HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 2: Đoàn Người Đào Đất
Chiều ngày thứ nhất, Quảng Khôn không để Tiểu Thất kịp đổi ý. Ông ta giục hắn gói quần áo, mang theo đồ nghề mộc gọn nhẹ, rồi cùng ra khỏi thôn trước khi…
Nội dung chương
Chiều ngày thứ nhất, Quảng Khôn không để Tiểu Thất kịp đổi ý. Ông ta giục hắn gói quần áo, mang theo đồ nghề mộc gọn nhẹ, rồi cùng ra khỏi thôn trước khi họ hàng kéo tới bàn ra tán vào. Bà nội đứng ở cổng, tay vịn gậy, không khóc, chỉ dặn một câu ngắn ngủi rằng đi thì nhớ đường về. Tiểu Thất vác bọc lên vai, ngoái lại ba lần, tới khúc quanh vẫn thấy bóng bà nhỏ dần sau hàng tre.
Đoàn hẹn nhau ở bãi đất trống ngoài thôn, nơi con đường đất rẽ ra trấn Thạch Môn. Khi Tiểu Thất tới nơi, đã có bốn người chờ sẵn bên hai con lừa thồ và một xe tay chất đầy cuốc, xẻng, dây thừng, bao tải. Quảng Khôn giới thiệu từng người một cách trịnh trọng, như giới thiệu những tay nghề không thể thiếu cho một việc lớn.
Người đầu tiên là Mã Thiết Chủy, bốn mươi lăm tuổi, thợ rèn ở trấn, vai rộng, cổ ngắn, hai cánh tay nổi cơ như dây thừng xoắn. Ông ta mang theo một chiếc búa tạ cán dài, đầu búa đen bóng vì dùng lâu năm. Quảng Khôn bảo đó là búa gia truyền của nhà họ Mã, đập đá mở đường không gì bằng. Mã Thiết Chủy cười hô hố, vỗ vào đầu búa nghe keng một tiếng.
- Việc nặng cứ để tôi. Đá cứng mấy cũng có lúc phải nứt, người cứng mấy cũng có lúc phải mềm. Chỉ sợ xuống tới nơi lại toàn đất ướt, búa không có chỗ dùng.
Người thứ hai gầy hơn, mặt dài, mắt lúc nào cũng nheo lại như đang đo khoảng cách. Đó là Hầu Vĩnh Quý, trong nghề gọi là Hầu Tam, ba mươi tám tuổi, chuyên phân kim định huyệt, xem hướng mộ, tìm long mạch. Hắn mang la bàn gói trong vải đỏ, một bó nhang, mấy đồng tiền cổ buộc chỉ và một túi nhỏ đựng thứ bột vàng nhạt mà hắn không cho ai sờ vào. Hầu Tam nói năng kiêng kỵ đủ điều, dặn từ lúc chưa lên đường rằng vào núi thì không gọi tên thật của nhau lúc nửa đêm, không huýt sáo trong khe, thấy đá lạ không được tùy tiện nhặt mang về.
- Nghề này sống được là nhờ biết sợ đúng thứ, Hầu Tam nói. Không sợ gì thì chết sớm, sợ lung tung thì chết nhảm. Các anh cứ nghe tôi về hướng đất, còn lại tùy ông chủ.
Người thứ ba là Lưu Cổ, bốn mươi tuổi, áo dài xám luôn phẳng, tay sạch, móng cắt gọn, khác hẳn những người lao động chân tay. Ông ta làm nghề buôn đồ cổ, định giá và lo đường tiêu thụ, quen biết các hiệu cầm đồ và lái buôn ở Tây An. Lưu Cổ nói ít, cười nhiều, mắt thì luôn dừng lại ở những chi tiết người khác bỏ qua, như khóa đồng trên hòm của Quảng Khôn hay nút buộc dây thừng trên xe. Quảng Khôn giới thiệu rằng không có Lưu Cổ, lấy được đồ tốt cũng không biết bán cho ai và bán bao nhiêu mới không bị ép giá.
Người cuối cùng là Đỗ Nhị Lang, hai mươi chín tuổi, cao lớn hơn cả Mã Thiết Chủy nhưng vẻ mặt hiền và hơi khờ. Hắn là phu khuân vác, sức khỏe có tiếng ở mấy thôn quanh, một mình vác được bao thóc mà người khác phải hai người khiêng. Đỗ Nhị Lang đi chuyến này vì Quảng Khôn trả công cao gấp ba ngày công thường, lại hứa xong việc sẽ cho thêm một phần thưởng riêng. Hắn gặp Tiểu Thất thì mừng ra mặt, vì trong đoàn chỉ có hai người trẻ gần tuổi nhau, còn lại đều là bậc chú bác khó nói chuyện.
Như vậy đoàn có sáu người, thêm Tiểu Thất là người thứ sáu theo lời Quảng Khôn lúc giới thiệu, nhưng ông ta nói vẫn còn thiếu một người nữa sẽ thuê ở trấn. Tiểu Thất hỏi thiếu ai, Quảng Khôn chỉ cười bảo tới trấn khắc biết, người ấy không phải dân đào đất mà là người giữ cho cả đoàn còn đường về.
Đêm đầu tiên đoàn nghỉ ở một quán nhỏ ven đường. Cơm nước xong, Quảng Khôn trải bản đồ da dê lên bàn, gọi mọi người lại phổ biến luật chia phần. Ông ta nói rõ ràng, rành mạch.
- Ngọc tỷ là thứ chính, lấy được thì bán qua tay Lưu Cổ. Tiền thu về, trừ chi phí dọc đường, phần còn lại chia theo công đã định từ đầu. Tôi lo vốn và đường đi, lấy phần lớn nhất. Mã Thiết Chủy lo mở đường, Hầu Tam lo định huyệt, Lưu Cổ lo bán, Nhị Lang lo khuân vác, Tiểu Thất là cháu họ Tạ đứng tên nhận gia bảo. Ai làm tốt phần mình thì nhận đủ. Ai bỏ giữa chừng, tự ý quay về, thì mất trắng, không được một đồng, còn phải đền lại chi phí đã ăn ở dọc đường.
Mã Thiết Chủy gật gù, Hầu Tam hỏi thêm về việc nếu gặp đồ tùy táng khác ngoài ngọc tỷ thì sao. Quảng Khôn nói đồ nhỏ dọc đường ai thấy trước thì bàn sau, nhưng không ai được giấu riêng, giấu là phạm luật đoàn, nhẹ thì đuổi khỏi đoàn ngay trong núi, nặng thì xử theo luật của dân đào đất. Ông ta nói câu cuối rất nhẹ, nhưng Đỗ Nhị Lang nghe xong nuốt nước bọt, còn Tiểu Thất bỗng nhớ tới vệt nước đỏ bên giếng sáng nay mà hắn chưa kể với ai.
Lưu Cổ từ đầu tới giờ chỉ ngồi nghe, tay xoay một đồng tiền cổ giữa các ngón. Đến lúc Quảng Khôn gấp bản đồ lại, hắn mới lên tiếng hỏi một câu tưởng như vu vơ.
- Đường vào khe Hổ Khẩu, đoạn qua suối cạn có còn đi được không, hay phải vòng qua sườn bắc như bản đồ vẽ?
Quảng Khôn ngẩng lên nhìn hắn một thoáng rồi mới đáp rằng phải vòng sườn bắc. Lưu Cổ gật đầu như đã biết trước đáp án. Tiểu Thất ngồi bên cạnh, thấy lạ. Bản đồ mới trải ra chưa đầy một khắc, ánh đèn dầu lại mờ, người thường chỉ kịp nhìn thấy núi và khe, không thể thuộc ngay từng đoạn đường nhỏ như thế. Huống chi Quảng Khôn chưa hề đọc to tên các địa điểm trên bản đồ cho ai nghe.
Sáng ngày thứ hai, đoàn lên đường sớm. Đường từ quán ra trấn Thạch Môn đi qua những cánh đồng đã gặt, rạ vàng trải dài, thi thoảng có người gánh củi đi ngược lại chào Quảng Khôn như quen mặt. Tiểu Thất đi giữa đoàn, một bên là Đỗ Nhị Lang vác bao lớn, một bên là Lưu Cổ đi thong thả như người đi chơi. Hắn bắt chuyện với Lưu Cổ, hỏi ông ta buôn đồ cổ lâu chưa, đã từng vào mộ cổ bao giờ chưa.
- Tôi chỉ buôn trên mặt đất, Lưu Cổ đáp. Đồ dưới đất lên tới tay tôi thì đã là đồ sạch rồi. Nhưng làm nghề này phải biết đọc dấu của người xưa, biết một món đồ từ đời nào, qua tay ai, chôn ở đâu. Biết nhiều thứ không cần ai dạy, chỉ cần chịu khó nhìn và nhớ.
- Thế những ký hiệu trên bản đồ của chú cháu, ông đọc được hết không?
Lưu Cổ liếc hắn, nụ cười vẫn giữ trên môi nhưng mắt thì lạnh đi một chút.
- Đọc được ít thôi. Chữ của người xưa khó lắm. Có chữ đọc ra tiếng mà không hiểu nghĩa, có chữ hiểu nghĩa rồi lại ước giá chưa từng đọc.
Câu trả lời trơn tru đến mức Tiểu Thất không hỏi thêm được. Hắn quay sang nói chuyện với Đỗ Nhị Lang cho đỡ ngại. Nhị Lang kể nhà hắn còn mẹ già và hai em nhỏ, tiền công chuyến này đủ sửa mái nhà và mua một con lợn giống. Hắn bảo đào mộ nghe thì sợ, nhưng hắn chỉ khuân vác trên mặt đất, không xuống sâu, chắc không sao. Hầu Tam đi phía trước nghe được, quay lại cười khẩy.
- Xuống hay không đâu phải do mình chọn hết. Vào tới miệng hầm rồi, đất gọi ai thì người ấy phải nghe.
Mã Thiết Chủy chửi Hầu Tam nói gở, hai người đấu khẩu một hồi làm đoàn đỡ mệt. Quảng Khôn đi đầu, ít nói, thỉnh thoảng dừng lại xem bản đồ, nhưng Tiểu Thất để ý ông ta rất ít khi mở bản đồ ra giữa đường. Hình như đường đi đã thuộc sẵn trong đầu, bản đồ chỉ là thứ để cho người khác tin.
Chiều xuống, đoàn tới gần trấn Thạch Môn, nghỉ ở một gò đất cao chờ trời mát mới vào trấn. Quảng Khôn lấy bản đồ ra xem lần cuối trước khi cất, gió thổi một góc da dê bật lên. Tiểu Thất ngồi gần, thấy ở góc dưới bản đồ có bốn ký hiệu nhỏ xếp thành hàng, nét khắc ngoằn ngoèo như chữ mà không phải chữ hắn từng học. Hắn chưa kịp nhìn kỹ thì Lưu Cổ ở phía bên kia bỗng lẩm bẩm đọc thành tiếng, rất khẽ, như đọc cho chính mình nghe.
Bốn chữ ấy hắn đọc trơn tru, không ngập ngừng, âm đọc cổ quái mà chắc chắn. Tiểu Thất quay phắt lại. Lưu Cổ lập tức im bặt, giả vờ ho, rồi đứng dậy phủi áo đi ra chỗ lừa thồ. Quảng Khôn cũng nghe thấy, nhưng ông ta chỉ nhìn Lưu Cổ một cái thật lâu rồi gấp bản đồ cất vào ngực áo, không hỏi một lời.
Trên đoạn đường còn lại, hắn thử gợi chuyện với Hầu Tam về bốn ký hiệu ấy, chỉ nói là ký hiệu ở góc tờ da dê. Hầu Tam nghe xong thì bước chậm hẳn lại, nhìn quanh như sợ gió mang tiếng đi xa, rồi bảo những ký hiệu xếp ở góc bản đồ mộ thường không phải chữ chỉ đường. Đó là chữ để cảnh báo hoặc để giao ước với người giữ mộ, người ngoài nghề đọc được chưa chắc đã là phúc. Hắn dặn Tiểu Thất từ nay thấy ai trong đoàn đọc được thứ mình không nên biết thì cứ nhớ trong bụng, đừng hỏi ngay giữa đường, vì có những câu hỏi một khi đã hỏi ra thì đáp án sẽ tìm tới mình trước.
Tiểu Thất đi tiếp mà lòng rối như tơ. Bốn chữ ở góc bản đồ, thứ chữ mà ban nãy hắn hỏi thì Lưu Cổ bảo chỉ đọc được ít thôi. Thứ chữ mà chính Quảng Khôn khi ở nhà cũng chưa từng đọc ra cho ai nghe, giờ lại được người buôn đồ cổ đọc vanh vách trong lúc lơ đãng. Hắn bắt đầu hiểu rằng trong đoàn sáu người này, mỗi người đều biết một phần sự thật, và phần hắn biết có lẽ là ít nhất.