HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 6: Vào Khe Hổ Khẩu

Ngày thứ ba, đoàn rời trấn Thạch Môn từ lúc trời chưa sáng hẳn. Bảy người, hai con lừa thồ cùng một xe tay chất đầy đồ, đi qua cổng trấn trong sương mờ,…

Nội dung chương

Ngày thứ ba, đoàn rời trấn Thạch Môn từ lúc trời chưa sáng hẳn. Bảy người, hai con lừa thồ cùng một xe tay chất đầy đồ, đi qua cổng trấn trong sương mờ, không ai tiễn, chỉ có Phùng chưởng quỹ đứng ở cửa quán trọ nhìn theo một lúc rồi quay vào. Tiểu Thất đi ở giữa đoàn, bọc quần áo và gói muối của bà nội buộc chặt sau lưng, trong lòng vẫn còn nguyên câu dặn về quan tài sắt và máu của ông nội mà hắn chưa tìm được lúc nào để nghĩ cho thông.

Đường lớn đi được chừng nửa buổi thì đoàn rẽ vào một lối mòn nhỏ ven suối cạn. Suối chỉ còn những vũng nước đục giữa đá cuội, hai bên bờ lau sậy cao quá đầu người. Quảng Khôn đi đầu, thỉnh thoảng dừng lại đối chiếu hướng với bản đồ, nhưng phần lớn thời gian ông ta đi như người đã thuộc đường. Hầu Tam đi ngay sau, la bàn phân kim cầm trên tay, miệng lẩm nhẩm tính hướng theo từng đoạn. Mã Thiết Chủy và Đỗ Nhị Lang thay nhau đẩy xe, Lưu Cổ đi thong thả ở phía sau, mắt không ngừng quan sát hai bên sườn núi.

Càng vào sâu, cây cối càng rậm. Những thân cây lớn mọc chen nhau trên sườn dốc, tán lá đan kín đến mức giữa trưa mà ánh nắng không lọt xuống được đáy khe, chỉ có những vệt sáng nhỏ rơi trên lá mục và đá rêu. Không khí trong khe lạnh và ẩm, mùi lá mục, mùi đá ướt và một thứ mùi ngai ngái khó tả cứ bám vào cổ họng. Tiểu Thất để ý chim chóc thưa dần. Gần trấn còn nghe tiếng chim khách, tiếng gà rừng, vào tới đây thì chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt và tiếng chân đoàn người đạp lên lá khô.

Huyền Tố đi gần cuối đoàn, rương pháp khí buộc trên lưng lừa, nhưng có một vật anh giao cho Tiểu Thất mang hộ từ lúc rời trấn. Đó là hộp gỗ đựng cuộn Mặc Đấu Tuyến. Anh bảo dây này tuy là pháp khí nhưng gốc của nó là dây thợ mộc, người thợ mộc mang thì hợp tay, lại tránh được việc người ngoài tò mò mở ra xem. Tiểu Thất ôm hộp gỗ trước ngực, thấy lòng gần gũi kỳ lạ với vị đạo sĩ ít nói này. Ở thôn, người ta nhìn thợ mộc là nhìn vào tay nghề làm ăn. Chỉ có Huyền Tố nhìn cuộn dây trong hộp như nhìn một thứ giữ mạng người, và dặn hắn rằng dây này không được để ướt, không được để dính máu, và khi nào anh bảo trải dây thì dù sợ cũng phải giữ chặt đầu dây không buông.

- Dây thợ mộc của các anh dùng để bật mực cho thẳng gỗ, Huyền Tố nói khi hai người đi chậm lại sau đoàn. Dây của tôi cũng bật mực, nhưng là để vạch một đường mà thứ ở bên kia đường không nên bước qua. Nhớ kỹ, đứt một chỗ là hỏng cả đường.

Tiểu Thất gật đầu, ôm hộp chặt hơn. Hắn không hiểu hết, nhưng hắn hiểu cảm giác của một sợi dây căng thẳng giữa hai đầu. Trong nghề mộc, dây bật mực mà chùng thì đường mực sẽ cong, gỗ cưa theo sẽ hỏng cả tấm. Hắn nghĩ việc của đạo sĩ cũng vậy, chỉ khác là thứ bị hỏng khi đường cong không phải tấm gỗ mà là người.

Đến quá trưa, Hầu Tam bắt đầu đi chậm lại. Cứ đi một đoạn, hắn lại dừng, đặt la bàn lên lòng bàn tay, chờ kim đứng yên rồi mới đi tiếp. Tới một khúc quanh nơi suối cạn bị sườn núi phía bắc chắn ngang, hắn dừng hẳn, mặt biến sắc. Kim la bàn trên tay hắn không đứng yên về một hướng nào cả, mà quay loạn từng vòng, lúc nhanh lúc chậm, như thể bên dưới lớp đá có một thứ gì đang kéo nó đi khắp các hướng.

- Sao thế, Hầu Tam? Quảng Khôn quay lại hỏi.

- Long mạch ở đây không bình thường. Hầu Tam nuốt nước bọt, mắt vẫn dán vào la bàn. Tôi đi nghề này mười mấy năm, kim loạn thì gặp nhiều, thường là gần mỏ sắt hoặc chỗ đất có từ tính. Nhưng loạn kiểu này thì chưa gặp. Nó như mạch núi bị ai cắt đứt ở giữa, rồi nối lại bằng một thứ khác không phải đất đá. Đầu nối ấy nằm ngay dưới sườn bắc kia.

Mã Thiết Chủy cười khan, bảo la bàn hỏng thì nói là hỏng, đừng bày chuyện cắt nối dọa nhau giữa núi. Hầu Tam không cãi, hắn cất la bàn, lấy một nắm đất ở sườn bắc lên ngửi, rồi nhổ xuống đất, nói đất ở đây có mùi tanh nhẹ như mùi ao tù lâu ngày, không phải mùi đất núi bình thường. Huyền Tố đứng bên cạnh nghe hết, không nói gì, chỉ nhìn lên sườn bắc một lúc lâu, nơi cây cối mọc dày thành một bức tường xanh đen không thấy đỉnh.

Chiều tối, đoàn cắm trại ở một bãi đất tương đối bằng phẳng gần suối cạn, cách sườn bắc chừng một dặm. Mọi người dựng lều vải, nhóm lửa, nấu cơm và chia nhau gác đêm. Quảng Khôn phổ biến rằng ngày mai sẽ bắt đầu tìm miệng đạo động cũ theo bản đồ, ai nấy nghỉ sớm giữ sức. Đỗ Nhị Lang ăn xong, ngồi tựa vào bao đồ, quả quyết nói với Tiểu Thất rằng lúc hắn đi lấy củi quanh bãi, hắn nghe rõ tiếng đá lăn trên sườn núi phía trên, từng tiếng một, như có người đi lại trên đó. Hắn nhìn khắp, không thấy ai, gọi cũng không ai đáp, mà tiếng đá lăn thì cứ cách một lúc lại vang lên một lần.

- Chắc là thú rừng, Tiểu Thất nói, nhưng chính hắn cũng không tin lắm.

- Thú rừng đi thì có tiếng lá, tiếng cành gãy. Còn cái này chỉ có tiếng đá, như người cố ý đi rất nhẹ mà vẫn làm đá rơi. Anh Thất, tôi nói thật, từ lúc vào khe này, sau gáy tôi cứ lạnh, như có người đứng sau nhìn mà quay lại thì không thấy.

Hầu Tam nghe được, không cười như mọi khi. Hắn bảo trong khe núi sâu, ban đêm không nên nói chuyện có người hay không có người, nói nhiều thì thứ mình nói tới sẽ nghe thấy. Hắn rắc một vòng vôi bột quanh khu lều, cắm mấy cây nhang ở bốn góc, dặn ai đi ra ngoài vòng vôi thì phải gọi một tiếng cho người gác biết. Quảng Khôn chê Hầu Tam bày vẽ, nhưng cũng không cho ai xóa vòng vôi ấy đi.

Đêm trong khe tối đặc, tối hơn đêm ở thôn nhiều, vì cây cối che hết trăng sao, chỉ có đống lửa giữa trại là nguồn sáng duy nhất. Tiểu Thất nằm trong lều, nghe tiếng gió luồn qua tán cây, tiếng nước suối nhỏ giọt, và thỉnh thoảng là một tiếng đá lăn rất khẽ từ sườn bắc vọng xuống, đúng như Đỗ Nhị Lang nói. Hắn nghĩ tới bà nội, tới gói muối trong bọc, tới người đàn ông không da trong giấc mơ đêm đầu tiên, rồi thiếp đi lúc nào không biết trong tiếng lửa cháy lách tách ngoài lều.

Trong lúc chờ cơm chín, Huyền Tố gọi Tiểu Thất ra riêng ở bờ suối, hỏi hắn một việc tưởng như không liên quan. Anh hỏi bà nội hắn có từng nhắc tới ông nội Tạ Văn Sâm mất như thế nào không, và trong nhà có giữ vật gì của ông để lại không. Tiểu Thất đáp ông mất vì bệnh từ khi cha hắn còn nhỏ, nhà chỉ giữ một bài vị và ít quần áo cũ đã đốt theo tục, ngoài ra không có gì. Huyền Tố nghe xong không hỏi nữa, chỉ dặn hắn rằng nếu trong chuyến đi này thấy vật gì có khắc họ Tạ ở nơi không nên có họ Tạ, thì đừng la lên giữa đoàn, cứ lặng lẽ chỉ cho anh trước. Tiểu Thất hỏi lại vì sao, anh đáp rằng có những thứ một khi nói ra giữa đông người sẽ bị người ta lấp đi ngay, và thứ bị lấp đi thường là thứ quan trọng nhất. Hắn ghi nhớ lời ấy, lòng càng thêm nặng, vì nó khớp một cách kỳ lạ với lời bà nội dặn qua thằng Ngưu rằng đừng cãi chú Khôn trước mặt đông người.

Bữa cơm tối trong khe ăn vội, không ai nói chuyện nhiều. Lưu Cổ ăn rất ít, lấy cớ mệt về lều trước, nhưng Tiểu Thất thấy hắn ngồi trong lều lật một cuốn sổ nhỏ dưới ánh đèn, viết gì đó rất nhanh rồi gấp lại khi có người đi qua. Mã Thiết Chủy mài lại lưỡi cuốc, tiếng mài đá sồn sột đều đặn như để trấn an chính mình. Quảng Khôn ngồi xem bản đồ lần cuối, dùng ngón tay lần theo đường vào sườn bắc, môi mấp máy như đang đếm bước. Hầu Tam gác phiên đầu, ngồi bên đống lửa với la bàn đặt trên đùi, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn vào bóng tối giữa hai thân cây lớn, nơi không có gió mà lá vẫn khẽ rung.

Tiểu Thất được phân gác phiên hai cùng Đỗ Nhị Lang. Hai người ngồi bên lửa đã tàn, nói chuyện quê nhà cho đỡ buồn ngủ. Nhị Lang kể hắn sợ ma từ nhỏ, đi chuyến này vì tiền chứ không vì gan dạ, và hỏi Tiểu Thất có sợ không. Tiểu Thất thành thật bảo có sợ, nhưng hắn sợ nhất không phải ma, mà là cảm giác mọi người trong đoàn đều biết rõ mình đang đi đâu, chỉ riêng hắn là đi theo một câu chuyện kể dở. Nhị Lang nghe xong gật đầu lia lịa, bảo hắn cũng có cảm giác ấy, nhất là khi thấy Lưu Cổ và Quảng Khôn nói chuyện riêng với nhau bằng tiếng lạ. Nói tới đó, cả hai cùng im bặt, vì trên sườn núi lại vừa có một tiếng đá lăn, lần này gần hơn, rồi im hẳn như người đi trên đó vừa dừng lại để nghe họ nói.

Sáng hôm sau, Tiểu Thất dậy sớm theo thói quen, ra khỏi lều để nhóm lửa nấu nước. Trời còn tối mờ, sương phủ trắng bãi trại. Hắn đi một vòng quanh khu lều để kiểm tra dây buộc lừa, và bước chân hắn khựng lại ở phía ngoài vòng vôi của Hầu Tam. Trên mặt đá và đất ẩm quanh khu lều, in rõ một vòng dấu chân trần, ướt và đỏ nhạt, dấu nào cũng nguyên vẹn từng ngón, tất cả đều hướng mũi chân về phía sườn bắc. Không có dấu nào hướng ra ngoài, cũng không có dấu nào chồng lên dấu đi của đoàn người từ hôm qua.

Chương khác

Xem thêm