HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 49: Tiệm Mộc Tạ Ký
Một tháng sau đêm lễ phong ấn, tiệm mộc Tạ Ký mở cửa ở đầu trấn Thạch Môn. Tiệm nhỏ, mặt tiền chỉ vừa hai gian, nằm ngay chỗ đường từ thôn Tạ Gia Câu đổ…
Nội dung chương
Một tháng sau đêm lễ phong ấn, tiệm mộc Tạ Ký mở cửa ở đầu trấn Thạch Môn.
Tiệm nhỏ, mặt tiền chỉ vừa hai gian, nằm ngay chỗ đường từ thôn Tạ Gia Câu đổ xuống trấn gặp con đường cái đi tỉnh lị. Tiểu Thất thuê lại căn nhà của một người thợ mộc già vừa mất trong năm, đồ nghề còn nguyên trong tiệm, sân sau có sẵn một cây dổi lớn che mát. Hắn treo tấm biển gỗ tự đẽo lên trước cửa, ba chữ Tạ Ký khắc sâu và quét sơn đen, cái tên hắn chọn trong đúng một buổi tối ngồi với Đỗ Nhị Lang bên bếp lửa. Hắn không gọi theo tên mình, không gọi theo tên thôn, chỉ gọi theo họ, vì cái họ này từ đời hắn phải bắt đầu mang một ý nghĩa khác.
Một tháng ấy cũng là một tháng hai người học lại cách sống như người bình thường. Những ngày đầu mới về thôn, Tiểu Thất giật mình tỉnh dậy giữa đêm không biết bao nhiêu lần, mồ hôi ướt áo, vì trong mơ hắn vẫn nghe tiếng nước nhỏ tong tong trong lòng đất. Bà nội hắn không hỏi gì, chỉ mỗi tối để sẵn một bát nước gừng ấm ở đầu giường và một chiếc khăn khô. Dần dần giấc mơ thưa đi. Cái còn lại chỉ là thói quen: hắn không bao giờ quay lưng về phía cửa tối, và hắn thắp hương mỗi sáng trước khi mở cửa làm việc, một nén cho tổ tiên, một nén cho người không phải tổ tiên mà nhà hắn thờ. Đỗ Nhị Lang thì tập đi lại bằng cái chân mới liền, ngã lên ngã xuống trong sân nhà họ Tạ suốt hai tuần đầu. Và lần nào ngã hắn cũng tự đứng dậy, nói một câu duy nhất: dưới hầm còn không chết, sân nhà này ngã ăn thua gì.
Đỗ Nhị Lang là người của tiệm ngay từ ngày đầu. Cái chân phải của hắn đã liền xương sau một tháng bó thuốc, nhưng đi khập khiễng rõ rệt, mỗi bước một nhịp hụt như tiếng mõ gõ lệch. Hắn không khuân vác nặng được nữa, nhưng tay hắn tỉ mỉ bất ngờ: ngồi một chỗ chà nhám, đánh vecni, ghép những mối mộng nhỏ, hắn làm chậm mà chắc, khách nào nhận hàng cũng gật gù. Hai người đàn ông sống sót từ một ngôi mộ, một người sẹo ngang lòng bàn tay, một người chân đi cà nhắc, cứ thế dựng lại cuộc đời mình bằng mùi gỗ mới và tiếng bào gỗ mỗi buổi sáng.
Tiệm chuyên đóng quan tài và đồ thờ cúng. Đó là quyết định của Tiểu Thất, và hắn không giải thích nhiều với ai. Người trấn ban đầu thấy lạ: một thằng thợ mộc mới hai mươi tuổi, về từ một chuyến đi mà dân gian đồn là xuống mộ ăn thịt người, lại mở tiệm chuyên lo việc cho người chết. Nhưng hàng của hắn tốt thật, quan tài ghép mộng kín khít không một khe hở, bàn thờ chắc chắn không rung sau nhiều năm, giá lại phải chăng và hắn không bao giờ giục tiền những nhà đang có tang. Chỉ sau vài tuần, khắp trấn người ta truyền nhau rằng nhà nào có việc buồn thì cứ tìm tới Tạ Ký, thằng chủ tiệm ấy hiểu việc người chết hơn bất cứ ai.
Ngay trên vách trong của tiệm, phía trên chiếc bàn thờ nhỏ hắn dựng cho tiệm, Tiểu Thất treo cuộn Mặc Đấu Tuyến.
Cuộn dây đã mất hết hiệu lực, cháy đen một đoạn, mực khô cong queo, không còn một tia dương khí nào. Hắn đóng hai cái đinh lên vách, treo cuộn dây lên ngay ngắn như treo một món đồ thờ, và mỗi sáng mở cửa tiệm hắn đều đưa tay vuốt lại cho nó thẳng thớm. Đỗ Nhị Lang ban đầu thấy rợn, nói treo thứ đã từng giăng trước mặt con quái vật ấy trong nhà buôn bán thì không hay. Tiểu Thất đáp một câu mà sau này Nhị Lang thuộc lòng: treo nó ở đây để nhớ mình đã từng sợ tới mức nào, và đã đi qua cái sợ ấy bằng cách nào. Khách vào tiệm thỉnh thoảng có người hỏi cuộn dây cũ kỹ ấy là gì, sao không vứt đi. Hắn chỉ cười, nói là dây nghề của đời trước để lại, của nghề mộc, không đáng tiền.
Việc đầu tiên của tiệm là một cỗ quan tài cho một cụ bà ở cuối trấn, mất thọ ở tuổi tám mươi ba, con cháu đầy nhà. Tiểu Thất đóng cỗ quan tài ấy trong ba ngày, tự tay chọn từng tấm ván, ghép mộng, chà nhám cho tới khi mặt gỗ mịn như mặt gương mờ. Và khi giao hàng, hắn đích thân đi theo tới nhà người ta, giúp gia đình đặt thêm một lớp vải sạch lót trong quan tài và kiểm lại từng cái đinh một lần cuối. Người con trai cả của cụ nắm tay hắn ở cửa, nói nhà này nghèo, xin khất tiền công tới sau mùa gặt. Hắn gật đầu ngay, không một chút khó chịu, và trên đường về hắn nói với Nhị Lang một điều mà từ đó thành lệ của tiệm. Quan tài là món đồ cuối cùng một con người dùng trong đời, mình làm qua loa với nó là mình qua loa với cả một đời người. Nhị Lang nghe, im lặng một lúc, rồi từ hôm ấy mỗi mối ghép trong tiệm đều được hắn kiểm lại hai lần.
Khách đầu tiên của tiệm là Phùng chưởng quỹ.
Chủ quán trọ Phùng gia ký tới vào một buổi sáng, không đi tay không, mang theo một giỏ quà và một việc lớn: ông đặt một bộ bàn thờ mới cho nhà mình, gỗ tốt nhất, làm cho thật chắc. Vì bộ bàn thờ cũ của nhà ông đã lung lay từ lâu mà ông cứ lần lữa chưa thay. Ông trả công hậu hĩnh, đặt cọc trước một nửa bằng bạc trắng, và trong suốt buổi ngồi uống nước chè xem Tiểu Thất đo gỗ. Ông không hỏi một câu nào về chuyến đi tháng trước, không hỏi về đạo sĩ một mắt đã thuê phòng của ông, không hỏi về bốn người không trở về. Chỉ lúc ra về, đứng ở cửa tiệm, ông mới nói một câu rất nhẹ, như nói với chính mình:
- Trấn này người ta sống được là nhờ biết việc gì nên hỏi, việc gì không. Cậu cứ yên tâm làm nghề ở đây.
Số bạc mà Huyền Tố để lại cho các gia đình người chết, Tiểu Thất đã trao đủ từng nhà trong hai tuần đầu. Kèm theo một lời nói thật được hắn cân nhắc rất kỹ cho từng nhà: người của họ chết trong một chuyến đi sai, chết nhanh, và đã được chôn cất tử tế. Chỉ trừ một người mà hắn nói riêng với vợ con của Lưu Cổ, nói hết, kể cả việc không lấy được xác lên và ngôi mộ đã lấp vĩnh viễn. Người vợ của Lưu Cổ nghe xong ngồi lặng rất lâu, rồi chỉ hỏi một câu: vậy là không còn ai phải xuống đó tìm anh ấy nữa, phải không. Hắn gật đầu. Chị ta khóc, nhưng hắn hiểu đó là cái khóc của một người vừa được phép bắt đầu để tang thật sự, sau bao nhiêu ngày không biết chồng mình còn sống hay đã chết.
Dân trấn dần quên chuyện ngôi mộ trong khe Hổ Khẩu, như người ta vẫn quên mọi chuyện kinh khủng sau một mùa vụ. Chỉ còn một điều lạ mà không ai giải thích nổi, và Tiểu Thất cũng không bao giờ giải thích: mỗi mùa mưa lớn, nước suối chảy qua khe Hổ Khẩu đỏ lên đúng một ngày, đỏ như nước rửa sắt, rồi trong lại như thường. Dân bản địa bảo đó là do quặng sắt trên núi bị mưa xói xuống. Thợ mỏ già trong trấn gật gù theo. Tiểu Thất nghe, không cãi, chỉ lặng lẽ ghi nhớ những ngày nước đỏ ấy trong cuốn sổ của mình. Và mỗi lần như thế hắn lại lên bàn thờ trong tiệm thắp thêm một nén hương, trước cả bài vị tổ tiên lẫn cái tên mà hắn đã khắc và mang theo từ nhà: Cơ Trọng Khanh.
Vết cắt ở lòng bàn tay phải của hắn đã thành sẹo, một đường trắng mảnh chạy ngang bàn tay, mỗi khi trời trở lạnh lại nhói lên một nhịp như nhắc. Tay hắn vẫn vững khi cầm bào, cầm đục, chỉ có điều hắn không còn dùng tay phải để thử độ sắc của lưỡi dao như ngày xưa nữa.
Cũng trong tháng đầu ấy, một lá thư ngắn từ Mao Sơn tới tiệm qua tay người phu trạm. Thư của Trương Huyền Tố, nét chữ chắc và ít lời như con người anh: đã về tới núi, đã trình diện sư môn, tội đang chịu, mắt trái không có gì phải lo vì mắt phải còn tốt, phổi đỡ dần. Cuối thư chỉ có một câu dặn: đừng gửi tiền, đừng gửi quà, nếu nhớ nhau thì mỗi năm thắp cho người trong quan tài một nén hương là đủ. Tiểu Thất đọc thư ba lần, gấp lại cẩn thận, cất vào rương thờ cùng cuốn gia phả của nhà mình. Hắn biết đạo sĩ sẽ không bao giờ quay lại trấn này nữa, và hắn cũng biết mình sẽ không lên Mao Sơn tìm anh, vì anh đã nói rõ: người ta chỉ nên gặp nhau ở những việc chưa xong.
Buổi chiều hôm ấy, tiệm sắp đóng cửa, Đỗ Nhị Lang đang quét mùn cưa thì một người khách lạ bước vào.
Người này ăn mặc theo lối tỉnh lị, áo dài gấm tối màu, tay cầm quạt, giày da bóng, không giống bất cứ khách nào từng vào Tạ Ký. Đỗ Nhị Lang ở góc tiệm ngừng tay quét, và Tiểu Thất nhận ra bàn tay cầm chổi của hắn đã siết chặt lại theo một thói quen cũ từ những đêm còn ở trong núi. Người của đoàn cũ luôn nhận ra mùi của những kẻ đánh hơi thấy của cải người chết trước khi chúng mở miệng. Hắn không nhìn quan tài, không nhìn bàn thờ, không hỏi giá một món đồ mộc nào. Hắn đi một vòng chậm rãi quanh tiệm, liếc qua cuộn dây trên vách lâu hơn bình thường một nhịp, rồi dừng lại trước mặt Tiểu Thất, mỉm cười một nụ cười của người buôn bán lâu năm. Rồi hắn hỏi đúng một câu:
- Nghe nói cậu có đồ cổ họ Cơ bán, phải không?
Tiểu Thất đặt cây bào xuống mặt bàn. Hắn ngẩng lên, nhìn thẳng vào mặt người khách lạ.