phải của lão không nhìn vào tấm da trâu nữa, mà đang trừng trừng nhìn thẳng vào bóng lưng tôi qua khe cửa kính, khóe miệng nở một nụ cười quái đản không có chút hơi ấm của người sống.

Chương khác

Xem thêm