HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 3: Trấn Thạch Môn

Trấn Thạch Môn nằm ở chỗ hai con đường đất gặp nhau dưới chân núi. Nhà cửa san sát hơn thôn Tạ Gia Câu nhiều, có chợ, có hàng cơm, có tiệm rèn của Mã…

Nội dung chương

Trấn Thạch Môn nằm ở chỗ hai con đường đất gặp nhau dưới chân núi. Nhà cửa san sát hơn thôn Tạ Gia Câu nhiều, có chợ, có hàng cơm, có tiệm rèn của Mã Thiết Chủy và một dãy quán trọ cho khách buôn qua lại. Đoàn vào trấn lúc trời vừa tối, đèn dầu trong các cửa hiệu đã thắp lên, mùi dầu hỏa, mùi thuốc bắc và mùi thức ăn trộn vào nhau trong con phố chính chật hẹp. Tiểu Thất đi qua chợ đã tan, nhìn những sạp hàng đóng cửa mà thấy trấn này vừa quen vừa lạ. Hắn từng theo thầy Đỗ lên trấn mua gỗ vài lần, nhưng chưa bao giờ ở lại qua đêm với một đoàn người như thế này.

Quán trọ Phùng gia ký ở cuối phố, bảng hiệu gỗ đã cũ, chữ sơn vàng bong từng mảng. Chủ quán là Phùng chưởng quỹ, năm mươi lăm tuổi, người gầy, mặt phúc hậu, nói năng nhỏ nhẹ mà mắt rất nhanh. Ông ta nhận ra Quảng Khôn ngay từ cửa, nụ cười trên mặt khựng lại một thoáng rồi mới niềm nở như thường.

- Ông Tạ lại ghé. Lần này đi buôn đường xa hay sao mà đoàn đông thế?

- Đi lấy ít hàng cũ của nhà để lại, Quảng Khôn đáp gọn. Cho chúng tôi ba phòng, cơm nước tử tế, tiền không thiếu.

Phùng chưởng quỹ dẫn đoàn vào trong, sai tiểu nhị dắt lừa ra chuồng sau, đun nước nóng, dọn cơm. Trong lúc chờ, Quảng Khôn chia việc mua sắm cho từng người. Sáng mai phải mua đủ dây thừng mới, đèn bão, dầu hỏa, lương khô, bánh khô, thịt muối, dấm chua đựng trong bầu da, vải thô để buộc miệng và mấy thứ lặt vặt cho việc đào đất. Mã Thiết Chủy về tiệm rèn của mình lấy thêm cuốc chim và xà beng, Hầu Tam đi mua nhang và giấy vàng, Lưu Cổ đi một vòng các hiệu đồ cổ hỏi giá thị trường, Đỗ Nhị Lang và Tiểu Thất ở lại quán sắp xếp đồ đạc.

Bữa cơm tối ở quán trọ khá thịnh soạn so với ở thôn, có thịt, có rượu. Quảng Khôn uống ít, chủ yếu ngồi nghe mọi người nói. Phùng chưởng quỹ mang thêm một đĩa lạc rang lên, ngồi xuống bàn bên cạnh như khách quen, hỏi vu vơ đoàn định đi hướng nào. Quảng Khôn bảo đi về phía nam vào núi mua gỗ và tìm hàng cũ. Phùng chưởng quỹ gật đầu, nhưng khi Tiểu Thất buột miệng nhắc tới khe Hổ Khẩu vì nghe Hầu Tam nói lúc chiều, sắc mặt ông ta đổi hẳn.

Ông chủ quán đặt bình rượu xuống, hạ giọng đến mức người bàn bên không nghe được.

- Khe Hổ Khẩu à? Các vị đừng vào sâu trong đó. Cái khe ấy từ xưa dân bản địa đã tránh, nhất là đoạn sườn bắc có miệng hầm cũ. Người ta gọi đó là ngôi mộ ăn thịt người.

Mã Thiết Chủy phì cười, bảo mộ nào chẳng có người chết, ăn thịt người là chuyện dọa trẻ con. Phùng chưởng quỹ không cười. Ông ta kéo ghế sát hơn, kể rằng bốn mươi năm trước, vào khoảng năm Quang Tự thứ hai mươi, có một toán người từ ngoài vào trấn, cũng ở trọ ở quán này khi ấy còn do cha ông ta trông coi. Toán ấy có năm sáu người, mang theo cuốc xẻng và bản đồ, nói là đi tìm mỏ. Họ vào khe Hổ Khẩu một buổi sáng trời quang, từ đó không một ai trở ra. Người nhà ở quê chờ mãi không thấy, tới trấn hỏi, dân địa phương dẫn vào tới miệng hầm thì chỉ thấy dấu lửa trại và một chiếc giày rách, còn người thì mất sạch như bị núi nuốt.

- Sau lần ấy, ông ta nói tiếp, thỉnh thoảng có người tò mò vào khe ban ngày rồi quay ra kể rằng trong khe lạnh hơn ngoài nhiều, chim không hót, và ban đêm đứng ở miệng hầm sẽ nghe tiếng gió như tiếng người thở. Dân quanh đây không ai dám bén mảng qua miệng hầm vào ban đêm nữa. Có người thề rằng họ từng thấy dấu chân ướt từ trong hầm đi ra rồi dừng lại giữa đường, không có dấu quay vào.

Tiểu Thất nghe tới dấu chân ướt thì tay cầm đũa khựng lại. Vệt nước đỏ bên giếng nhà hắn sáng hôm qua bỗng hiện lên rõ mồn một. Hắn định kể, nhưng bắt gặp ánh mắt Quảng Khôn đang nhìn mình chằm chằm, lạnh và cảnh cáo, nên lại cúi xuống ăn tiếp, miếng thịt trong miệng bỗng nhạt như nhai rơm.

Quảng Khôn cười lớn, tiếng cười vang cả gian phòng, át đi không khí nặng nề.

- Ông Phùng làm nghề trọ mà kể chuyện ma giỏi thế này, khách nào dám ngủ yên. Chuyện bốn mươi năm trước, ai biết toán người ấy đi đâu, có khi họ tìm được hàng rồi bỏ đi đường khác chia nhau, không quay lại trấn là khôn chứ sao. Tôi trả thêm tiền trọ đêm nay, ông làm ơn bịt miệng khách khác giúp, đoàn tôi không thích bị hỏi han nhiều.

Ông ta đặt thêm mấy đồng bạc lên bàn. Phùng chưởng quỹ nhìn tiền, thở dài, cầm lấy rồi đứng dậy, không kể thêm nữa. Nhưng trước khi đi, ông ta nhìn Tiểu Thất một cái rất lâu, ánh mắt của người biết thằng bé này là kẻ ít liên quan nhất đến việc đào bới mà lại có mặt trong đoàn.

Đêm ấy Tiểu Thất ngủ không yên. Phòng trọ lạ, tiếng người nói ở phòng bên, tiếng lừa hí ngoài chuồng, tiếng mõ canh từ phố vọng vào làm hắn chập chờn. Hắn nghĩ tới lời Phùng chưởng quỹ, tới toán người mất tích bốn mươi năm trước, tới câu nói của bà nội về việc nhà này từ đời nào cũng thiếu vắng một người đàn ông. Hắn bắt đầu tự hỏi ông nội Tạ Văn Sâm ngày xưa mất vì bệnh thật, hay cũng từng đi vào một cái khe nào đó mà cả nhà giấu hắn từ nhỏ. Nhưng hắn không có ai để hỏi, Quảng Khôn thì rõ ràng không muốn hắn hỏi.

Sáng ngày thứ hai ở trấn, đoàn chia nhau đi mua sắm. Chợ Thạch Môn đông từ sớm, người bán gỗ, bán dầu, bán lương khô chen chúc. Tiểu Thất theo Đỗ Nhị Lang mua dây thừng và đèn bão, tự tay chọn từng sợi dây, sờ từng mối nối như chọn gỗ đóng quan tài. Nghề mộc dạy hắn rằng thứ giữ mạng người thường không phải thứ to nhất mà là thứ nhỏ nhất bị làm ẩu. Hắn buộc thêm một cuộn dây dự phòng, Quảng Khôn thấy cũng không cản, chỉ bảo mua đủ thì thôi, đừng hoang.

Trong lúc mua sắm, Tiểu Thất còn để ý một việc nhỏ. Lưu Cổ ghé vào hiệu đồ cổ ở đầu phố rất lâu, khi ra thì tay không, nhưng chủ hiệu tiễn hắn ra tận cửa với vẻ kính cẩn khác thường, như tiễn một người mua lớn chứ không phải khách xem chơi. Hầu Tam mua nhang xong lại mua thêm một túi vôi bột, bảo vào núi gặp đất ẩm thì phải có thứ này rắc dấu đường về, người xưa đi rừng cũng làm thế. Mã Thiết Chủy thử đèn bão, chê tim đèn của quán nhỏ, tự tay thay tim mới và đổ dầu đầy tới miệng, bảo dưới hầm mà đèn tắt giữa chừng thì người gan dạ mấy cũng hóa nhát. Đỗ Nhị Lang khuân từng bao lương khô lên xe, mồ hôi chảy ròng mà vẫn cười, nói có ăn no thì khiêng đá mới có sức. Chỉ có Quảng Khôn là đi đâu đó một mình chừng nửa canh giờ, khi về thì trong tay áo nặng trĩu, bước đi nghe tiếng kim loại chạm nhau rất khẽ, nhưng không ai dám hỏi đó là thứ gì.

Buổi trưa, Phùng chưởng quỹ dọn cơm riêng cho đoàn ở phòng trong, kín đáo hơn hẳn hôm trước. Ông ta không nhắc lại chuyện khe Hổ Khẩu nữa, chỉ dặn tiểu nhị chuẩn bị thêm nước nóng và bánh khô cho đoàn mang theo, như thể biết đoàn sẽ đi nhiều ngày không quay lại trấn. Khi Tiểu Thất ra giếng sau quán rửa mặt, ông chủ quán đi theo, đứng ở cửa bếp nói một câu không đầu không cuối rằng người già trong nhà thường biết nhiều hơn những gì họ nói. Con cháu nghe được câu nào thì cứ giữ lấy câu ấy, đừng vội cho là mê tín. Tiểu Thất chưa kịp hỏi thêm thì Quảng Khôn đã gọi hắn vào sắp đồ, và ông chủ quán cũng quay đi như chưa từng nói gì.

Gần trưa, khi đoàn đang chất đồ lên xe ở sân sau quán trọ, một thằng bé chạy bộ từ hướng thôn tới, thở hổn hển, áo ướt mồ hôi, chân dính đầy bụi đỏ. Đó là thằng Ngưu hàng xóm nhà Tiểu Thất, mười ba tuổi, thường chăn dê chung với đám trẻ trong thôn. Nó chạy một mạch tới trước mặt hắn, dúi vào tay hắn một gói vải nhỏ còn ấm hơi tay người cầm lâu.

- Anh Thất, bà nội anh gửi. Bà bảo em chạy theo đoàn, trao tận tay anh, không được đưa cho chú Khôn.

Tiểu Thất mở gói ra, bên trong là một nắm muối trắng gói trong giấy dầu, buộc chặt bằng chỉ đỏ. Muối là thứ nhà quê dùng để trừ tà, rắc quanh giường người ốm, bỏ vào quan tài khi khâm liệm. Hắn ngẩng lên nhìn Ngưu.

- Bà còn dặn gì nữa không?

Ngưu nuốt nước bọt, nhìn quanh đoàn người đang bận rộn, rồi hạ giọng đọc lại từng lời như học thuộc.

- Bà bảo, gặp quan tài sắt thì đừng mở. Và trong đoàn có người không phải đi lấy của, mà là đi trả nợ. Bà bảo anh nhớ kỹ hai câu ấy, đừng cãi chú Khôn giữa đông người, cứ nhớ trong bụng là được.

Tim Tiểu Thất đập mạnh. Quan tài sắt. Hắn chưa từng nghe Quảng Khôn hay bất kỳ ai trong đoàn nhắc tới quan tài sắt. Gia phả chỉ nói ngọc tỷ chôn trong mộ, bản đồ chỉ vẽ đường vào khe. Bà nội ở nhà, không xem bản đồ lần nào ngoài buổi sáng hôm ấy, làm sao biết trong mộ có quan tài sắt mà dặn.

Hắn nắm chặt tay Ngưu hỏi lại cho chắc, có phải bà nói đúng hai chữ quan tài sắt không, có phải hắn nghe nhầm thành quan tài gỗ không. Ngưu lắc đầu quả quyết, bảo bà cụ khóc khi dặn, nước mắt rơi xuống gói muối, và còn dặn thêm một câu mà nó không hiểu nên phải học thuộc từng chữ, sợ quên mất giữa đường.

- Bà dặn thêm câu gì?

Thằng bé nhìn hắn, nói chậm rãi.

- Đừng để máu của cháu vô ích như máu của ông cháu.

Chương khác

Xem thêm