HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 4: Đạo Sĩ Ở Quán Trà

Ngày thứ hai ở trấn Thạch Môn, Trương Huyền Tố ngồi ở quán trà đầu phố từ sớm, trước mặt là một ấm trà đã nguội và một đĩa hạt dưa chưa động tới. Anh vừa…

Nội dung chương

Ngày thứ hai ở trấn Thạch Môn, Trương Huyền Tố ngồi ở quán trà đầu phố từ sớm, trước mặt là một ấm trà đã nguội và một đĩa hạt dưa chưa động tới. Anh vừa trừ xong một vụ tà cho nhà họ Vương ở cuối trấn, nhà ấy có người con dâu ốm dai dẳng, đêm nào cũng nói mơ bằng tiếng lạ. Huyền Tố tới xem, thấy chẳng có tà ma gì ghê gớm, chỉ là mộ phần của bà cô nhà chồng bị nước xói lở, khí ẩm xông lên nhà, cộng với người bệnh vốn yếu bóng vía. Anh cho dời mộ, kê lại giường, để lại hai lá phù an thần, dặn nhà chủ cho người bệnh uống thuốc tử tế thay vì chỉ cúng bái. Tiền công được ba đồng bạc, đủ cho anh ăn ở nửa tháng nếu tiêu dè.

Huyền Tố năm nay ba mươi tư tuổi, là truyền nhân của phái Mao Sơn Thượng Thanh. Anh xuống núi hành nghề đã nhiều năm, đi khắp vùng Thiểm Tây và Hà Nam, xem phong thủy, trừ tà, siêu độ, việc nào cũng làm cẩn thận mà tiền thu về chẳng bao giờ dư dả. Quán đạo chi phái trên núi đang nợ tiền sửa mái sau trận mưa đá mùa xuân, thư của sư huynh gửi xuống đã nhắc hai lần, giọng điệu ngày càng khó nghe. Anh ngồi tính nhẩm, nếu nhận thêm vài việc ở trấn này thì tới cuối tháng mới gom đủ một nửa số nợ.

Người đàn ông tới ngồi xuống bàn anh không xin phép trước. Áo dài chàm còn mới, giày sạch, tay đeo nhẫn ngọc, dáng vẻ của một thương nhân có tiền. Huyền Tố nhận ra kiểu người này, khách giàu thường không thích vòng vo, và việc họ mang tới thường nặng hơn số tiền họ đặt xuống.

- Đạo trưởng Trương phải không? Tôi là Tạ Quảng Khôn, người thôn Tạ Gia Câu. Nghe danh đạo trưởng trừ tà ở nhà họ Vương rất giỏi, tôi có việc muốn nhờ.

- Ông cứ nói. Việc trong trấn hay ngoài trấn?

- Việc của nhà tôi. Tổ tiên họ Tạ có một ngôi mộ tổ ở vùng Tần Lĩnh, trong mộ chôn theo gia bảo của dòng họ theo di chúc để lại. Nay con cháu muốn mở mộ lấy gia bảo về thờ, nhưng mộ cổ lâu năm, sợ có âm khí, cần một đạo sĩ đi kèm xem phong thủy, trấn an, và làm lễ cho chu toàn. Việc xong, tiền công hậu hĩnh.

Huyền Tố rót thêm trà, không đáp ngay. Mộ tổ, gia bảo, di chúc, những chữ ấy ghép với nhau nghe rất êm, êm đến mức anh thấy không thật. Người ta mở mộ tổ thường mời thầy địa lý trong vùng, làm lễ nhỏ, đâu cần thuê một đạo sĩ Mao Sơn đi theo nhiều ngày vào tận vùng núi xa. Anh hỏi mộ ở đâu, chôn từ đời nào, người trong mộ là ai. Quảng Khôn đáp trơn tru rằng mộ từ đời Tây Chu, tổ tiên là quan lại, đường đi có bản đồ gia truyền để lại. Đáp án càng trơn tru, Huyền Tố càng nghe ra mùi chuẩn bị sẵn.

Quảng Khôn đặt lên bàn một túi tiền nhỏ, tiếng bạc chạm nhau nghe chắc và nặng.

- Đây là ba mươi đồng bạc, đưa trước. Việc xong còn thêm. Tôi biết đạo trưởng không phải người ham tiền, nhưng quán đạo trên núi cũng cần tiền sửa chữa, đúng không?

Ba mươi đồng bạc đưa trước là một khoản lớn bất thường cho việc xem mộ tổ. Một vụ trừ tà tử tế ở trấn chỉ được vài đồng, một lễ siêu độ lớn cũng không quá mười đồng. Huyền Tố nhìn túi tiền, rồi nhìn người đối diện. Quảng Khôn mỉm cười, nụ cười của người biết rõ đối phương đang cần gì và cũng biết đối phương sẽ khó từ chối ra sao. Anh không thích bị nhìn thấu như thế, nhưng món nợ của quán đạo là thật, và còn một điều khác nữa giữ chân anh ở vùng này lâu nay.

Hai mươi năm trước, sư phụ anh là Trương Đạo Hằng, chân nhân Mao Sơn, đã vào vùng Tần Lĩnh này rồi mất tích, không thư, không xác, không một lời giải thích. Sư môn từng cử người đi tìm hai lần đều không có kết quả. Huyền Tố xuống núi hành nghề, cố ý nhận việc ở các vùng quanh Tần Lĩnh, một nửa vì sinh kế, một nửa vì hy vọng mong manh sẽ nghe được manh mối nào về sư phụ. Nay một người mang bản đồ cổ mộ ở Tần Lĩnh tới tận bàn trà của anh, sự trùng hợp ấy tự nó đã là một lý do để anh không đứng dậy bỏ đi ngay.

- Cho tôi xem bản đồ.

Quảng Khôn rút từ ngực áo ra tấm da dê cuộn tròn, trải lên bàn trà, lấy ấm trà và đĩa hạt dưa đè bốn góc. Huyền Tố cúi xuống xem. Núi, khe suối, đường mòn, ký hiệu định hướng vẽ bằng mực đã phai, nét vẽ của người xưa có nghề. Anh đưa tay vuốt nhẹ lên mặt da để cảm nhận độ cũ, rồi bất chợt dừng lại. Có một mùi rất nhẹ bám trên tấm da, không phải mùi da thuộc, không phải mùi khói hay mùi dầu. Đó là mùi tanh sắt, tanh và lạnh, như mùi của chu sa cũ đã trộn với thứ gì đó thuộc về xác chết để lâu năm, thứ mùi mà nghề của anh gọi là thi khí còn sót. Một tấm bản đồ gia đình bình thường, giữ trong nhà dân qua nhiều đời, không thể có thứ mùi ấy. Mùi ấy chỉ có trên những vật từng ở rất lâu trong huyệt mộ kín, hoặc từng được người ta cố ý ướp bằng thứ gì lấy ra từ mộ.

Huyền Tố ngẩng lên, giữ vẻ mặt bình thản.

- Bản đồ này ông lấy ở đâu?

- Của tổ tiên truyền lại, giữ trong nhà từ lâu.

- Giữ trong nhà mà có mùi này thì nhà ông cũng lạ đấy.

Quảng Khôn cười, không hề lúng túng.

- Đạo trưởng mũi thính thật. Thật ra tổ tiên từng mở một phần đường vào mộ rồi lấp lại, bản đồ từng theo người vào tận miệng hầm nên nhiễm mùi đất mộ cũng là thường. Việc này tôi không giấu, chỉ là không muốn nói nhiều trước mặt người ngoài.

Lời giải thích hợp lý vừa đủ để tiếp tục câu chuyện, và cũng vừa đủ để Huyền Tố biết người này nói dối có chuẩn bị. Anh không vạch trần. Anh gấp bản đồ lại, trả về, rồi nhận túi tiền đặt sang bên phía mình, một cử chỉ mà cả hai đều hiểu là nhận lời.

- Tôi đi theo đoàn, nhưng có ba điều kiện. Thứ nhất, vào tới nơi, việc liên quan tới âm khí và lễ nghi thì nghe tôi. Thứ hai, gặp thứ tôi bảo dừng thì phải dừng, bàn lại rồi mới đi tiếp. Thứ ba, tiền này là tiền công đi đường, không phải tiền bán mạng, tới lúc cần nói rõ thì tôi sẽ nói rõ.

Quảng Khôn đồng ý cả ba điều kiện nhanh đến mức Huyền Tố biết ngay chúng sẽ không được giữ trọn. Nhưng anh vẫn nhận, vì món nợ, vì manh mối về sư phụ. Và vì một linh cảm nghề nghiệp mơ hồ rằng tấm bản đồ có mùi thi khí này nếu rơi vào tay một đoàn đào đất không có đạo sĩ đi kèm, sẽ có người chết mà không ai hiểu vì sao.

Chiều hôm ấy, Quảng Khôn dẫn anh về quán trọ Phùng gia ký gặp đoàn. Huyền Tố chào từng người, ghi nhớ mặt và nghề của họ trong đầu theo thói quen, rồi xin một phòng riêng để sắp xếp hành lý. Khi cửa phòng đóng lại, anh mở chiếc rương gỗ của mình ra trên giường, kiểm tra từng món pháp khí, chậm rãi như điểm binh trước trận.

Ba chiếc Hắc Lư Đề, móng lừa đen tuyền, được gói riêng trong vải đỏ, cứng và lạnh, thứ chí dương chỉ phát huy tác dụng khi nhét thẳng vào họng cương thi đúng lúc nó há miệng. Bảy lá Định Thân Phù vẽ bằng chu sa trên giấy vàng, cuộn trong ống tre khô, ướt máu là mất hiệu lực. Một cuộn Mặc Đấu Tuyến dài chín trượng chín thước, dây thợ mộc đã ngâm mực tàu trộn chu sa nghiền mịn và máu mào gà trống, đựng trong hộp gỗ có nắp. Một hộp Tỵ Thi Đan đúng sáu viên, thuốc ngậm chống thi khí, mỗi viên hiệu lực một canh giờ. Và một chiếc chuông đồng trấn hồn nhỏ bằng nắm tay, tiếng trong và lạnh, lắc lên làm chậm tà vật trong vài nhịp thở.

Anh còn kiểm tra những thứ không phải pháp khí mà lại giữ mạng người không kém: hai chiếc khăn dày để tẩm dấm, một bầu nước sạch. Đèn bão nhỏ, kính lúp cán gỗ mà nghề đạo dùng để đọc văn khắc đã mòn, và một cuộn chỉ đỏ thường. Anh thử bật mực trên một đoạn dây ngắn, thấy vệt mực kéo thẳng và đều, dương khí còn nguyên, mới yên tâm cuộn lại. Người ngoài nhìn vào tưởng đạo sĩ chỉ cần thuộc chú và vẽ giỏi phù, nhưng Huyền Tố biết rõ, xuống huyệt sâu thì sống chết nằm ở khâu chuẩn bị, một món thiếu hay một món hỏng đều có thể đổi bằng mạng của người đứng gần nhất.

Anh đếm đi đếm lại, món nào cũng đủ, món nào cũng có hạn của nó. Pháp khí của Mao Sơn không phải bùa phép vô tận trong chuyện kể, mỗi thứ dùng một lần là hao một phần, hết là hết, không ai tiếp tế giữa núi sâu. Huyền Tố gấp hành lý lại, lòng bỗng nặng hơn lúc nhận tiền.

Trước khi rời quán trà, Quảng Khôn đã đứng dậy định đi, Huyền Tố gọi lại và hỏi một câu duy nhất, câu hỏi mà anh đã giữ trong đầu từ lúc ngửi thấy mùi trên bản đồ.

- Trong mộ tổ nhà ông, người chết được chôn bằng quan tài gỗ, hay quan tài sắt?

Quảng Khôn khựng lại nửa nhịp, rồi cười phá lên như vừa nghe một câu hỏi ngớ ngẩn.

- Đạo trưởng hỏi lạ thật. Người xưa chôn quan tài gỗ chứ ai chôn quan tài sắt bao giờ. Mà thật ra tôi cũng không biết, chưa ai vào tới trong cùng cả.

Anh ta quay lưng đi. Huyền Tố ngồi lại một mình với ấm trà nguội, nhìn theo bóng áo chàm khuất ở đầu phố, và ghi nhớ rất kỹ nửa nhịp khựng lại ấy.

Chương khác

Xem thêm