Lên Hương - Chương 151: Chú Bảy trở về
Cái ôm siết chặt đến nghẹt thở. Mùi rượu đế ngâm gừng, mùi vải ba lô sờn cũ, hơi ấm của một người bằng xương bằng thịt truyền qua vai áo. Không phải mơ.…
Nội dung chương
Cái ôm siết chặt đến nghẹt thở. Mùi rượu đế ngâm gừng, mùi vải ba lô sờn cũ, hơi ấm của một người bằng xương bằng thịt truyền qua vai áo. Không phải mơ. Không phải hồn ma. Diệp An úp mặt vào vai chú, khóc như một đứa trẻ. Nửa năm. Nửa năm trời không một tin tức, không một lá thư, chỉ có nỗi lo sợ âm ỉ mỗi đêm: chú có còn sống không, chú đang ở đâu, chú có bị Vĩnh Hằng hại không. Tất cả vỡ òa trong một cái ôm.
- Chú... chú đi đâu... sao không báo tin gì... con tưởng... con tưởng...
- Chú còn sống nhăn đây nè, - chú Bảy vỗ vỗ lưng anh, giọng cũng nghẹn ngào. - Khóc gì mà khóc như con nít. Hai mươi bốn tuổi rồi, thủ khoa mỹ thuật rồi, mà khóc như thằng cu Tí.
- Con không quan tâm, - Diệp An nói, mặt vẫn úp vào vai chú. - Chú về là được rồi.
Bé Ba hiện ra, nhìn thấy chú Bảy thì òa khóc nức nở, lao vào ôm chầm lấy ông từ phía bên kia:
- Chú Bảy! Chú Bảy về rồi! Em nhớ chú muốn chết! Em tưởng chú bỏ em luôn rồi!
- Ừ ừ, chú về rồi đây, - chú Bảy một tay ôm Diệp An, một tay ôm Bé Ba, mắt đỏ hoe. - Bé Ba của chú vẫn bé như ngày nào, không lớn thêm được phân nào.
- Em là ma mà, lớn làm sao được, - Bé Ba vừa khóc vừa cười, nước mắt nước mũi tèm lem.
A Lực đứng nhìn, tay siết chặt đến trắng bệch, rồi bước tới, ôm chầm lấy chú Bảy từ phía sau, thành ra bốn người ôm nhau thành một cục giữa bậc thềm tiệm lúc ba giờ sáng. Tư Hủ Tiếu đứng bên cạnh lau nước mắt, miệng cười toe toét:
- Về là tốt rồi, về là tốt rồi. Cả nhà đoàn tụ.
Một lúc lâu sau, bốn người mới buông nhau ra. Chú Bảy ngồi xuống bậc thềm, đặt chiếc ba lô sờn cũ xuống bên cạnh, và mọi người mới để ý: trong lòng ông, ôm khư khư một cuốn sổ bọc vải dầu đã cũ, dây buộc cẩn thận như bọc một báu vật.
- Cuốn sổ gì vậy chú? - Diệp An hỏi, vừa hỏi vừa rót cho chú một bát cháo gừng nóng.
- Ăn đã, - chú Bảy đón bát cháo, húp một muỗng lớn, nhắm mắt thưởng thức. - Ừm, cháo của thằng Tư vẫn ngon như ngày nào. Đi nửa năm, nhớ nhất là nồi cháo gừng này với rượu đế gừng gió của chú.
- Chú đi đâu mà nửa năm không tin tức? - A Lực hỏi, giọng vừa mừng vừa trách. - Có biết tụi con lo thế nào không? Thằng An nó mất ngủ mấy tháng trời.
Chú Bảy đặt bát cháo xuống, nụ cười hề hề tắt dần, thay vào đó là một vẻ mặt nghiêm túc hiếm thấy. Ông vuốt ve cuốn sổ bọc vải dầu trong lòng, như đang lấy can đảm.
- Chú đi Huế, - ông nói chậm rãi. - Ra đó di dời mấy món bảo vật trấn trạch về nơi an toàn. Vĩnh Hằng nó đánh hơi được rồi, chú không đi thì chúng nó mò đến, mất hết.
- Bảo vật trấn trạch? - Diệp An ngơ ngác. - Tiệm mình có bảo vật trấn trạch hả chú?
- Có chứ, nhiều là đằng khác. Mà chuyện đó để sau. - Chú Bảy xua tay. - Quan trọng là cuốn sổ này.
Ông cẩn thận mở lớp vải dầu bọc ngoài, để lộ một cuốn sổ bìa da đã cũ sờn, góc bìa bong tróc, nhưng những trang giấy bên trong vẫn còn nguyên vẹn, chữ viết tay nắn nót. Ông lật vài trang cho mọi người xem: toàn là sơ đồ, ghi chú, những ký hiệu phong thủy mà Diệp An chỉ hiểu lờ mờ.
- Đây là sổ địa bạ phong thủy các ngôi mộ cổ Nam Bộ, - chú Bảy nói, giọng trầm hẳn. - Ông nội của chú truyền cho ba chú, ba chú truyền cho chú. Trong này ghi chép vị trí, hướng đất, mạch nước của hàng trăm ngôi mộ cổ từ thời Nguyễn trở về trước, khắp các tỉnh Nam Bộ. Ai có cuốn sổ này trong tay, người đó nắm được bản đồ long mạch của cả vùng đất này.
A Lực huýt sáo một tiếng dài:
- Bảo bối vậy mà chú giữ kỹ ghê. Tống Gia Khang mà biết chú có cuốn sổ này, nó trả bao nhiêu tiền cũng mua.
- Nó có trả cả gia tài chú cũng không bán, - chú Bảy cười khẩy. - Cuốn sổ này mà lọt vào tay kẻ ác, chúng nó đào trộm long mạch, trấn yểm bừa bãi, cả vùng đất này mang họa. Chú thà chết cũng không để chuyện đó xảy ra.
- Nhưng sao chú phải đi biệt tích? Sao không nói cho tụi con biết? - A Lực hỏi, giọng vẫn còn chút hờn dỗi. - Chú có biết thằng An nó suýt phát điên không? Nó đi khắp các nghĩa trang tìm chú đó.
Chú Bảy nhìn Diệp An, ánh mắt đầy áy náy. Ông đưa tay xoa đầu đứa cháu như hồi anh còn bé:
- Chú xin lỗi. Không phải chú không muốn báo tin, mà là không thể. Chú đi Huế di dời bảo vật, đường đi nước bước phải tuyệt đối bí mật. Vĩnh Hằng nó cài người theo dõi khắp nơi, chỉ cần chú liên lạc về là chúng nó lần ra dấu vết. Chú đành cắn răng đi, để tụi bây ở nhà lo lắng. Chú biết là tệ lắm, nhưng không còn cách nào khác.
- Bảo vật gì mà quan trọng dữ vậy chú? - Bé Ba tò mò hỏi.
- Mấy món đồ trấn trạch của tổ nghề mộc tang: một pho tượng Lỗ Ban bằng gỗ trầm, một bộ đinh gỗ đào trấn mạch, và quan trọng nhất là ấn triện của Đạo tỳ môn. Mấy món đó mà lọt vào tay Vĩnh Hằng, chúng nó dùng để trấn yểm ngược lại mình thì khốn. Chú phải đem ra Huế gửi ở nhà một người bạn cũ, nơi an toàn tuyệt đối, rồi mới dám quay về.
Diệp An nghe mà lòng quặn thắt. Hóa ra nửa năm qua, chú Bảy không phải bỏ đi chơi, mà là đi làm một nhiệm vụ nguy hiểm, một mình, không ai bảo vệ, không ai biết. Ông đã giăng một cái bẫy lớn, và chính ông là mồi nhử.
- Chú gầy quá, - Diệp An nói, giọng nghẹn ngào. - Ở Huế chắc khổ lắm hả chú?
- Khổ gì, - chú Bảy cười hề hề, nhưng nụ cười không giấu được vẻ mệt mỏi. - Ở Huế được ăn bún bò, ngắm sông Hương, sướng như tiên. Chỉ có điều... nhớ nhà quá. Nhớ nồi cháo gừng của thằng Tư, nhớ tiếng chuông của Bé Ba, nhớ thằng cháu hay càm ràm của chú.
Câu nói đùa khiến mọi người cười, nhưng ai cũng thấy khóe mắt chú Bảy hoe đỏ. Tư Hủ Tiếu vội bưng thêm một bát cháo nữa ra, dúi vào tay chú:
- Ăn đi, ăn cho lại sức. Ốm nhom ốm nhách, ma nó còn chê.
- Ma nào dám chê chú, - Bé Ba chen vào, vỗ ngực. - Có em bảo kê, ma nào cũng phải nể.
Cả nhóm cười vang, xua đi không khí nặng nề. Nhưng trong lòng Diệp An, một câu hỏi vẫn lởn vởn: chú Bảy về đúng lúc quá, đúng đêm họ vừa đột nhập xưởng về. Là trùng hợp, hay chú đã tính toán từ trước? Và cuốn sổ địa bạ này, tại sao chú phải ôm khư khư như báu vật?
Diệp An lật xem vài trang, thấy những sơ đồ vẽ tay tỉ mỉ, những ghi chú bằng chữ Nôm xen lẫn chữ Quốc ngữ. Ở một trang, anh thấy vẽ sơ đồ khu Đa Phước, có khoanh tròn đỏ đúng vị trí mộ cụ Khai. Ở trang khác, vẽ sơ đồ khu Bình Hưng Hòa, khoanh tròn đỏ đúng vị trí xưởng gỗ ép Vĩnh Hằng.
- Chú... - Diệp An ngẩng lên, mắt mở to. - Trong sổ này có ghi vị trí mộ quách số hai?
- Có, - chú Bảy gật đầu. - Và còn nhiều hơn thế nữa.
Ông lật tiếp, đến một trang giữa sổ. Trang giấy này cũ hơn những trang khác, mép giấy đã ố vàng, nhưng nét vẽ vẫn rõ ràng: sơ đồ một con hẻm nhỏ, một ngôi nhà ba gian, và một vòng tròn đỏ khoanh ở chính giữa nền nhà. Bên cạnh vòng tròn, dòng chữ Nôm ghi chú nguệch ngoạc.
Diệp An nheo mắt nhìn kỹ. Con hẻm nhỏ không số cạnh nhà thờ Chợ Quán. Ngôi nhà ba gian với cánh cửa sắt chỉ mở nửa từ nửa đêm đến ba giờ sáng. Anh đọc đi đọc lại mấy lần, rồi ngẩng lên nhìn chú Bảy, mặt tái mét:
- Chú... đây là... đây là sơ đồ của Vạn Niên Cư mà?
Chú Bảy không trả lời ngay. Ông nhìn đứa cháu, ánh mắt sâu thẳm như giếng cổ, rồi chậm rãi gật đầu, mỗi cái gật nặng nề như đang gật một cái gật đã nén giữ ba mươi năm.
- Ừ.
- Vậy... cái vòng tròn đỏ chú khoanh... là cái gì?
Chú Bảy trải cuốn sổ ra giữa chiếu, vuốt phẳng trang giấy, ngón tay gầy guộc đặt lên vòng tròn đỏ. Ông hít một hơi dài, như người thợ lặn chuẩn bị lặn xuống vùng nước sâu nhất.
- Có chuyện này, - ông nói, giọng trầm đến mức gần như thì thầm. - Chú giấu bay ba mươi năm nay. Đến lúc phải nói ra rồi.
Ngọn đèn lồng sen trắng đung đưa trong gió sớm, ánh sáng trắng mờ phủ lên khuôn mặt khắc khổ của chú Bảy. Bé Ba níu chặt tay áo Diệp An. A Lực và Tư Hủ Tiếu nín thở, không dám nhúc nhích. Ngoài kia, trời đã hửng sáng, chim bắt đầu hót, nhưng trong gian tiệm nhỏ, thời gian như ngừng lại, chờ đợi một bí mật ba mươi năm được hé lộ.