HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 48: Đạo Sĩ Xuống Núi

Trương Huyền Tố rời thôn Tạ Gia Câu vào buổi chiều ngày thứ mười hai, với hành lý nhẹ hơn hẳn lúc anh tới. Mười hai ngày trước, anh vào thôn này với một…

Nội dung chương

Trương Huyền Tố rời thôn Tạ Gia Câu vào buổi chiều ngày thứ mười hai, với hành lý nhẹ hơn hẳn lúc anh tới.

Mười hai ngày trước, anh vào thôn này với một túi vải đầy pháp khí: ba chiếc Hắc Lư Đề, bảy lá Định Thân Phù, một cuộn Mặc Đấu Tuyến dài chín trượng chín thước. Một chiếc chuông đồng, giấy dầu, dầu hỏa, và một lá thư để lại ở quán trọ Phùng gia ký hẹn mười lăm ngày không về thì gửi về Mao Sơn. Giờ anh ra đi với đúng những thứ này: chiếc chuông đồng, ba lá Định Thân Phù còn nguyên vẹn chưa từng ướt một giọt máu. Và cuộn Mặc Đấu Tuyến đã mất hết hiệu lực, cháy đứt một đoạn, chết lặng như một sợi dây thợ mộc bình thường nhất trên đời. Hai chiếc móng lừa cuối cùng đã nằm lại trong ngọn lửa ở hai mươi mét dưới đất. Bốn lá phù đã dùng hết theo đúng số phận của chúng. Anh xếp ba lá phù còn lại vào túi giấy dầu, đặt ngay ngắn trong túi vải, và tự nhủ chúng sẽ theo anh về tận Mao Sơn. Như một bằng chứng nộp lại cho sư môn: đệ tử đã dùng bốn, còn mang về ba, và không một lá nào bị dùng sai việc.

Trên đường từ nghĩa địa về nhà, anh ghé qua quán trọ Phùng gia ký ở đầu trấn. Phùng chưởng quỹ thấy anh thì đứng bật dậy sau quầy, nhìn một lượt từ đầu tới chân người đạo sĩ thuê phòng mười hai ngày trước. Nhìn miếng vải đen anh mới buộc che mắt trái, rồi lặng lẽ mở ngăn kéo, lấy ra một phong thư niêm kín đặt lên quầy. Đó là lá thư anh để lại trước khi vào núi, dặn mười lăm ngày không thấy anh trở ra thì gửi thẳng về Mao Sơn, trong thư là toàn bộ những gì anh biết về ngôi mộ và lời xin lỗi sư môn. Phùng chưởng quỹ giữ nó đúng mười hai ngày, chưa gửi, và giờ đặt nó lại trước mặt chủ nhân của nó.

- Đạo trưởng tự cầm về đi. - ông ta nói. - Thư của người sống sót thì không cần người khác gửi hộ nữa.

Huyền Tố cầm phong thư lên, nhẹ như cầm một lá phù đã cháy hết. Anh không mở ra. Anh sẽ mang nó về tận Mao Sơn, nộp cùng ba lá phù còn nguyên, và tự mình đứng trước sư môn mà nói những điều đã viết trong thư, bằng miệng, bằng một con mắt còn lại. Người ta chịu tội thay cho thư của mình, đó mới là chịu tội cho đàng hoàng. Phùng chưởng quỹ tiễn anh ra cửa, không hỏi một câu nào về chuyến đi, chỉ rót thêm cho anh một bầu nước đầy và nói đường về núi xa, nước giếng trấn này ngọt, cứ mang theo mà uống.

Trước khi đi, anh làm một việc mà cả nhà họ Tạ không ngờ.

Anh từ chối toàn bộ phần tiền công còn lại của chuyến đi, và cả số bạc mà Tạ Quảng Khôn để lại trong hành lý của đoàn, anh cũng không nhận một đồng. Số bạc ấy, anh giao hết lại cho Tạ lão thái, xin bà chia cho gia đình của những người đã chết: vợ của Hầu Tam, mẹ già của Mã Thiết Chủy, và vợ con của Lưu Cổ ở trấn dưới núi. Những người mà mới sáng nay anh đã tự tay trao lại xâu tiền đồng và chiếc nhẫn bạc tùy thân của người chết, nói rõ từng chữ sự thật mà không giấu một phần nào. Bà cụ cầm số bạc, nhìn anh bằng đôi mắt đã khô nước mắt sau bốn mươi năm chờ đợi, và hỏi:

- Cậu đi chuyến này, mất một con mắt, suýt mất cả mạng, giờ không lấy một đồng nào. Vậy cậu lấy cái gì mà về?

Huyền Tố đáp, và anh nói thật như chưa từng nói thật với ai trong chuyến đi này:

- Cháu lấy một sự thật về sư phụ của cháu. Bao nhiêu năm nay cháu vẫn đi tìm ông ấy ở Tần Lĩnh mà không dám nghĩ tới cùng. Giờ cháu đã hiểu: hai mươi năm trước, rất có thể sư phụ cháu cũng đã chạm tới ngôi mộ này, đã đứng trước quan tài sắt xích chín vòng, và đã làm đúng lời dặn mà ông để lại cho học trò: ông quay đầu. Ông quay đầu và mất tích trên đường về, hoặc ông quay đầu và chọn ở lại trông chừng nơi này cho tới chết, cháu không biết. Nhưng lời dặn của ông không phải lời của một người hèn nhát. Đó là lời của một người đã nhìn thấy cái bẫy này trọn vẹn và biết rằng chưa tới lúc trả nợ, vì người họ Tạ chưa sẵn sàng tự nguyện. Cháu về núi chịu tội với sư môn vì đã phạm lời dặn ấy. Nhưng cháu không hối hận. Nếu cháu quay đầu như sư phụ năm xưa, thì đứa trẻ này và bao nhiêu đời sau của nó vẫn còn phải xuống cái hầm ấy.

Bà cụ gật đầu, nắm lấy tay anh một lúc, bàn tay già nua khô khốc mà ấm.

- Còn con mắt của cậu. - bà nói khẽ. - Họ Tạ nợ cậu một con mắt.

- Không phải nợ. - Huyền Tố lắc đầu. - Là giá. Nợ thì phải trả, trả xong là hết. Giá thì khác: giá là thứ mình bằng lòng mất đi để đổi lấy một điều đáng hơn. Một con mắt đổi lấy một ngôi mộ khép lại và một dòng họ dứt nợ ngàn năm, cháu tính thế nào cũng thấy mình lời. Bà đừng để bụng. Nếu bà để bụng, thằng Thất nó cũng để bụng theo, mà nó đã mang đủ nặng trong người rồi.

Bà cụ im lặng rất lâu, rồi buông tay anh ra, chống gậy đứng dậy, tự tay rót cho anh một chén rượu tiễn. Anh uống cạn, đặt chén xuống, dập đầu chào bà một cái như chào một bậc trưởng bối trong nhà, rồi mới ra sân đeo túi vải lên vai.

Ngoài cổng thôn, Tiểu Thất và Đỗ Nhị Lang đứng chờ tiễn anh. Đỗ Nhị Lang chống nạng, tay cầm một gói bánh khô bọc lá mà vợ Hầu Tam nhất quyết gửi theo cho đạo sĩ ăn đường. Tiểu Thất đứng thẳng, bàn tay phải vẫn quấn băng, lòng bàn tay giấu trong lớp vải như giấu một thứ gì quý giá. Hắn đã khỏi hẳn cơn sốt thi khí, chỉ còn gầy đi trông thấy và già đi mấy tuổi so với mười hai ngày trước, cái già của một người đã nhìn thấy những thứ mà đáng lẽ cả đời không nên thấy.

Huyền Tố dừng lại trước mặt hắn. Anh lấy cuộn Mặc Đấu Tuyến đã chết hiệu lực trong túi ra, đặt vào tay trái lành lặn của thằng nhỏ.

- Cái này, ta để lại cho cháu. - anh nói. - Nó không còn một chút dương khí nào nữa, đừng dại mà mang nó đi trừ tà ở đâu, chỉ tổ chết người. Nhưng nó là sợi dây đã giăng ở cửa chủ thất trong đêm cuối cùng, và nó là dây thợ mộc, thuộc về nghề của cháu. Treo nó trong tiệm của cháu sau này. Mỗi lần nhìn thấy nó, nhớ rằng có những thứ ta đóng lại được là nhờ có người chịu trả giá, không phải nhờ ta giỏi.

Tiểu Thất cầm cuộn dây bằng cả hai tay, cẩn thận như cầm một món đồ thờ.

- Sư phụ còn quay lại đây không? - Tiểu Thất hỏi.

- Không. - Huyền Tố đáp ngay, không để câu hỏi ấy kịp thành hy vọng. - Ngôi mộ này khép rồi, và ta là người ngoài họ Tạ, không có việc gì ở đây nữa. Cháu cũng đừng chờ ta. Người ta chỉ nên gặp nhau ở những việc chưa xong, Thất à. Việc của chúng ta xong rồi.

- Sư phụ, về núi rồi, sư môn có phạt nặng lắm không?

- Phạt chứ. - Huyền Tố cười bằng một mắt. - Phạm lời dặn của sư phụ, xuống mộ trái phép, để mất một con mắt của sư môn cho một ngôi mộ không phải việc của sư môn. Nhẹ nhất là cấm túc ba năm, chép kinh, gánh nước. Ta chịu được. Ta đã chịu những thứ nặng hơn trong mười hai ngày qua, với cháu.

Đỗ Nhị Lang chống nạng lết theo anh mấy bước, cái chân gãy chưa lành hẳn mà hắn cứ đòi tiễn cho tới tận gốc đa đầu thôn. Hắn không biết nói gì cho phải phép với một đạo sĩ, cuối cùng chỉ buột miệng một câu rất vụng:

- Sư phụ, mắt của sư phụ... là vì cứu tụi tôi mà mất. Sau này sư phụ có cần gì, cứ cho người xuống trấn Thạch Môn nhắn một tiếng.

- Ta nhớ. - Huyền Tố đáp, và anh nói thêm một điều mà anh tin là thật: - Nhị Lang, trong chuyến này, người giữ đúng lời hứa nhất là anh đấy. Sống cho tử tế vào. Cái chân khập khiễng không làm người ta nhỏ đi đâu. Chỉ có lời hứa không giữ mới làm người ta nhỏ đi thôi.

Đỗ Nhị Lang đứng sững lại, rồi khóc, lần thứ bao nhiêu trong hai ngày nay hắn cũng không đếm nổi nữa.

Anh bước đi. Con đường đất ra khỏi thôn Tạ Gia Câu chạy men theo chân núi, phía xa là khe Hổ Khẩu mờ trong nắng chiều, miệng hầm đã lấp kín giờ chỉ còn là một gò đất mới không ai nhận ra. Anh đi được một đoạn khá xa, tới chỗ con đường rẽ xuống trấn Thạch Môn, thì dừng lại. Không hiểu sao anh quay đầu, nhìn thằng nhỏ thợ mộc vẫn đứng nguyên ở cổng thôn, tay ôm cuộn dây, và nói vọng lại câu cuối cùng của mình trong chuyến đi này. Nói rõ ràng để nó nhớ cho kỹ:

- Nghề mộc của cháu và nghề đạo của ta giống nhau, đều là đóng cho kín những thứ không nên mở ra.

Rồi anh đi thêm vài bước và dừng lại một lần nữa, vì còn một điều quan trọng hơn mà anh suýt quên dặn, điều mà anh biết chắc sẽ tới trong những năm sau. Khi câu chuyện về ngôi mộ ăn thịt người lan ra khỏi cái thôn nhỏ này:

- Sau này, nếu có người họ khác tìm tới hỏi chuyện ngôi mộ, đừng kể đường đi. Chỉ kể cái giá.

Chương khác

Xem thêm