HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 5: Lời Dặn Của Sư Phụ

Đêm ngày thứ hai, Trương Huyền Tố không ngủ được. Phòng trọ ở Phùng gia ký quay mặt ra sân sau, tiếng lừa gõ móng xuống nền chuồng, tiếng tiểu nhị rửa…

Nội dung chương

Đêm ngày thứ hai, Trương Huyền Tố không ngủ được. Phòng trọ ở Phùng gia ký quay mặt ra sân sau, tiếng lừa gõ móng xuống nền chuồng, tiếng tiểu nhị rửa bát ở bếp và tiếng người nói chuyện ở phòng bên đều vọng vào rất rõ. Nhưng những tiếng ấy không phải thứ giữ anh thức. Thứ giữ anh thức là tấm bản đồ da dê với mùi tanh sắt, là nửa nhịp khựng lại của Quảng Khôn khi nghe câu hỏi về quan tài sắt, và là ba mươi đồng bạc đang nằm trong túi áo anh, nặng hơn bình thường.

Anh trở dậy, thắp đèn dầu, mở rương gỗ lấy ra một bọc vải nhỏ giấu ở đáy, dưới lớp áo thay. Trong bọc là vài vật cũ của riêng anh: một chiếc la bàn của sư phụ để lại, một xấp thư nhà đã ố vàng, và một mảnh giấy gấp tư, mép giấy đã mòn vì được mở ra gấp vào quá nhiều lần. Đó là thư tay cuối cùng của sư phụ anh, Trương Đạo Hằng, để lại trên bàn trong phòng của ông ở núi Mao Sơn trước khi ông một mình vào vùng Tần Lĩnh hai mươi năm trước và không bao giờ trở ra.

Huyền Tố thuộc lòng từng chữ trong thư, thuộc đến mức không cần đèn cũng đọc được. Sư phụ viết về việc phải đi xa để xử lý một món nợ cũ của sư môn, dặn các đệ tử giữ quán đạo, không được đi tìm, không được hỏi han dân địa phương về nơi ông tới. Phần lớn thư là lời dặn dò thường thấy của người thầy trước chuyến đi xa. Chỉ có một đoạn ở gần cuối, nét chữ bỗng đậm và gấp hơn hẳn, là đoạn viết riêng cho anh, đệ tử được ông truyền lại nghề trấn thi.

Đoạn ấy dặn rằng, trong vùng núi phía nam Thiểm Tây có những ngôi mộ cổ không phải để chôn người chết cho yên, mà là để giữ một thứ không được phép ra ngoài. Nếu sau này Huyền Tố hành nghề mà gặp quan tài sắt đen, xích quấn chín vòng, thì quay đầu ngay, đừng hỏi vì sao, đừng vì tiền, đừng vì tò mò, và cũng đừng vì muốn biết sư phụ đã đi đâu. Ông viết thêm một câu mà năm ấy anh đọc không hiểu, chỉ thấy lạnh người: thứ bị xích trong đó không sợ người sống, nó chỉ chờ đúng người tới mở.

Năm ấy Huyền Tố mới mười bốn tuổi. Anh đã giữ mảnh giấy này hai mươi năm, mỗi lần đi xa lại mang theo như một lá bùa hộ thân. Lời dặn về quan tài sắt và chín vòng xích, anh từng cho là chuyện hiếm hoi cả đời chưa chắc gặp, như thầy dặn về hổ dữ hay lũ quét, biết để tránh chứ không phải thứ sẽ bước tới trước mặt mình giữa một trấn nhỏ. Vậy mà hôm nay, một người đàn ông mang bản đồ mộ cổ ở Tần Lĩnh tới thuê anh, trả trước ba mươi đồng bạc, và khựng lại đúng ở câu hỏi về quan tài sắt.

Huyền Tố trải tấm bản đồ mượn tạm của Quảng Khôn ra bàn dưới ánh đèn. Anh xem lại từng đường nét, lần này chậm hơn ban ngày rất nhiều. Núi vẽ theo lối cổ, khe suối uốn lượn, đường mòn chấm nhỏ, miệng hầm được khoanh ở sườn bắc của một khe sâu. Anh đưa kính lúp lại gần miệng hầm, và tim anh đập chậm hẳn đi. Ở ngay chỗ đánh dấu miệng hầm, người vẽ đã vẽ một ký hiệu nhỏ mà ban ngày trong quán trà anh lướt qua không để ý: một vòng tròn, và quanh vòng tròn là chín khoen nhỏ chồng lên nhau, nối liền thành một vòng kín. Chín khoen. Như chín vòng xích quấn quanh một thứ gì tròn và lớn ở giữa.

Anh đặt kính lúp xuống, ngồi lặng một lúc lâu. Đèn dầu cháy thấp dần, bấc đèn nổ lách tách. Anh nghĩ tới món nợ sửa mái của quán đạo, nghĩ tới ba mươi đồng bạc, nghĩ tới hai mươi năm không một tin tức của sư phụ. Nếu bây giờ anh trả tiền và bỏ đi, anh giữ được lời dặn, giữ được an toàn, và có lẽ cả đời sẽ không biết sư phụ mất tích ở vùng núi này có liên quan gì tới chín khoen tròn trên một tấm bản đồ hay không. Nếu anh đi tiếp, anh phạm đúng lời dặn mà sư phụ viết riêng cho mình, bằng nét chữ gấp gáp nhất trong lá thư cuối cùng của ông.

Huyền Tố là người trọng lời thầy. Nhưng anh cũng là người đã sống hai mươi năm với một câu hỏi không có đáp án. Hai mươi năm ấy, mỗi lần nghe tin có đạo sĩ hay người đào đất mất tích ở Tần Lĩnh, anh đều tìm cách hỏi han, và mỗi lần đều chỉ nhận được những câu chuyện mơ hồ về núi sâu, khe hiểm và mộ cổ ăn người. Hôm nay manh mối đầu tiên có hình thù rõ ràng lại nằm ngay trong tay anh, dưới dạng một ký hiệu nhỏ ở góc miệng hầm.

Anh làm một việc mà anh đã tính từ lúc chiều. Anh lấy giấy bút của quán trọ, viết một lá thư ngắn gửi về núi Mao Sơn cho sư huynh giữ quán. Trong thư anh ghi rõ mình nhận việc đi theo một đoàn người họ Tạ vào khe Hổ Khẩu ở Tần Lĩnh, ngày đi, số người trong đoàn, và dặn rằng nếu mười lăm ngày nữa không thấy anh trở về trấn Thạch Môn. Thì xin sư môn cử người tới báo với Phùng chưởng quỹ ở quán trọ Phùng gia ký và dò hỏi tin tức, đồng thời coi như anh đã gặp nạn trong núi. Anh không viết gì về quan tài sắt hay lời dặn của sư phụ, những việc ấy không nên để người ngoài thư biết.

Viết xong, anh niêm phong thư, xuống lầu tìm Phùng chưởng quỹ đang kiểm sổ ở quầy. Ông chủ quán nghe anh dặn, sắc mặt nghiêm lại, nhận thư cất vào ngăn kéo có khóa, và hứa đúng mười lăm ngày không thấy anh về sẽ gửi đi ngay, không chậm một ngày. Ông ta còn nói thêm rằng hai mươi năm trước, cũng từng có một vị đạo sĩ già ở trọ ở quán này trước khi vào núi, dáng người cao, râu bạc, đi một mình, và cũng để lại một lời dặn gửi thư tương tự. Huyền Tố hỏi dồn vị đạo sĩ ấy họ gì, đi đâu, về sau ra sao. Phùng chưởng quỹ lắc đầu bảo khi ấy ông ta còn nhỏ, chỉ nhớ cha mình nhắc lại, thư đã gửi đi, còn người thì không bao giờ quay lại quán nữa.

Câu chuyện ấy làm quyết định trong lòng Huyền Tố đổi hẳn tính chất. Nó không còn là việc anh có nên phạm lời dặn hay không. Nó là việc con đường sư phụ đã đi hai mươi năm trước có thể chính là con đường mà ngày mai anh sẽ đặt chân lên, với cùng một quán trọ, cùng một cách để lại thư, và có thể cùng một kết cục. Anh cảm ơn ông chủ quán, quay lên phòng, ngồi bên đèn cho tới khi nghe rõ tiếng nói chuyện ở phòng bên cạnh.

Phòng bên là phòng của Quảng Khôn. Vách gỗ mỏng, tiếng nói hạ thấp nhưng vẫn lọt qua từng đoạn. Huyền Tố nhận ra giọng Quảng Khôn và giọng Lưu Cổ. Họ không nói tiếng phổ thông của dân buôn bán, mà nói bằng thứ tiếng lóng của dân đào đất mà anh từng nghe qua trong những năm hành nghề gần các vùng mộ cổ. Thứ tiếng ấy dùng từ khác cho cuốc, cho huyệt, cho đồ tùy táng, cho xác chết, nghe nửa hiểu nửa không. Anh áp tai gần vách, giữ hơi thở thật nhẹ, và bắt được vài từ rời rạc đủ để ghép thành ý. Rồi giữa những từ lóng ấy, anh nghe rõ hai chữ được nói bằng tiếng thường, như thể tiếng lóng không có từ thay thế cho nó, hoặc như thể người nói quen miệng gọi đúng tên của nó.

Hai chữ ấy là huyết trì.

Huyền Tố ngồi thẳng dậy. Huyết trì, cái bể chứa máu. Trong câu chuyện bịa mà Quảng Khôn kể với anh ở quán trà, đó là mộ tổ của họ Tạ. Mở ra lấy gia bảo theo di chúc, làm lễ cho chu toàn, hoàn toàn không có chỗ nào cho một cái bể máu ở trong mộ tổ của nhà mình. Một ngôi mộ tổ bình thường không có huyết trì. Chỉ có những ngôi mộ được dựng theo tà thuật ngâm thi, hoặc những nơi thờ cúng bằng máu qua nhiều đời, mới có thứ ấy. Và cả hai trường hợp đều là việc mà một đạo sĩ nghe thấy thì phải đứng dậy ngay trong đêm để hỏi cho ra lẽ.

Anh không đứng dậy. Anh ngồi trong bóng tối sau khi thổi tắt đèn, nghe tiếng nói chuyện ở phòng bên nhỏ dần rồi tắt hẳn, nghe tiếng Quảng Khôn trở mình, tiếng Lưu Cổ về phòng mình ở đầu hành lang. Anh tự nói với mình rằng từ giờ phút này, anh không còn là người làm thuê đi xem phong thủy cho một gia đình mở mộ tổ. Anh là người đi theo một đoàn đào đất để điều tra xem họ thật sự định mở cái gì ở khe Hổ Khẩu. Sư phụ anh hai mươi năm trước đã gặp cái gì, và hai chữ huyết trì kia đang chờ cả đoàn ở độ sâu bao nhiêu dưới lòng núi.

Trước khi nằm xuống, anh mở rương kiểm tra lại hành lý một lượt cuối trong ánh trăng lọt qua khe cửa. Anh xếp ba chiếc Hắc Lư Đề lên trên cùng của lớp pháp khí, đặt ống tre đựng phù ở chỗ tay với tới nhanh nhất, và cuộn Mặc Đấu Tuyến thì để riêng trong hộp gỗ, không lẫn với dây thừng thường của đoàn. Anh cũng mài lại con dao nhỏ gọt chu sa, thử lưỡi dao trên móng tay, rồi cất vào túi trong áo. Nếu ở dưới đó thật sự có thứ cần dùng tới những món này, anh muốn khi việc tới thì tay mình không phải lục lọi trong bóng tối, vì dưới huyệt sâu, chậm một nhịp cũng là chậm cả một đời người.

Anh nằm xuống, mảnh giấy của sư phụ vẫn đặt trên ngực như mọi đêm đi xa. Ngoài sân, trăng đã lên khỏi mái quán trọ, và ở đâu đó trong trấn, chó sủa một hồi dài về phía núi tối đen.

Chương khác

Xem thêm