HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 7: Phiến Đá Tế Văn
Sáng ngày thứ ba trong khe, việc đầu tiên đoàn làm là xem vòng dấu chân quanh trại. Hầu Tam ngồi xổm bên một dấu chân rất lâu, dùng ngón tay chạm nhẹ vào…
Nội dung chương
Sáng ngày thứ ba trong khe, việc đầu tiên đoàn làm là xem vòng dấu chân quanh trại. Hầu Tam ngồi xổm bên một dấu chân rất lâu, dùng ngón tay chạm nhẹ vào mép dấu rồi đưa lên mũi ngửi, mặt cắt không còn giọt máu. Hắn bảo dấu chân này không phải của người trong đoàn, vì cả đoàn không ai đi chân trần trên đá, và chất ướt đỏ in dấu không phải bùn suối. Bùn suối có mùi đất, còn thứ này có mùi tanh sắt rất rõ, ngửi kỹ còn thấy lạnh sống mũi. Quảng Khôn đứng nghe một lúc rồi gạt phắt đi, bảo trong núi có thú hoang liếm đá muối, dấu chân là của khỉ hoặc của người bản địa đi săn. Dặn mọi người đừng mất thì giờ vì chuyện vớ vẩn, hôm nay phải tìm được miệng đạo động theo bản đồ.
Không ai cãi, nhưng từ lúc ấy không khí trong đoàn đổi hẳn. Đỗ Nhị Lang đi đâu cũng nhìn xuống chân mình trước, Mã Thiết Chủy đeo búa sẵn trên vai thay vì vác như trước, Lưu Cổ thì im lặng khác thường. Còn Huyền Tố lặng lẽ lấy một ít đất đỏ ở dấu chân bỏ vào một túi giấy nhỏ, cất vào rương như cất một bằng chứng. Tiểu Thất thấy hết những việc ấy, và hắn càng tin rằng vòng dấu chân đêm qua không phải chuyện vớ vẩn như chú hắn nói.
Đoàn theo bản đồ tiến vào sườn bắc. Hầu Tam đi đầu với la bàn, dù kim vẫn quay loạn, hắn dùng kinh nghiệm xem thế núi, hướng nước chảy và độ dốc của đất để đoán vị trí đạo động cũ. Theo bản đồ, miệng đạo động nằm ở một hõm đất khuất sau ba tảng đá lớn, bị lấp một nửa qua nhiều năm mưa gió. Đoàn mất gần nửa buổi sáng chặt cây, dọn đá mới lộ ra một miệng hầm tối, rộng vừa đủ cho một người chui, hơi lạnh từ trong phả ra mang theo mùi đất ẩm và mùi tanh quen thuộc.
Quảng Khôn mừng ra mặt. Ông ta bảo đây chính là đạo động mà tổ tiên họ Tạ từng đào để vào mộ, về sau lấp lại chờ đời sau đủ duyên mới mở. Hầu Tam thì nói khẽ rằng đạo động này đào có nghề, miệng hẹp, thân dốc, cứ xuống sâu thì mở rộng dần, là lối đào của dân trộm mộ chuyên nghiệp đời trước chứ không phải đường của người chôn cất tử tế. Hai cách nói về cùng một cái hầm, nghe xong ai cũng tự chọn cách mình muốn tin.
Mã Thiết Chủy dẫn đầu dọn đất. Ông ta dùng cuốc chim và búa, vừa đào vừa chửi thề cho đỡ hồi hộp. Đỗ Nhị Lang cùng Tiểu Thất thay nhau chuyển đất ra ngoài bằng thúng, Lưu Cổ đứng ở miệng hầm ghi chép gì đó vào sổ. Hầu Tam cắm cọc và buộc dây đánh dấu từng đoạn sâu, còn Huyền Tố đi sau cùng, thỉnh thoảng dừng lại xem xét vách đất và những thứ lẫn trong đất đào lên. Càng xuống sâu, đất càng đổi màu. Lớp đất mặt xám nâu bình thường qua đi, tới lớp đất vàng, rồi tới một lớp đất đỏ sẫm, đỏ như đất đã thấm thứ gì rất lâu ngày và không phai được nữa. Mùi tanh sắt theo đó càng lúc càng nặng, đến mức Tiểu Thất phải buộc khăn lên mặt mà vẫn thấy vị tanh ở đầu lưỡi.
Ở độ sâu khoảng sáu mét, khi trời bên trên đã sang chiều ngày thứ tư, cuốc của Mã Thiết Chủy chạm vào một vật cứng phẳng, tiếng keng vang lên khác hẳn tiếng cuốc vào đá thường. Cả đoàn nín thở. Mã gạt đất quanh vật ấy ra, để lộ một phiến đá lớn nằm ngang chắn gần hết thân động, mặt đá phẳng, nhẵn, rõ ràng là do người đẽo gọt và đặt vào đây chứ không phải đá tự nhiên lăn xuống. Trên mặt phiến đá có khắc chữ, nét chữ cổ, uốn lượn như rồng như mây, phần lớn đã mòn vì năm tháng và hơi ẩm, chỉ còn vài nét sâu là đọc được lờ mờ.
Đèn bão được hạ xuống gần mặt đá. Lưu Cổ là người ghé sát nhất, nheo mắt đọc từng nét, môi mấp máy. Một lúc sau, hắn đọc lên hai chữ bằng giọng bỗng khàn đi.
- Tế huyết.
Hai chữ ấy vừa ra khỏi miệng hắn, cả đoạn động đang ồn tiếng cuốc và tiếng thở bỗng im phăng phắc. Hầu Tam lẩm bẩm chửi một câu bằng tiếng quê nhà. Mã Thiết Chủy nắm chặt cán cuốc. Tiểu Thất không hiểu hết nghĩa của hai chữ ấy, nhưng hắn hiểu phản ứng của những người xung quanh. Tế huyết là lấy máu mà tế, là thứ chữ người ta khắc ở nơi làm lễ bằng máu, không phải chữ khắc trên đá ranh giới hay bia mộ bình thường.
Quảng Khôn phản ứng nhanh nhất. Ông ta bước tới, lấy chân gạt đất phủ lại một phần mặt đá, nói lớn cho cả đoàn nghe.
- Đá ranh giới mộ của người xưa thôi. Mộ lớn đời Tây Chu thường có đá ghi lễ cúng ở đường vào, chữ tế huyết là nói việc cúng tế ngày xưa, không liên quan gì tới chúng ta. Ai cũng bình tĩnh, đừng để hai chữ cũ làm nhụt chí. Dọn quanh phiến đá này ra, tìm khe hở để đi tiếp.
Giọng ông ta chắc nịch, và như mọi lần, sự chắc nịch ấy làm đoàn người tạm yên. Mã Thiết Chủy lại cầm cuốc lên, Đỗ Nhị Lang lại xách thúng, chỉ có Huyền Tố là không động đậy. Anh quỳ xuống bên phiến đá, đặt lòng bàn tay phẳng lên mặt đá, nhắm mắt như đang nghe một thứ gì qua lòng bàn tay. Anh giữ tay ở đó rất lâu, lâu đến mức Tiểu Thất tưởng anh đã ngủ quên trong tư thế quỳ. Rồi Huyền Tố rút tay lại thật nhanh, như vừa chạm phải một thứ bỏng lạnh, các đầu ngón tay trắng bệch đi dù thân động không hề lạnh đến thế.
Quảng Khôn hỏi đá có gì lạ không. Huyền Tố đáp gọn rằng mặt đá lạnh hơn vách đất xung quanh nhiều, có thể do phía dưới là khoảng trống có nước. Anh không nói thêm, nhưng khi đoàn người bắt đầu dọn đất ở phía bên kia phiến đá, anh đi chậm lại, kéo tay áo Tiểu Thất giữ hắn ở phía sau cùng, hạ giọng xuống mức chỉ đủ cho một người nghe.
- Cậu nghe cho kỹ, và đừng nói lại với ai trong lúc này. Phiến đá này không phải đá ranh giới. Đá ranh giới đặt đứng ở ngoài, còn phiến này đặt nằm ngang, đè lên trên một khoảng kín, nó là nắp của một cái bể. Chữ tế huyết khắc trên nắp bể nghĩa là thứ chứa bên dưới từng được nuôi bằng máu. Và còn một việc nữa, lúc nãy tay tôi đặt lên mặt đá, mặt đá không khô. Nó vừa thấm ra một lớp mồ hôi đỏ, mỏng như sương, lạnh buốt. Đá mà biết ra mồ hôi đỏ thì thứ ở dưới nó chưa chết, hoặc chưa từng được coi là đã chết.
Đoàn mất thêm gần một canh giờ để dọn sạch đất quanh phiến đá. Phiến đá lớn hơn mọi người tưởng, dài chừng một trượng, rộng gần bằng thân động, các mép chèn chặt vào vách đất bằng một thứ vữa cổ đã hóa cứng như đá. Hầu Tam đo đi đo lại, bảo muốn đi tiếp thì hoặc phải nâng cả phiến đá lên, việc ấy cần tời và nhiều người hơn số đoàn đang có. Hoặc phải tìm đường vòng qua phía vách đông nơi đất mềm hơn, đào một nhánh mới chéo xuống dưới phiến đá. Quảng Khôn chọn đường vòng, ra lệnh cắm trại ngay ở miệng đạo động đêm nay, sáng mai đào nhánh mới từ sớm. Không ai phản đối, nhưng ai nấy đều hiểu phiến đá này sẽ còn nằm đó chờ họ ở đoạn đường vòng, như một cái nắp mà sớm muộn gì cũng phải nhìn lại.
Trong lúc dọn đất, Tiểu Thất tìm được lẫn trong lớp đất đỏ mấy mảnh ngói vỡ và một đoạn xương nhỏ đã mủn, không rõ là xương thú hay xương người. Hắn đưa cho Huyền Tố xem, anh chỉ lắc đầu bảo xương đã quá cũ và quá mủn, không kết luận được, nhưng dặn hắn bỏ lại xuống đất, đừng mang vật gì ở độ sâu này lên mặt đất làm kỷ niệm. Lưu Cổ đứng gần đó nghe được, cười bảo thợ mộc trẻ tuổi mà nhát, xương thú trong núi thì đâu đâu cũng có. Huyền Tố không đáp, chỉ nhìn Lưu Cổ thật lâu, vì người buôn đồ cổ vừa rồi đọc hai chữ tế huyết nhanh và chuẩn hơn bất kỳ ai trong đoàn, kể cả người tự xưng là chỉ biết định giá trên mặt đất.
Bữa tối hôm ấy nấu ngay ở miệng hầm. Cơm vừa chín thì gió từ trong đạo động thổi ra mạnh hơn ban ngày, mang theo hơi lạnh và mùi tanh làm ngọn lửa bếp chao đảo mấy lần. Đỗ Nhị Lang ngồi ăn mà cứ ngoái đầu nhìn vào miệng hầm tối om sau lưng, bảo hắn có cảm giác hơi gió ấy không đều, lúc mạnh lúc yếu, như có nhịp. Hầu Tam gạt đi, nói gió trong hang đá nào cũng có nhịp theo sức nóng lạnh, đừng gán cho nó thêm thứ khác. Nhưng chính Hầu Tam sau đó lại lặng lẽ cắm thêm một cây nhang ở miệng hầm, lẩm bẩm khấn vài câu không ai nghe rõ, rồi mới quay vào ăn cơm như chưa làm gì.
Tiểu Thất nằm trong lều dựng tạm bên miệng hầm, nghe tiếng đất đá thỉnh thoảng rơi lác đác trong thân động, nghĩ mãi về hai chữ tế huyết và bàn tay trắng bệch của Huyền Tố. Hắn bắt đầu nhận ra chuyến đi này có hai lớp. Lớp ngoài là những gì Quảng Khôn nói cho cả đoàn nghe, êm tai và hợp lý. Lớp trong là những gì chỉ vài người hiểu, được nói nhỏ, nói riêng, hoặc không nói ra mà chỉ nhìn nhau. Và hắn, người được gọi là máu họ Tạ cần thiết cho chuyến đi, lại là người đứng ngoài cả hai lớp ấy, chỉ thỉnh thoảng được ai đó kéo lại gần để nghe một mảnh sự thật đủ làm hắn mất ngủ.
Tiểu Thất nhìn xuống phiến đá dưới ánh đèn bão chao nhẹ. Lớp đất đỏ đã được dọn sạch phần lớn, mặt đá xám xanh nằm im lìm như đã nằm ở đây hàng ngàn năm. Nhưng nếu nhìn thật kỹ vào chỗ tay Huyền Tố vừa đặt, hắn thấy một vệt ẩm sẫm màu đang loang ra rất chậm từ một khe nứt nhỏ giữa mặt đá. Đỏ như nước rửa thịt, và đang lan dần về phía mép đá nơi đoàn người chuẩn bị đặt cuốc xuống.