Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 16: Tiếng thở dài sau vách tường

Tiếng kim loại va đập chan chát từ các tầng trên vọng xuống, xé toạc bầu không khí ẩm ướt của lối cầu thang bộ. Tôi đứng tựa vào thanh lan can sắt gỉ ở…

Nội dung chương

Tiếng kim loại va đập chan chát từ các tầng trên vọng xuống, xé toạc bầu không khí ẩm ướt của lối cầu thang bộ.

Tôi đứng tựa vào thanh lan can sắt gỉ ở chân cầu thang tầng trệt, ngón tay vẫn còn vương mùi giấm tro khét lẹt. Dưới chân tôi, vệt cháy đen sì trên bậc thềm xi măng vẫn đang tỏa ra từng đợt hơi lạnh gai người. Cú giật âm sát vừa rồi đã đứt gãy, nhưng dư chấn của nó khiến bắp chân phải của tôi căng cứng, từng thớ thịt giật lên từng hồi đau nhức. Tôi hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim đang đập dồn dập, kéo cao cổ áo khoác rồi cất bước đi lên.

Tòa chung cư cũ kỹ này về đêm luôn mang lại cảm giác ngột ngạt khó tả. Những bức tường quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra lớp gạch đỏ mục ruỗng và những đường dây điện chằng chịt như mạng nhện bò dọc trần nhà. Tiếng nước nhỏ giọt từ những đường ống rỉ sét gõ đều đặn xuống nền gạch tàu vỡ vụn: tách, tách, tách.

Khi bước chân tôi chạm đến khúc quanh của chiếu nghỉ tầng ba dẫn lên tầng bốn, tiếng động hỗn loạn phía trên càng lúc càng rõ rệt.

Đó là tiếng kéo lê bàn ghế thô bạo trên sàn xi măng, xen lẫn tiếng đồ đạc rơi loảng xoảng và tiếng thở dốc đầy sợ hãi.

Tôi dừng lại ở bậc thang thứ mười, nép mình vào khoảng tối của góc tường. Từ cánh cửa căn hộ 402 đang mở toang, một luồng gió lạnh buốt mang theo mùi ẩm mốc xộc thẳng ra hành lang. Một người đàn ông trung niên với dáng người gầy gò, mặc chiếc áo ba lỗ ố vàng và quần đùi xộc xệch, đang hối hả quăng từng bọc đồ ra ngoài cửa.

Đó là ông Tôn, người thuê căn hộ 402 đã gần nửa năm nay. Bình thường ông ta là kẻ ít nói, sáng sớm đi làm thuê ở chợ đầu mối, tối mịt mới về phòng đóng chặt cửa, hầu như không bao giờ giao tiếp với bất kỳ ai trong khu nhà.

Nhưng lúc này, ông Tôn hoàn toàn biến thành một kẻ điên loạn.

Hai mắt ông ta trũng sâu, quầng thâm đen sì lan rộng đến tận gò má, tròng mắt đỏ ngầu chằng chịt những tia máu vỡ. Đôi bàn tay gầy guộc run rẩy dữ dội khi cố nhét đống quần áo nhàu nát vào một chiếc bao tải dứa màu xanh rách mép.

Dưới gầm giường... lại cào... lại cào rồi...

Ông Tôn vừa lúi húi buộc miệng bao tải vừa lẩm bẩm liên tục. Giọng ông ta khàn đặc, the thé như tiếng móng tay miết trên bảng đen:

Nó nằm dưới đó... Mười ngón tay không có da... Cào suốt đêm... Cào rách cả dát giường... Sắp chui lên rồi...

Một bọc ni lông đựng vài gói mì tôm và chai dầu ăn tuột khỏi tay ông ta, rơi xuống sàn xi măng vỡ toang. Dầu ăn màu vàng sền sệt tràn ra, hòa lẫn với lớp bụi bẩn cáu ghét dưới chân tường. Nhưng ông Tôn thậm chí không thèm nhìn xuống bãi dầu loang. Ông ta vác chiếc bao tải dứa lên vai, tay kia kéo lê một chiếc quạt cây đã gãy mất một cánh, loạng choạng lao ra phía cầu thang.

Vừa bước ra khỏi cửa, ông ta suýt đâm sầm vào tôi.

Chiếc quạt cây rơi cạch xuống nền gạch. Ông Tôn giật nảy mình, cả người co rúm lại như con thú bị dồn vào chân tường. Ông ta ngẩng phắt đầu lên, trừng trừng nhìn tôi với ánh mắt hoang dại tột độ. Hơi thở của ông ta phả ra mùi chua loét của thức ăn thiu và sự kinh hoàng tích tụ lâu ngày.

Tránh ra! Cút ngay! Ông Tôn hét lên thất thanh, giọng lạc đi.

Tôi đứng yên tại chỗ, hai tay buông thõng sát mép quần, bình tĩnh quan sát vầng trán của ông ta. Dưới góc nhìn của mắt âm dương, một dải khí xám đen đang quấn chặt lấy ấn đường người đàn ông này. Khí sắc suy kiệt đến mức da mặt ông ta xám ngoét như người chết trôi, hai bên thái dương lõm sâu vào trong.

Bác Tôn, đêm hôm thế này dọn nhà đi đâu? Tôi mở miệng, giọng trầm và chậm rãi cốt để kéo lại một chút tỉnh táo cho ông ta.

Nghe thấy tên mình, con ngươi dại đi của ông Tôn hơi co rút lại. Ông ta nhìn chằm chằm vào mặt tôi vài giây, hình như nhận ra tôi là người sống ở tầng trên. Nỗi sợ hãi trong mắt ông ta không hề giảm đi mà lại bùng lên dữ dội hơn, biến thành sự kích động điên cuồng.

Ông ta vươn bàn tay run rẩy nắm lấy cổ tay áo tôi, sức bóp mạnh đến mức những khớp xương ngón tay trắng bệch ra:

Cậu... cậu là thằng ở phòng 604 đúng không? Chạy đi! Mau dọn đồ mà chạy đi!

Có chuyện gì trong phòng 402? Tôi hỏi gặng, ánh mắt liếc qua khe cửa căn phòng đang mở toang phía sau lưng ông ta. Bên trong tối om, chỉ có một chiếc đệm cũ nát vứt chỏng trơ giữa sàn, xung quanh là vô số mảnh vụn của chiếu cói bị cào xé rách bươm.

Nó ở dưới sàn! Không phải một con... mà là nhiều thứ lắm! Răng ông Tôn đập vào nhau lập cập, nước bọt sùi ra hai bên mép. Ba đêm nay rồi, cứ đúng mười hai giờ đêm là gầm giường phát ra tiếng sột soạt. Đêm đầu tiên tôi tưởng là chuột. Đêm thứ hai, tôi cúi xuống rọi đèn pin... tôi thấy những ngón tay... những ngón tay dài ngoằng đen sì thò ra từ khe nứt xi măng dưới gầm giường, móng tay cào vào dát gỗ nghe ken két... Đến đêm nay, nó không cào dát giường nữa...

Ông Tôn ngừng bặt, hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng, đồng tử giãn to hết cỡ.

Nó làm sao? Tôi siết nhẹ cổ tay, truyền một chút lực để giữ ông ta không ngã quỵ.

Nó... nó cào vào mặt dưới của đệm tôi nằm... Giọng ông ta chuyển thành tiếng rên rỉ thảm thiết. "Tôi nằm ngửa, lưng tôi cảm nhận rõ từng đầu móng tay sắc nhọn đẩy lớp bông ép gồ lên theo từng nhịp thở của tôi. Nó đang đo kích thước lưng tôi... Nó muốn kéo tôi xuống khe nứt!"

Dứt lời, ông Tôn gạt phắt tay tôi ra, như thể sợ rằng nán lại thêm một giây thì thứ dưới gầm giường sẽ trườn ra tóm lấy chân mình. Ông ta vứt lại chiếc quạt cây hỏng, một tay vác bao tải dứa, tay kia bám chặt vào lan can cầu thang rồi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng xuống tầng dưới.

Tiếng bước chân gấp gáp của ông ta nện huỳnh huỵch trên bậc thang xi măng, vang vọng khắp giếng thang rồi nhỏ dần, cuối cùng chìm hẳn vào tiếng mưa rào rào ngoài sân chung cư.

Hành lang tầng bốn trở lại sự vắng lặng chết chóc.

Tôi đứng một mình giữa khoảng không mờ tối, lắng nghe tiếng gió lùa qua những ô cửa chớp vỡ kính ở chiếu nghỉ. Căn phòng 402 bỏ hoang toát ra thứ mùi tanh nồng của đất bùn và nấm mốc rữa nát. Quả nhiên những gì lão Trần nói không hề sai, trận Thế Thân Táng đang tác động mạnh mẽ lên toàn bộ cấu trúc của tòa nhà này. Người ở phòng 504 đã chết biến thành cái xác rữa dưới cống, còn người ở phòng 402 thì bị dọa cho hồn xiêu phách lạc phải bỏ trốn ngay trong đêm.

Tôi quay người, bước về phía góc chân cầu thang dẫn tiếp lên tầng năm.

Tại góc tối này, người ta thường chất đống những bao rác sinh hoạt chưa kịp mang xuống tầng trệt, cùng với đủ thứ phế liệu cũ hỏng của các hộ gia đình: những tấm ván mục, xô chậu nhựa nứt vỡ và những đống giẻ rách cáu bẩn.

Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc từ đống rác ẩm. Nhưng giữa mớ hỗn độn đó, một tia sáng kim loại mờ đục đập vào mắt tôi.

Một vật thể hình tròn nằm khuất sau chiếc xô sơn cũ bị lật úp.

Tôi ngồi xổm xuống, gạt một mẩu xốp gãy sang bên cạnh. Đó là một tấm gương bát quái bằng đồng thau cỡ chừng bàn tay xòe rộng. Chất đồng đã ngả sang màu xám xịt do bị oxy hóa lâu ngày, mép viền ngoài chạm khắc tám quẻ càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài đã mòn vẹt.

Điều khiến tôi phải nheo mắt lại là tình trạng của tấm gương.

Nó không phải bị rơi vỡ ngẫu nhiên. Bề mặt tấm gương dày cộp bằng đồng đã bị một lực chém cực mạnh bổ thẳng vào chính giữa, chia đôi vòng tròn âm dương ở tâm gương thành hai nửa rạn nứt. Vết nứt sắc ngọt, kéo dài từ quẻ Khảm ở phía trên xuyên thẳng qua quẻ Ly ở phía dưới.

Khi tôi đưa tay nắm lấy mép kim loại lạnh ngắt để nhấc lên, tôi nhận thấy sức nặng bất thường của nó. Tấm gương hình như đang dính chặt lấy một thứ đáng sợ nằm bên dưới.

Tôi dùng lực nhấc bổng tấm gương lên.

Phía dưới mặt gương úp sấp không phải là nền xi măng, mà là một búi tóc rối đen sì, bết dính nước cống đặc quánh. Những sợi tóc dài ngắn không đều, quấn chặt lấy nhau thành một búi to bằng nắm tay trẻ con, tỏa ra mùi mỡ người thối rữa nồng nặc đến buồn nôn. Từng sợi tóc đen như những con giun đất đang ngâm mình trong thứ dịch nhầy màu nâu sẫm, dính chặt vào lớp kính tráng thủy ngân ở mặt trước của tấm gương.

Tôi đặt ba lô xuống đất, lấy chiếc bật lửa từ trong túi quần ra.

Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi rõ vị trí ban đầu của tấm gương bát quái trước khi nó bị ai đó đập vỡ và vứt vào đống rác này.

Trên bức tường xi măng xám xịt ngay góc cầu thang tầng bốn, cách mặt đất chừng một mét rưỡi, có một chiếc đinh sắt dài bốn phân đã hoen gỉ cắm sâu vào mạch vữa. Quanh chiếc đinh vẫn còn một vòng tròn bụi bặm in rõ trên lớp vôi ố, kích thước hoàn toàn trùng khớp với tấm gương bát quái tôi đang cầm trên tay.

Tôi đứng lùi lại hai bước, ngẩng đầu nhìn theo đường ngắm thẳng từ chiếc đinh sắt đó.

Vị trí treo gương hoàn toàn nghịch lý.

Theo quy tắc phong thủy thông thường của các phái Huyền Môn, gương bát quái lồi hay phẳng đều được treo trước cửa chính hoặc cửa sổ hướng ra ngoài đường lớn để phản xạ sát khí, đẩy hung khí từ môi trường bên ngoài ra xa nơi ở. Nhưng tấm gương ở tầng bốn này lại được treo ngược vào phía trong.

Nó được đặt ngay khúc quanh chết của cầu thang bộ, góc chiếu nghiêng đúng bốn mươi lăm độ, hướng thẳng mặt gương vào giếng trời trung tâm và hút trọn luồng khí từ các bậc thang đi lên.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên đến đỉnh đầu tôi.

Đây không phải là ba cục trấn trạch để bảo vệ người sống. Đây là thủ pháp "Dẫn Hung Nhập Hộ", biến toàn bộ giếng thang của tòa chung cư cũ này thành một chiếc phễu khổng lồ.

Tòa nhà này có kết cấu hình hộp khép kín đặc trưng của các khu tập thể xây dựng từ nhiều thập kỷ trước, với giếng trời ở giữa làm trục thông gió duy nhất. Khi một tấm gương bát quái bị yểm bùa nghịch chuyển và cắm vào đúng mạch khí tầng bốn, nó sẽ biến luồng âm sát sinh ra từ cái chết của phòng 504 và sự u uất của phòng 402 thành một dòng chảy cuộn xoáy.

Ai đó đã cố tình dùng tấm gương này để chặn đứng đường thoát khí tự nhiên của tòa nhà, biến bốn tầng dưới thành một chiếc lồng giam nhốt hung sát. Sau đó, kẻ đó dùng một nhát chém bằng binh khí ngâm chì để phá vỡ thế cân bằng của quẻ Khảm và quẻ Ly trên mặt gương, ép cho toàn bộ luồng oán khí bị giam hãm phải trào ngược lên phía trên theo lối cầu thang duy nhất.

Mục tiêu của luồng khí hung tàn bạo đó chỉ có thể là tầng cao nhất: tầng sáu. Nơi căn phòng 604 của tôi đang tọa lạc.

Mọi thứ khớp nối với nhau một cách tàn nhẫn. Sự xuất hiện của người đàn bà áo mưa xám cầm la bàn gỗ đào, tiếng cào cửa đêm qua, và sợi chỉ âm sát đuổi theo tôi từ ngõ Lạc Thủy về tận bậc thềm chung cư. Tất cả không phải là những hiện tượng kinh dị rời rạc. Một kẻ am hiểu sâu sắc về phong thủy âm phần đang từng bước siết chặt chiếc thòng lọng quanh cổ tôi.

Tôi cúi đầu nhìn lại mảnh gương vỡ trên tay.

Dưới ánh sáng leo lét của chiếc bật lửa, lớp dịch nhầy bết dính mớ tóc rối trên mặt gương khẽ động đậy. Tôi đưa tay áo khoác quẹt mạnh một đường ngang qua mặt kính để lau đi lớp bụi bẩn và dịch nhớt, muốn xem kỹ vết nứt cắt qua trục âm dương.

Mặt kính tráng thủy ngân ố vàng phản chiếu ánh lửa đỏ quạch.

Tôi đưa mặt lại gần hơn.

Nhưng hình ảnh hiện lên trong lớp gương rạn nứt không phải là khuôn mặt của tôi.

Dưới làn sương mờ đục của tấm kính vỡ, một cái đầu người lờ mờ hiện ra từ đáy sâu của tấm gương. Đó là một khuôn mặt người trắng bệch, nhẵn thín và phẳng lỳ từ trán xuống đến cằm.

Khuôn mặt đó hoàn toàn không có mắt, không có lông mày, không có sống mũi hay khóe miệng. Chỉ có một lớp da thịt trắng bợt như thịt lợn cạo sạch lông, căng bóng và ươn ướt, đang áp chặt vào mặt trong của tấm kính vỡ.

Nó dán sát đến mức tôi có thể thấy rõ lớp da thịt không có ngũ quan ấy bị ép dẹt ra trên bề mặt thủy tinh, phập phồng theo từng nhịp thở của chính lồng ngực tôi.

Bàn tay tôi cầm mép đồng bỗng chốc tê dại như vừa chạm vào một tảng băng trôi. Mắt âm dương bên trái tôi nhói buốt dữ dội, một luồng khí lạnh thấu xương từ trong mảnh gương vỡ thuận theo ngón tay tôi xông thẳng vào kinh mạch.

Xoẹt!

Ngọn lửa trên chiếc bật lửa trong tay phải tôi đột ngột biến thành màu xanh lè như mắt mèo ma, rồi phụt tắt ngấm.

Bóng tối đặc quánh lập tức nuốt chửng khúc quanh cầu thang tầng bốn.

Trong bóng đen mù mịt không một tia sáng, tôi vẫn nhìn thấy rõ mồn một khuôn mặt trắng bệch không mắt mũi kia. Nó đang chậm rãi nhúc nhích sau lớp kính nứt. Lớp da nhẵn thín ở vị trí đáng lẽ là cái miệng thình lình nứt toác ra một đường rãnh đỏ hỏn, tứa ra thứ máu đen sì sền sệt, phát ra âm thanh ục ục nghẹn ứ như tiếng người chết đuối đang cố cất lời dưới đáy bùn sâu.

Buông... ra...

Thanh âm vọng thẳng vào trong màng nhĩ, buốt lạnh như kim châm.

Tôi không hề nao núng. Ba điều răn của họ Tô lập tức vang lên trong đầu tôi: không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm. Thứ tà linh bị nhốt trong tấm gương này đã biến chất, nó là một phần của trận pháp dẫn hung, chạm vào nó chính là tự mình bước vào vòng xoáy nhân quả của kẻ bày trận.

Tôi lập tức buông lỏng năm ngón tay.

Choang!

Tấm gương đồng rơi thẳng xuống nền xi măng, va vào cạnh sắc của bậc thang vỡ toác thành ba mảnh nhỏ. Âm thanh kim loại gãy vụn vang lên khô khốc giữa màn đêm tĩnh mịch.

Khuôn mặt trắng bệch biến mất tăm.

Búi tóc rối bết dịch nhầy nằm trơ trọi trên sàn xi măng, lập tức bốc lên một làn khói xám mỏng manh kèm theo tiếng xèo xèo ghê rợn, nhanh chóng tan biến vào không khí lạnh ngắt như thể chưa từng tồn tại.

Tôi đứng thẳng người dậy, lùi lại hai bước, tựa lưng vào bức tường xi măng ẩm ướt để lấy lại hơi thở. Lòng bàn tay tôi vẫn còn cảm giác tê rần và buốt giá, từng giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán rồi lăn dài xuống cằm.

Trận Thế Thân Táng không chỉ đơn thuần là việc chôn một hình nhân hay mượn mạng người ở phòng 504.

Kẻ đứng sau đã tính toán từng đường đi nước bước vô cùng tỉ mỉ. Bắt đầu từ việc dồn ép khí sát ở tầng bốn khiến người thuê nhà hoảng loạn bỏ chạy, rút cạn dương khí của các tầng dưới, rồi dùng tấm gương bát quái nứt này để biến toàn bộ giếng thang thành một ống dẫn oán khí thẳng đứng.

Tất cả những thứ hung hiểm, dơ bẩn và tàn độc nhất của khu chung cư cũ này đang bị cưỡng ép đẩy lên cao.

Điểm hội tụ cuối cùng của chiếc lồng nhốt hung sát này không phải nơi nào khác. Nó đang nhắm thẳng vào căn phòng 604, nơi cuốn Huyền Môn Quỷ Lục vừa mở ra trang mực đỏ đầu tiên.

Chương khác

Xem thêm