HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 47: Bài Vị Cho Kẻ Bị Giết
Ba cỗ quan tài chôn xuống nghĩa địa thôn Tạ Gia Câu trong một buổi sáng lặng gió của ngày thứ mười hai. Quan tài do chính tay Tiểu Thất đóng, đóng từ…
Nội dung chương
Ba cỗ quan tài chôn xuống nghĩa địa thôn Tạ Gia Câu trong một buổi sáng lặng gió của ngày thứ mười hai.
Quan tài do chính tay Tiểu Thất đóng, đóng từ những tấm ván hắn đã chuẩn bị ở miệng hầm từ hôm khâm liệm, ghép mộng chắc, quét dầu cẩn thận, tử tế như mọi cỗ quan tài hắn từng đóng cho người làng. Chú hắn, Tạ Quảng Khôn, nằm trong cỗ lớn nhất. Mã Thiết Chủy nằm trong cỗ thứ hai, chiếc búa tạ gia truyền của anh ta được đặt bên cạnh, theo đúng cách một người thợ rèn nên ra đi. Hầu Tam nằm trong cỗ thứ ba, khăn tẩm dấm và viên thuốc chưa kịp ngậm của anh ta đã được lấy ra từ trước, chỉ còn lại bộ quần áo sạch mà vợ anh ta ở nhà nhờ người mang tới. Không có cỗ quan tài thứ tư. Lưu Cổ nằm lại dưới hai mươi mét đất đá, và mỗi lần nghĩ tới điều đó, tay Tiểu Thất lại siết chặt cán cuốc tới mức vệt băng trên lòng bàn tay phải rỉ máu trở lại.
Đỗ Nhị Lang chống nạng đứng ở đầu đoàn đưa tang, cái chân phải còn nẹp gỗ, khập khiễng từng bước trên con đường đất từ nhà ra nghĩa địa mà không chịu để ai dìu. Hắn là người khiêng góc quan tài của Mã Thiết Chủy ở đoạn đường bằng đầu tiên, cho tới khi mọi người bắt hắn buông ra vì sợ cái chân gãy chịu không nổi. Hắn khóc suốt từ nhà ra tới huyệt, khóc không giấu giếm, và hắn là người duy nhất trong đám tang khóc thành tiếng. Về sau Tiểu Thất mới hiểu, trong một đoàn người đã quen với việc giấu mọi thứ, từ sự sợ hãi cho tới món nợ ngàn năm. Thì nước mắt công khai của một người phu khuân vác nhát gan lại là thứ tiễn đưa tử tế nhất mà ba người chết ấy nhận được.
Đám tang lặng lẽ tới mức khó coi. Dân làng tới đưa tiễn đông, nhưng đứng xa, xì xào sau lưng những tấm lưng áo nâu: ngôi mộ trong khe Hổ Khẩu ăn thịt người, đoàn bảy người vào núi chỉ ba người trở ra, thằng cháu họ Tạ tự tay chôn chú ruột của mình. Không ai dám hỏi thẳng một câu nào. Người làng sợ ngôi mộ, sợ câu chuyện, và có lẽ sợ cả ba người sống sót, như thể họ mang theo một thứ gì từ dưới hầm lên mà mắt thường không nhìn thấy. Tiểu Thất nghe hết những lời xì xào ấy mà không giận. Hắn hiểu. Nếu hắn là người ngoài, hắn cũng sẽ đứng xa như thế. Chỉ có vợ của Hầu Tam là bước tới gần, nắm lấy tay áo hắn mà hỏi một câu duy nhất: chồng chị chết có đau lâu không. Hắn nhìn vào mắt người đàn bà góa ấy và nói thật, theo cách mà bà nội đã dạy hắn chiều hôm trước: anh Hầu đi nhanh lắm, trong mấy hơi thở thôi, chưa kịp biết gì nhiều. Đó không hẳn là toàn bộ sự thật về cái chết vì thi khí, nhưng đó là phần sự thật mà một người vợ cần nghe, và hắn tin người chết cũng muốn vợ mình nghe đúng phần ấy.
Tạ lão thái ngồi trên chiếc ghế tre đầu nhà, lưng còng, tay lần tràng hạt. Khi cỗ quan tài của con trai út bà được hạ xuống huyệt, bà không khóc. Khi đất lấp xong, bà bảo Tiểu Thất dìu mình tới trước bàn thờ trong nhà, và bà tự tay thắp ba nén hương trước bài vị của chồng, Tạ Văn Sâm, người đã chết trong chính ngôi mộ ấy bốn mươi năm trước. Lần đầu tiên sau bốn mươi năm, bà thắp hương cho chồng mà không khóc. Tay bà vẫn run, nhưng mắt bà khô.
- Ông ấy về được rồi, Thất à. - bà nói, rất khẽ, chỉ đủ cho hai bà cháu nghe. - Bốn mươi năm nay bà thắp hương mà không dám gọi tên ông ấy to, sợ gọi to thì thứ ở dưới đó nghe thấy, nó giữ ông ấy chặt hơn. Giờ thì hết rồi. Ông ấy không còn bị giữ lại dưới cái hầm ấy nữa. Bà cũng không còn phải giữ bí mật nào nữa.
Tiểu Thất quỳ bên cạnh bà, không nói gì, để mặc cho bàn tay già nua của bà đặt lên đầu mình như hồi hắn còn bé.
Chiều hôm ấy, hắn làm một việc khiến cả nhà sững sờ.
Hắn vào buồng thợ của mình, chọn một tấm gỗ tốt nhất còn lại trong nhà, tấm gỗ dổi già thơm và chắc mà hắn để dành định đóng tủ thờ cho một nhà giàu trong trấn, rồi ngồi xuống đẽo một tấm bài vị mới. Hắn đẽo chậm, chắc tay, chữ khắc từng nét một bằng con dao gọt mộng đã theo hắn xuống tận đáy mộ và trở lên. Nghề mộc dạy hắn rằng gỗ nhớ tay người thợ, và một tấm bài vị đẽo vội sẽ cong vênh chỉ sau một mùa ẩm, như thể người được thờ cũng biết mình bị đối xử qua loa. Hắn không muốn đối xử qua loa với người này. Lòng bàn tay phải của hắn còn đau, mỗi nhát dao ấn xuống đều làm vết cắt trong lớp băng nhói lên một nhịp, và hắn để mặc cái đau ấy đi cùng từng nét chữ, như một phần của lễ. Khắc xong tên, hắn dùng giấy nhám mịn chà mặt gỗ cho tới khi sờ vào mát như mặt nước, rồi quét một lớp dầu mỏng, không sơn son thếp vàng gì cả. Người này không cần vàng. Người này đã nằm trong một cái bể đỏ một ngàn năm, và điều duy nhất ngài ấy từng đòi chỉ là một cái tên được gọi đúng, đặt đúng chỗ. Trên tấm bài vị ấy, hắn khắc tên của một người: Cơ Trọng Khanh, thượng đại phu thời Tây Chu, người bị gia thần giết trong một đêm của một ngàn năm trước.
Khi hắn mang tấm bài vị ra và đặt lên bàn thờ, ngay cạnh dãy bài vị tổ tiên họ Tạ, Tạ lão thái nhìn hắn rất lâu. Mấy người họ hàng có mặt trong nhà xôn xao hẳn lên. Có người nói nhà họ Tạ thờ người ngoài là trái lệ. Có người nói thờ một người chết từ thời Tây Chu, lại là người mà tổ tiên mình đã giết, thì chẳng khác nào rước nợ vào nhà.
Tiểu Thất đặt nén hương vào tay, thắp lên, cắm trước cả hai dãy bài vị, rồi mới quay lại nói, giọng hắn không to nhưng rõ từng chữ:
- Từ nay nhà này thờ cả người đã giết lẫn người bị giết.
Hắn nhìn dọc bàn thờ, nhìn những cái tên của tổ tiên mà một tuần trước hắn còn tự hào. Rồi nói tiếp điều hắn đã nghĩ suốt từ đêm ở hai mươi mét dưới lòng đất:
- Người trong quan tài sắt ấy chờ một ngàn năm chỉ để nghe nhà mình nhận một câu. Ngài ấy đã nghe rồi, và ngài ấy đã đi rồi. Tấm bài vị này không phải để rước nợ. Nó để đời sau của họ Tạ nhìn vào mà nhớ: món nợ này đã trả xong bằng cách nào, và bằng máu của ai, để không một đời nào nữa lặp lại câu chuyện bịa về gia bảo, không một đời nào nữa dắt nhau vào khe Hổ Khẩu. Nhà nào quên mất mình từng nợ ai, nhà ấy sẽ nợ lại.
Trương Huyền Tố ngồi ở góc sân suốt buổi chiều ấy, một mắt nhắm, một mắt nhìn hắn làm việc, không chen vào một câu nào. Mãi tới khi tấm bài vị đã yên vị trên bàn thờ, đạo sĩ mới lên tiếng, giọng nhẹ như sợ làm động khói hương:
- Sư môn của ta thờ người chết oan bằng cách siêu độ, gọi tên họ ba lần rồi tiễn đi. - anh nói. - Cách của cháu khác. Cháu giữ cái tên ấy lại trong nhà mình, thờ cạnh tổ tiên mình, đời đời. Nặng hơn nhiều. Cháu có chắc mình gánh nổi không?
- Cháu không gánh một mình. - Tiểu Thất đáp. - Đời sau của cháu sẽ gánh cùng, nhìn vào tấm bài vị này mà gánh. Đó mới là cách để không ai quên. Siêu độ xong là xong, người ta dễ quên lắm, sư phụ. Họ Tạ quên một lần đã mất một ngàn năm.
Huyền Tố im lặng một lúc lâu rồi gật đầu, cái gật đầu của một người làm nghề lâu năm công nhận một cách làm khác nghề của mình mà vẫn đúng.
Không ai nói thêm một lời nào nữa. Tạ lão thái chống gậy đứng dậy, tự tay rót một chén rượu, đặt trước bài vị mới, ngay cạnh chén rượu trước bài vị của chồng mình. Bà làm việc ấy chậm rãi, trang trọng, như thể bà đã chờ bốn mươi năm để được rót chén rượu này.
Đêm ấy, khi nhà đã yên, Tiểu Thất mở cuốn gia phả gốc của họ Tạ ra trên bàn, dưới ánh đèn dầu. Cuốn gia phả thiếu nhiều trang cuối, trang cuối cùng còn lại là dòng chữ tay run rẩy của ông nội hắn viết trước chuyến đi định mệnh bốn mươi năm trước. Máu nhà này là chìa khóa, cũng là món nợ, đừng để nó đổ vô ích như máu của ta. Hắn đọc dòng chữ ấy ba lần. Rồi hắn lấy bút, mài mực, và tự tay chép bổ sung trang cuối còn thiếu của gia phả, ngay sau dòng chữ của ông nội, bằng nét chữ của một người thợ mộc mười chín tuổi vừa đi qua một ngôi mộ ngàn năm.
Hắn viết về chuyến đi mười hai ngày. Viết đủ tên bảy người vào núi, bốn người chết, chết ở đâu, vì sao. Viết về văn bia trong hậu thất, về Tạ Hoằng giết chủ Cơ Trọng Khanh đoạt ngọc tỷ, về câu chuyện gia bảo bịa đặt truyền qua bao đời. Viết về đêm lễ phong ấn, về máu tự nguyện, về quan tài cháy và ngọc tỷ vỡ. Hắn viết không giấu một điều gì, kể cả phần của chú hắn, kể cả phần của chính dòng họ mình, vì hắn đã hiểu: chính sự giấu giếm của các đời trước đã giết chết các đời sau.
Trang giấy gần đầy, hắn dừng bút một lúc lâu, nhìn xuống lòng bàn tay phải của mình, nơi vết cắt dưới lớp băng đã bắt đầu khép miệng thành một đường đỏ sẫm. Rồi hắn viết dòng cuối cùng của trang cuối gia phả họ Tạ, nét chữ chậm và nặng như khắc vào gỗ:
Ngày tháng năm Giáp Tuất, nợ đã trả. Người đời sau họ Tạ không được vào khe Hổ Khẩu nữa.