Linh Quang Giám Bảo - Quyển 2: Minh Khí Quỷ Ám - Chương 31: Trò Đánh Tráo Tinh Vi
Tiếng then sắt rít lên khô khốc xé toạc không gian ẩm ướt của tầng hầm trạm nghiên cứu. Cánh cửa kim loại nặng nề bật mở. Luồng gió mặn chát cuốn theo…
Nội dung chương
Tiếng then sắt rít lên khô khốc xé toạc không gian ẩm ướt của tầng hầm trạm nghiên cứu.
Cánh cửa kim loại nặng nề bật mở. Luồng gió mặn chát cuốn theo hơi nước biển từ hành lang ùa vào, làm chao đảo bóng đèn sợi đốt duy nhất treo lơ lửng trên trần bê tông. Đứng ở ngưỡng cửa là hai nhân viên kỹ thuật mặc đồ bảo hộ chống nước của Quỹ Viễn Đông, trên tay xách theo kìm cắt niêm phong và một hòm kim loại chuyên dụng lót mút xốp màu đen.
Nhìn thấy Lâm Tuấn và Diệp Nhi đứng sừng sững bên cạnh hòm gỗ số ba đã bị mở nắp, hai gã kỹ thuật viên khựng lại, tay cầm kìm cắt bất giác siết chặt.
- Các người làm gì ở đây vào giờ này? - Gã kỹ thuật viên đi đầu gằn giọng, bàn tay còn lại thò vào túi áo gió chống thấm như tìm kiếm vật gì đó.
- Câu đó phải để tôi hỏi mới đúng - Lâm Tuấn bước lên nửa bước, che chắn cho Diệp Nhi ở phía sau - Bão chưa tan, lệnh giới nghiêm toàn trạm vẫn còn hiệu lực. Hai người mang hòm rỗng cùng kìm bấm chì xuống khu vực cách ly hiện vật để làm gì?
Gã kỹ thuật viên chưa kịp lên tiếng biện bạch thì từ phía sau lưng gã, tiếng bước giày da gõ dứt khoát trên bậc cầu thang bê tông đã vọng xuống.
Mã Viễn bước vào, theo sau là Giáo sư Toàn cùng ba ủy viên cao cấp của Hội đồng Giám định Cổ vật Quốc gia. Tiếng còi hú báo bão cấp tám từ đài khí tượng của đảo Cù Lao Chàm vẫn dội từng hồi qua các khe thông gió, nhưng bầu không khí ngột ngạt dưới căn hầm lúc này còn nặng nề hơn cả áp suất giông tố ngoài khơi.
- Có chuyện gì mà ồn ào ở khu vực bảo quản khẩn cấp thế này? - Giáo sư Toàn thở dốc, hai tay run rẩy vịn vào thành lan can sắt. Cơn hen suyễn do thời tiết biển ẩm ướt khiến gương mặt ông trắng bệch.
- Thưa Giáo sư, thưa Hội đồng - Lâm Tuấn không vòng vo, anh chỉ thẳng ngón tay vào chiếc hòm gỗ vừa bị cạy then - Toàn bộ lô hiện vật quý nhất vừa được trục vớt từ khoang số ba của xác tàu cổ đã bị tráo đổi. Sáu chiếc bình tỳ bà hoa lam ngự dụng biến mất, thay vào đó là đồ phế phẩm nhẹ bẫng. Và đây, kẻ trực tiếp nhận lệnh đánh tráo vừa mang hòm chuyên dụng xuống để hoàn tất nốt việc vận chuyển chiếc bình hoa lam phượng hoàng độc bản ra khỏi trạm.
Lời cáo buộc đanh thép của Lâm Tuấn rơi xuống sàn bê tông như một tảng đá tảng ném vào mặt hồ phẳng lặng.
Ba vị chuyên gia lão thành trong đoàn giám định lập tức bước vội tới bên hòm gỗ. Một người đeo kính lão, rút chiếc đèn pin soi ngọc chuyên dụng có ánh sáng vàng bốn nghìn Kelvin rọi thẳng vào lòng hòm. Khi nhìn thấy bốn khoảng trống bị khoét nham nhở trên lớp đệm xốp cùng hai chiếc bình tỳ bà có cốt đất xốp ráp nằm chỏng chơ, vị chuyên gia run rẩy thốt lên:
- Trời đất ơi... Bảng kê bàn giao lúc năm giờ chiều ghi rõ có tám chiếc bình tỳ bà còn nguyên vẹn lớp men lam rỉ sắt cơ mà! Tại sao bây giờ bên trong chỉ có hai món thế này?
- Cậu Lâm Tuấn, cậu ăn nói cho cẩn thận - Mã Viễn bước lên phía trước, vẻ mặt điềm nhiên đến mức lạnh lùng - Hai kỹ thuật viên của tôi xuống đây theo đúng biên bản điều động số bốn mươi hai do chính tôi ký, nhằm chuyển chiếc bình hoa lam phượng hoàng vào hòm bảo ôn chân không trước khi bão giật đổ trần hầm. Còn về số hiện vật trong hòm số ba, cậu lấy tư cách gì để khẳng định chúng là đồ giả hoặc đã bị đánh tráo?
Lâm Tuấn nhếch mép, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo nhìn thẳng vào gọng kính vàng của đối phương:
- Tôi dùng chính mắt nhìn, tay chạm và những kiến thức cơ bản nhất của một người làm nghề đồ cổ để khẳng định. Mã Viễn, anh diễn kịch đến đây là đủ rồi. Anh muốn hội đồng tin vào mắt mình hay tin vào những bản báo cáo khống do anh ngụy tạo?
Giáo sư Toàn run rẩy bước lại gần chiếc bàn thép đặt hòm bảo quản chiếc bình hoa lam phượng hoàng - tâm điểm của toàn bộ cuộc khai quật biển lần này. Chiếc bình gốm cao gần bốn mươi lăm centimet tỏa ra ánh sáng bóng bẩy dưới ánh đèn huỳnh quang vừa được bật sáng khắp căn phòng.
Mã Viễn mỉm cười nhạt nhòa, không hề lộ ra một chút bối rối. Hắn mở chiếc cặp da chống nước mang theo bên người, rút ra một tập hồ sơ dày cộp có đóng dấu giáp lai đỏ chót của Viện Nghiên cứu Phân tích Hạt nhân Quốc tế đặt tại Zurich và Viện Khảo cổ học Oxford.
Hắn đập mạnh tập hồ sơ lên mặt bàn kim loại, tạo nên một âm thanh khô khốc chói tai:
- Thưa toàn thể các bác trong Hội đồng. Khoa học hiện đại không làm việc bằng cảm tính hay cái gọi là "trực giác" mơ hồ của những kẻ buôn đồ cổ ngoài chợ trời. Đây là toàn bộ kết quả kiểm định nhiệt huỳnh quang, viết tắt là TL, cùng kết quả đo phổ đồng vị phóng xạ Carbon-14 của chiếc bình hoa lam phượng hoàng này. Mẫu vi khoan đáy bình đã được gửi đi bằng đường hàng không đặc biệt từ ba ngày trước khi chiến dịch khai quật chính thức bắt đầu.
Mã Viễn lật từng trang tài liệu, giơ cao trước mặt các chuyên gia:
- Niên đại tích tụ điện tử tự do trong mạng tinh thể thạch anh của xương gốm cho ra kết quả chính xác: năm trăm ba mươi năm, độ lệch chuẩn cộng trừ hai mươi lăm năm. Nghĩa là chiếc bình này hoàn toàn thuộc về giai đoạn hoàng kim của gốm Chu Đậu thời Lê sơ, khoảng nửa cuối thế kỷ mười lăm. Kết quả Carbon-14 của lớp bồ hóng đáy lò nung cũng trùng khớp tuyệt đối. Giấy trắng mực đen, chữ ký của giáo sư hàng đầu thế giới về giám định đồng vị phóng xạ. Cậu Lâm đây lấy căn cứ khoa học nào để bảo món đồ có chứng thư quốc tế này là đồ giả?
Tiếng xì xào bắt đầu lan ra giữa các thành viên hội đồng. Một chuyên gia tóc bạc cầm lấy tập tài liệu của Mã Viễn, lật xem đồ thị nhiệt huỳnh quang rồi gật đầu tán đồng:
- Đồ thị phóng thích photon nhiệt huỳnh quang chuẩn xác lắm. Mức năng lượng bẫy điện tử rất sâu, hoàn toàn phù hợp với đất sét nung ở nhiệt độ trên một ngàn hai trăm độ C từ thế kỷ mười lăm. Nếu cốt gốm mới nung vài năm trở lại đây thì đỉnh bức xạ không thể cao như thế này được. Về mặt vật lý hạt nhân, xương đất của chiếc bình này đích thực là đồ cổ năm trăm năm trước.
Ánh mắt Mã Viễn lóe lên vẻ đắc thắng. Hắn chỉnh lại cổ áo, nhìn Lâm Tuấn bằng nửa con mắt:
- Cậu Lâm, cậu còn muốn bôi nhọ uy tín của Quỹ Viễn Đông nữa không? Giám định khoa học bằng máy gia tốc hạt không biết nói dối. Đừng đem cái mớ kinh nghiệm sờ nắn chắp vá của mấy sạp hàng đồ cũ ở phố Lê Công Kiều ra để làm trò cười trước mặt các nhà khoa học!
Diệp Nhi đứng bên cạnh siết chặt hai nắm tay, định bước lên tranh cãi thì Lâm Tuấn khẽ đưa tay cản cô lại.
Gương mặt Lâm Tuấn tĩnh lặng đến đáng sợ. Anh không hề nhìn vào xấp tài liệu kiểm định bóng bẩy kia, mà từng bước tiến lại gần chiếc bình hoa lam phượng hoàng đang nằm trên giá đỡ.
Lâm Tuấn đưa bàn tay trần chạm vào bề mặt thân bình.
Không có luồng từ trường trầm tích biển sâu quen thuộc. Không có độ ấm áp lan tỏa từ lớp men tro trấu tự nhiên đã hấp thụ linh khí đất trời qua năm thế kỷ. Lòng bàn tay anh chạm vào một bề mặt trơn nhẵn một cách nhân tạo, phẳng lặng đến mức vô hồn, như chạm vào lớp vỏ nhựa của một chiếc điện thoại đời mới vừa xuất xưởng.
Lâm Tuấn rút từ túi áo ra một chiếc đèn pin cực tím bước sóng ba trăm sáu mươi lăm nanomet cùng một lọ dung dịch nhỏ chứa hỗn hợp cồn nguyên chất và axit axetic loãng.
- Mã Viễn, anh nói đúng một nửa - Lâm Tuấn cất giọng, âm vực bình thản nhưng nội lực sắc bén khiến cả căn phòng lập tức im phăng phắc - Giám định nhiệt huỳnh quang không biết nói dối. Máy đo phổ Carbon-14 cũng không biết nói dối. Xương gốm của vật thể này đúng là đất sét nung của thời Lê sơ, thế kỷ mười lăm.
Giáo sư Toàn ngẩn người:
- Cậu Tuấn... vậy nghĩa là sao? Nếu xương gốm là thật, thì chiếc bình này...
- Nhưng chiếc bình này vốn dĩ không phải là một chiếc bình phượng hoàng nguyên vẹn - Lâm Tuấn ngắt lời, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào Mã Viễn - Đây là kỹ thuật mượn xác hoàn hồn. Một phiên bản công nghệ cao được nâng cấp từ trò bóc tranh hai da và hàn ghép thạp đồng Đông Sơn mà các đường dây lừa đảo cổ vật từng áp dụng!
Mã Viễn biến sắc, cơ mặt hơi giật nhẹ nhưng hắn vẫn cố giữ giọng điệu đanh thép:
- Cậu ăn nói hàm hồ! Chiếc bình liền khối từ miệng tới đáy, soi đèn huỳnh quang xuyên thấu không hề có một vết nứt hay vết hàn gắn composite nào! Các chuyên gia ở đây đều đã dùng kính hiển vi soi bề mặt trước khi niêm phong!
- Muốn qua mặt kính hiển vi thông thường, các người đương nhiên không dùng keo dán rẻ tiền - Lâm Tuấn bật chiếc đèn cực tím lên, chiếu thẳng góc bốn mươi lăm độ vào phần cổ và thân bình - Quy trình của các người cực kỳ tinh vi. Đầu tiên, các người thu gom hàng chục mảnh vỡ gốm phế phẩm, hoặc những chiếc âu, chiếc đĩa gốm Chu Đậu thời Lê sơ bị biến dạng, méo mó, không có giá trị thương mại lớn từ các hố rác lò nung cổ ở Nam Sách. Sau đó, các người nghiền xương gốm cổ đó ra thành bột mịn, hoặc dùng chính những thân bình gốm cổ bị vỡ nát, ghép nối lại bằng bột gốm nguyên bản rồi nén ép bằng máy thủy lực áp suất cực cao.
Lâm Tuấn chỉ vào một vệt mờ màu tím sẫm hiện lên dưới ánh đèn cực tím:
- Bước thứ hai mới là đỉnh cao của sự xảo trá. Để xóa sạch toàn bộ hoa văn thô kệch hoặc vết rạn men ban đầu, các người đã dùng dung dịch axit flohydric nồng độ cao để tẩy trắng toàn bộ lớp men cổ bên ngoài, trơ trụi lại phần xương đất nguyên thủy. Chính vì xương đất vẫn giữ nguyên cấu trúc tinh thể thạch anh cổ xưa, nên khi máy khoan mẫu gửi đi Zurich đo nhiệt huỳnh quang, máy móc hạt nhân chỉ nhận diện được niên đại của phần xương gốm năm trăm năm tuổi!
Hội đồng chuyên gia nín thở. Vị giáo sư tóc bạc há hốc miệng, vội vã đeo kính lúp chuyên dụng vào sát thân bình để quan sát theo góc chiếu của Lâm Tuấn.
- Vậy còn lớp men lam tuyệt đẹp này? - Giáo sư Toàn run giọng hỏi - Làm sao có thể tạo ra men lam Chu Đậu cổ nếu đã tẩy sạch men gốc?
- Bằng công nghệ in phun ba chiều sử dụng men nano polymer, sau đó đưa vào lò nung vi sóng nhiệt độ cao để nung lại - Lâm Tuấn nhấn mạnh từng chữ - Thuật ngữ giám bảo quốc tế gọi đây là kỹ thuật nung lại men. Nhiệt độ lò vi sóng được kiểm soát bằng máy tính có thể làm chảy lớp men thủy tinh mới trong thời gian cực ngắn mà không làm tổn hại đến cấu trúc nhiệt huỳnh quang sâu bên trong lõi xương đất. Đó là lý do vì sao nó vượt qua được toàn bộ các bài kiểm tra phóng xạ thông thường!
Lâm Tuấn nhỏ một giọt dung dịch từ chiếc lọ trên tay xuống phần chân đế bình, nơi lớp men giáp ranh với phần cốt đất mộc.
Dưới tác động của hóa chất và ánh sáng cực tím, một lớp màng mỏng trong suốt bắt đầu có hiện tượng sủi bọt vi mô cực nhỏ, tỏa ra mùi este nhẹ thoang thoảng trong không khí.
- Nhưng công nghệ in phun hiện đại có một tử huyệt không bao giờ che giấu nổi trước khoa học vật liệu tự nhiên - Lâm Tuấn cất cao giọng, từng lời nói đanh thép vang vọng khắp tầng hầm - Thợ gốm Chu Đậu thế kỷ mười lăm sử dụng quặng lam hồi tự nhiên nhập khẩu từ vùng Tây Á hoặc khai thác từ các mỏ khoáng sản tự nhiên. Trong quặng cobalt cổ luôn lẫn tạp chất vi lượng của sắt và mangan. Khi nung bằng lò củi truyền thống, sự cháy không đồng đều của ngọn lửa tạo ra phản ứng khử, khiến các hạt oxit sắt kết tụ lại thành những chấm đen li ti đọng sâu dưới lớp men, tạo nên hiệu ứng rỉ sắt đặc trưng không bao giờ lặp lại!
Lâm Tuấn đưa chiếc kính lúp phóng đại một trăm lần lại gần hoa văn chim phượng trên thân bình, rồi ra hiệu cho Giáo sư Toàn nhìn vào:
- Giáo sư hãy nhìn kỹ màu lam của con phượng hoàng này. Nó được vẽ bằng cobalt oxide công nghiệp có độ tinh khiết chín mươi chín phẩy chín phần trăm! Màu xanh của nó quá rực rỡ, quá đồng nhất, không hề có bất kỳ một chấm lắng oxit sắt hay mangan tự nhiên nào! Các điểm rỉ sắt màu đen trên thân bình này thực chất chỉ là những hạt mực carbon nhân tạo được đầu phun máy in ba chiều bắn lên bề mặt trước khi tráng men bóng!
Giáo sư Toàn áp mắt vào kính lúp. Toàn thân vị giáo sư già run rẩy bần bật. Qua thấu kính phóng đại cực lớn, từng đường nét của vệt men xanh hiện ra phẳng lì một cách cơ học, các chấm đen giả mạo rỉ sắt phân bố theo một ma trận điểm ảnh hình tổ ong hoàn hảo - dấu vết không thể chối cãi của công nghệ in phun kỹ thuật số.
- Đúng... đúng là in phun kỹ thuật số - Giáo sư Toàn bàng hoàng thốt lên, ngẩng đầu nhìn Mã Viễn với ánh mắt giận dữ tột cùng - Anh Mã Viễn! Anh dám mang một món phế phẩm công nghệ cao mượn xác hoàn hồn này vào đây để tráo đổi bảo vật quốc gia của chúng tôi sao?
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc.
Hai gã kỹ thuật viên của Quỹ Viễn Đông sợ hãi lùi lại phía sau, tay cầm kìm cắt buông thõng xuống.
Nụ cười trên gương mặt Mã Viễn hoàn toàn biến mất. Đôi mắt sau gọng kính vàng nheo lại, hằn lên những tia đỏ vằn vện hung hãn. Hắn không còn vẻ điềm tĩnh của một đại diện quỹ đầu tư quốc tế lịch lãm thường ngày, mà để lộ nguyên hình một kẻ buôn lậu đồ cổ lọc lõi, tàn nhẫn.
Mã Viễn hít một hơi sâu, lạnh lùng nói:
- Cậu Lâm Tuấn quả thực có con mắt giám bảo phi thường. Nhận diện được kỹ thuật in phun nano trên cốt gốm nung lại giữa đêm bão thế này, ở cả vùng Đông Nam Á này chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nhưng cậu nghĩ vạch trần được một chiếc bình này là cậu đã thắng sao?
Hắn giơ cổ tay nhìn đồng hồ, khóe miệng nhếch lên một nụ cười quỷ quyệt:
- Cậu thông minh đấy, nhưng lại quá chậm chân. Chiếc bình phượng hoàng này chỉ là mồi nhử để giữ chân toàn bộ các người dưới căn hầm này mà thôi. Trong lúc các người mải mê tranh cãi về men nano với nhiệt huỳnh quang, món bảo vật thực sự có giá trị nhất trong khoang ngự dụng - chiếc đĩa Chu Đậu men lam vẽ chim thiên nga độc bản - đã rời khỏi căn phòng lưu trữ an toàn từ nửa tiếng trước rồi.
Lời nói của Mã Viễn như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt mọi người.
Giáo sư Toàn ôm lấy ngực, lảo đảo ngã quỵ xuống chiếc ghế gỗ bên cạnh:
- Chiếc đĩa thiên nga... chiếc đĩa vẽ chim thiên nga thời Lê sơ... bảo vật độc nhất vô nhị của bảo tàng...
Lâm Tuấn không hề hoảng loạn. Ánh mắt anh lia nhanh qua khe cửa thông gió hướng về phía trạm bơm tăng áp của hệ thống cứu hỏa nằm ở góc ngoài sân trạm.
Mùi mặn của gió biển thốc vào nồng nặc hơn, mang theo một xung động trường khí sắc nhọn, đau đớn vừa truyền qua tri giác của anh từ phía bóng tối bên ngoài hành lang đón gió.
Một vụ tráo đổi kép. Bọn chúng dùng chiếc bình phượng hoàng giả công nghệ cao để thu hút toàn bộ sự chú ý của đoàn giám định, trong khi chân tướng thực sự của vụ cướp đoạt lại nhắm vào một hiện vật khác còn quý giá hơn gấp bội.
Lâm Tuấn quay phắt người, lao thẳng ra phía cửa hầm trong tiếng gió bão gầm thét dữ dội.