Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 2: Dấu Ấn Thuộc Địa Năm 1902
Máu của con quạ đen vẫn rỉ ra trên mặt đá ong, đọng lại thành một vũng sền sệt, bốc mùi tanh lợm giọng. Tôi rút chiếc khăn tay trong túi áo vest, điềm…
Nội dung chương
Máu của con quạ đen vẫn rỉ ra trên mặt đá ong, đọng lại thành một vũng sền sệt, bốc mùi tanh lợm giọng.
Tôi rút chiếc khăn tay trong túi áo vest, điềm nhiên bước xuống bậc tam cấp, nhặt một cành ổi khô rơi gần đó rồi gạt mạnh cái xác chim dập cổ xuống rãnh thoát nước ven sân gạch tàu. Cú va chạm vừa rồi làm chiếc mỏ quạ gãy gập, cắm ngập vào bùn non. Tôi vặn nắp chai nước khoáng mang theo, dội thẳng lên ngạch cửa đá ong để gột sạch vệt máu đỏ thẫm. Dòng nước pha máu loãng chảy len qua những lỗ rỗ tự nhiên của đá ong, từ từ biến mất dưới kẽ gạch.
"Cậu Minh, đừng đụng vào nó!" Tiếng ông Bảy Nghĩa run lẩy bẩy phía sau lưng. Lão quản gia già vẫn đứng nép sát cánh cổng gỗ lim chạm rồng phượng, hai tay bấu chặt vạt áo bà ba sờn mép. "Máu quạ đổ xuống ngạch cửa ngày đầu nhận nhà là điềm đại hung. Trùng tang, huyết sát... Đất này cụ Thừa để lại, người ngoài không ở nổi mà người nhà cũng khó giữ mạng. Cậu nghe tôi, tối nay quay ra chợ nổi ngủ đỡ một đêm đi."
Tôi quay người lại, nhìn thẳng vào gương mặt tái mét cắt không còn hột máu của người già trước mắt. Là một người tốt nghiệp Stanford chuyên ngành quản trị kinh doanh, tôi quen làm việc với những con số tài chính, biểu đồ tăng trưởng và báo cáo thẩm định rủi ro. Tôi không có thói quen để nỗi sợ hãi mơ hồ của người khác điều khiển quyết định đầu tư trị giá hàng triệu đô la của mình.
"Một con chim bay lạc bị gãy cánh đâm đầu xuống mái ngói rồi rơi trúng thềm nhà, đó là xác suất vật lý ngẫu nhiên," tôi vừa nói vừa gấp chiếc khăn tay lại, cất vào túi quần. "Nếu mỗi lần có con vật chết trong khuôn viên mà tôi phải bỏ chạy, thì cái dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái này nên dẹp bỏ ngay từ trong trứng nước. Chú Bảy đưa chùm chìa khóa các gian phụ đây cho tôi."
Ông Bảy Nghĩa nhìn tôi bằng ánh mắt vừa ái ngại vừa hoảng sợ. Bàn tay khẳng khiu như nhánh củi khô của ông run rẩy lần trong túi vải, lôi ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trịch, rỉ sét xanh lè bám đầy các rãnh khía. Khi đầu ngón tay ông chạm vào tay tôi lúc trao chùm chìa khóa, tôi nhận thấy da thịt ông lạnh ngắt, mạch đập nơi cổ tay giật thình thịch từng cơn thất thường.
"Chìa này mở cửa hậu, chìa cán dài mở kho thóc cũ phía sau," giọng ông Bảy nghẹn lại trong cổ họng. "Nhà trăm cột này khép kín từ năm cụ Thừa mất tích ngoài sông Tiền. Đêm xuống, rạch nước bốc hơi lạnh lắm, gió lùa qua các khe mộng gỗ nghe như tiếng người rên. Cậu... cậu nhất quyết ngủ lại thật sao?"
"Tôi ngủ ở đây đêm nay," tôi đáp gọn lọn, nắm chặt chùm chìa khóa đồng lạnh buốt trong lòng bàn tay. "Tôi cần tự mình kiểm tra độ ẩm, hướng gió và độ lún thực tế của nền nhà trước khi đội ngũ kiến trúc sư từ Sài Gòn xuống thẩm định vào tuần tới. Chú cứ về nhà chú nghỉ ngơi đi."
Ông Bảy Nghĩa thở dài một tiếng sườn sượt. Ông nhìn trân trối lên tán cây đa cổ thụ hai trăm năm sừng sững trước sân, nơi những cành nhánh to bằng thân người lớn đang vươn dài che rợp một góc trời, rủ xuống những chùm rễ phụ ngoằn ngoèo tựa như đàn trăn khổng lồ đang treo ngược. Không dám nói thêm lời nào, người đàn ông già lùi dần từng bước ra khỏi cổng lớn, quay lưng cắm đầu đi thẳng về hướng con đường đất chạy dọc bờ kênh, bước chân vội vã như thể đang trốn chạy một bàn tay vô hình đang chực chờ túm lấy gáy ông từ phía sau.
Tôi đứng một mình giữa sân gạch tàu rộng thênh thang.
Mảnh đất này rộng hai nghìn năm trăm mét vuông, nằm ở vị trí đắc địa ngay ngã ba sông Tiền, nơi thuyền bè qua lại tấp nập ngày đêm. Dưới ánh nắng gay gắt của miền Tây, ngôi nhà cổ trăm cột hiện lên sừng sững với vẻ uy nghiêm trầm mặc của một dinh thự bề thế đầu thế kỷ hai mươi. Cụ tổ Lê Văn Thừa từng là một điền chủ giàu có nức tiếng thời thuộc địa, thâu tóm hàng ngàn mẫu ruộng màu mỡ khắp vùng cù lao. Năm 1902, cụ cho xây dựng công trình này, huy động những tay thợ mộc khéo léo nhất từ miền Trung vào kết hợp với thợ tài hoa bản địa.
Tôi mở chiếc ba lô du lịch chuyên dụng, lấy ra máy đo khoảng cách laser hiệu Bosch, thước dây kim loại và một cuốn sổ tay bìa da màu đen. Mục tiêu làm việc của buổi chiều nay rất rõ ràng: tôi phải hoàn thành việc đo đạc toàn bộ hệ thống móng đá ong, giếng nước cổ và kiểm tra tình trạng rễ cây đa để đánh giá tác động kết cấu lên gian nhà chính.
Tôi bắt đầu từ giếng nước cổ nằm ở góc sân phía Tây.
Thành giếng được ghép bằng những tảng đá ong nâu sẫm hình vòng cung, rêu xanh phủ kín mặt ngoài thành một lớp trơn trượt. Tôi nghiêng người nhìn xuống. Lòng giếng sâu hun hút, đường kính rộng chừng một mét hai, mặt nước bên dưới đen ngòm, phẳng lặng tuyệt đối. Khi tôi đưa máy quét laser xuống rà khoảng cách, chấm đỏ phản xạ trên mặt nước báo độ sâu sáu mét bảy. Mùi nước tù đọng xông lên mũi tôi, mang theo hương đất ẩm nồng nặc và một mùi ngai ngái khó tả, ngai ngái như mùi thịt sống để lâu ngày trong chum kín. Tôi dùng tay thử lay một tảng đá trên miệng giếng; khối đá ong nặng trịch vẫn bám chặt vào lớp vữa vôi mật mía cổ xưa, kiên cố đến mức không hề suy suyển dù đã trải qua hơn một thế kỷ dầm mưa dãi nắng.
Rời giếng nước, tôi tiến về phía gốc cây đa hai trăm năm tuổi.
Gốc đa này to đến mức phải sáu người ôm mới xuể, vỏ cây xù xì từng mảng lớn màu nâu xám, mọc đầy những u bướu dị dạng. Bộ rễ khổng lồ của nó không chỉ cắm sâu xuống đất mà còn trồi lên mặt sân, bò lan chằng chịt, xé toạc từng mảng gạch tàu đỏ thẫm. Có những nhánh rễ to bằng bắp đùi người lớn bò thẳng về phía móng hiên nhà chính, chui tọt vào dưới lớp đá ong nền móng.
Tôi quỳ một gối xuống sân, dùng thước dây kim loại đo độ dày của khối móng lộ thiên. Nền móng của ngôi nhà là một kỳ công kiến trúc thời thuộc địa: cụ tổ Lê Văn Thừa đã cho lát những tảng đá ong dày đến bốn mươi phân, xếp lớp so le tạo thành một bệ đỡ chịu lực khổng lồ chống lại sự xói mòn của dòng nước lũ sông Tiền. Tuy nhiên, khi tôi áp sát mắt vào chân tường đá ong nơi rễ đa chui vào, tôi phát hiện ra những vết nứt hình chân chim chạy dọc theo phương thẳng đứng. Đất dưới móng có dấu hiệu sụt lún cục bộ, nhưng các cột lim bên trên dường như vẫn giữ được phương thẳng đứng hoàn hảo.
"Khớp mộng chịu lực quá tốt," tôi lẩm bẩm trong miệng, tay miết lên bề mặt thô ráp của khối đá ong.
Tôi đứng dậy, phủi sạch bụi đất bám trên đầu gối quần tây, rồi bước thẳng vào gian nhà chính qua cánh cửa bức bàn vẫn mở hé từ ban trưa.
Bên trong nhà, bóng tối bao trùm gần như toàn bộ không gian. Ánh sáng ban ngày chỉ rọi qua được vài ô thông gió nhỏ trên cao và khe hở của các cánh cửa gỗ, tạo thành những dải bụi lơ lửng nhảy múa trong không khí. Tôi bật chiếc đèn pin LED công suất cao gắn trên trán, luồng ánh sáng trắng lập tức xé toạc màn đêm đặc quánh.
Một trăm cột gỗ lim đen bóng sừng sững hiện ra trước mắt tôi. Chúng được xếp thành sáu hàng dọc song song, mỗi cột có đường kính gần nửa mét, thẳng tắp như những thân cây cổ thụ mọc ngược từ nền đá ong chống đỡ lấy toàn bộ mái ngói âm dương đồ sộ. Tôi cầm máy đo laser, bước chậm rãi từ hàng cột thứ nhất ở gian tiền tế sang hàng cột thứ hai.
Chiếc máy phát ra tiếng "bíp" sắc gọn sau mỗi lần tôi bấm nút đo. Cột cái gian giữa: đường kính bốn mươi tám centimet, chiều cao từ chân tảng đá xanh lên đến đầu quân là bốn mét mười lăm. Tất cả các số liệu đều khớp một cách kỳ lạ với bản vẽ sơ lược mà tôi tìm thấy trong tập hồ sơ địa bạ gia tộc lưu trữ tại ủy ban huyện. Thớ gỗ lim qua trăm năm đã hóa sừng, rắn đanh như thép, không hề có một vết mọt hay dấu hiệu mục ruỗng do thời gian.
Tôi đưa máy quét rà lên xà ngang và các vì kèo. Từng chi tiết chạm trổ tinh xảo hiện rõ dưới ánh đèn pin: hoa sen cách điệu, rồng mây, phượng ngậm hoa mẫu đơn. Kỹ thuật đục đẽo của những người thợ xưa đạt đến độ hoàn mỹ, các mối nối dùng mộng thắt chặt đến mức không thể nhét lọt một mũi kim. Nhưng càng đi sâu vào gian giữa - nơi đặt bàn thờ cụ tổ Lê Văn Thừa - nhiệt độ xung quanh càng hạ thấp một cách rõ rệt.
Lớp không khí lạnh này không mang lại cảm giác dễ chịu của một chiếc máy điều hòa nhiệt độ, mà nó bám chặt vào da thịt, buốt nhức từng khớp ngón tay.
Tôi dừng chân trước bàn thờ tổ. Chiếc hương án bằng gỗ mun đen nhánh, phủ một lớp bụi dày xám xịt. Phía trên hương án đặt bài vị của cụ tổ Lê Văn Thừa chạm chữ Hán thếp vàng đã phai màu, bên cạnh là một bức ảnh chân dung khổ nhỏ chụp từ thời Pháp thuộc. Bức ảnh trắng đen ố vàng ghi lại gương mặt một người đàn ông trung niên quai hàm bạnh, ánh mắt sắc lẹm và đôi môi mỏng dính toát lên vẻ tàn nhẫn, lạnh lùng của một kẻ quen quyền uy thống trị.
Tôi thắp một nén nhang trên bàn thờ theo đúng phép tắc xã giao truyền thống, cắm vào bát hương bằng đồng gỉ sét. Khói nhang màu xám đục cuộn tròn rồi bốc thẳng đứng lên trần nhà, không hề bị tản ra dù ngoài cửa có gió sông thổi vào.
Trời sập tối rất nhanh ở vùng sông nước miền Tây. Mới hơn sáu giờ chiều, mặt trời đã lặn hẳn sau những rặng dừa nước bên kia bờ sông Tiền, nhường chỗ cho màn đêm đen kịt. Tiếng nước vỗ bì bõm vào chân bờ kè đá ong vang vọng đều đặn, hòa lẫn với tiếng ếch nhái uể oải kêu dưới các rãnh mương.
Tôi không thèm mở thêm phòng ngủ phụ, quyết định kê một chiếc giường gấp dã ngoại ngay tại gian giữa, cách bàn thờ tổ chừng ba mét. Chiếc bàn làm việc di động bằng hợp kim nhôm được dựng lên gọn gàng, bên trên đặt máy tính xách tay, đèn bàn sạc tích điện và tập hồ sơ quy hoạch dự án.
Tôi mở nắp hộp thịt nguội, ăn vội bữa tối đạm bạc cùng hai lát bánh mì sandwich và một tách cà phê đen nóng rót từ bình giữ nhiệt. Sau bữa ăn, tôi mở máy tính, bắt đầu nhập toàn bộ số liệu đo đạc buổi chiều vào phần mềm dựng mô hình 3D.
Những ngón tay tôi gõ lách cách trên bàn phím cơ, âm thanh giòn giã vang vọng khắp gian nhà rộng lớn, đập vào những cây cột gỗ lim rồi dội lại thành những tiếng vọng trầm đục. Trong ánh sáng vàng nhạt của chiếc đèn bàn, tôi thấy mình hoàn toàn kiểm soát được tình hình. Ngôi nhà này có kết cấu móng đá ong cực kỳ vững chắc, hệ thống khung gỗ chịu lực thuộc hàng thượng phẩm. Chỉ cần cải tạo lại hệ thống thoát nước, xử lý phần rễ cây đa xâm lấn và lợp lại một phần ngói âm dương bị xô lệch, nơi này sẽ trở thành khu nghỉ dưỡng sinh thái độc nhất vô nhị trên dòng sông Tiền. Con số lợi nhuận dự tính chạy trên màn hình máy tính khiến lồng ngực tôi đập rộn ràng.
Đến khoảng mười một giờ đêm, pin máy tính báo còn hai mươi phần trăm. Tôi lưu lại toàn bộ tệp dữ liệu rồi gập máy lại.
Không gian lập tức chìm vào sự tĩnh mịch tuyệt đối. Tiếng gõ bàn phím vừa dứt, tôi mới nhận ra không gian xung quanh im ắng đến mức bất thường. Tiếng sóng vỗ ngoài mé sông, tiếng gió luồn qua rặng bần và cả tiếng côn trùng rả rích thường thấy ở vùng quê dường như đã biến mất hoàn toàn. Một bầu không khí đặc quánh, nặng trĩu bao trùm lấy bốn bức tường gạch cổ kính.
Tôi khẽ rùng mình. Một luồng khí lạnh buốt xương đột ngột từ đâu phả thẳng xuống đỉnh đầu tôi, len qua lớp tóc, chạy dọc xuống sống lưng khiến toàn thân tôi nổi da gà. Tôi ngẩng đầu lên nhìn. Trên đỉnh mái, bóng tối mịt mùng nuốt chửng mọi chi tiết kiến trúc.
Nhiệt kế điện tử đặt trên bàn làm việc hiển thị con số mười sáu độ C. Giữa mùa hè Nam Bộ, nhiệt độ trong phòng kín không thể nào hạ thấp đến mức này.
Nghi ngờ có khe hở trên mái ngói làm rò rỉ khí lạnh từ sông vào, tôi cầm chiếc máy đo khoảng cách laser lên, bật nút nguồn. Tia sáng màu đỏ rực lóe lên, chiếu thẳng một vệt dài tít tắp lên xà nóc gian giữa - nơi cây đòn dông bằng gỗ lim to bản nằm ngang.
Chấm đỏ laser định vị chính xác vào mặt dưới của cây đòn dông, ở vị trí khớp mộng nối với cột cái. Màn hình tinh thể lỏng của máy hiển thị cự ly: 4.15m.
Tôi giữ nguyên tay bấm nút đo liên tục để kiểm tra độ nghiêng của xà.
"Bíp."
Màn hình nhảy số: 4.15m.
Tôi lia nhẹ đầu máy đo sang bên phải chừng mười centimet.
"Bíp."
Màn hình đột ngột thay đổi con số: 3.40m.
Tôi nhíu mày, chớp mắt nhìn kỹ lại màn hình. Khoảng cách đo được bị rút ngắn lại bảy mươi lăm centimet. Chuyện này hoàn toàn vô lý về mặt hình học; mặt phẳng đáy của cây đòn dông chạy ngang song song với mặt sàn, không thể có sự chênh lệch cao độ lớn đến mức đó trong một khoảng cách ngắn như vậy.
"Chắc có tổ dơi hoặc một búi mạng nhện lớn bám trên xà," tôi thầm nghĩ, ngón tay tiếp tục bấm nút quét liên tục.
Tia laser đỏ quét chầm chậm qua lại trên thân gỗ lim đen kịt. Con số trên màn hình bắt đầu nhảy loạn xạ một cách quái đản:
3.40m...
2.85m...
2.10m...
Khoảng cách phản hồi từ chùm tia laser đang liên tục co rút lại về phía mặt tôi, giống như có một vật thể đặc rắn nào đó đang từ từ hạ thấp xuống từ trên đỉnh mái, tiến thẳng về phía vị trí tôi đang đứng.
Tôi đứng bật dậy, chiếc ghế gấp kim loại va mạnh vào chân bàn phát ra tiếng "leng keng" chói tai. Tôi hướng chiếc đèn pin LED công suất cao thẳng lên trần nhà, luồng sáng trắng quét mạnh qua từng thanh rui, mè và lớp ngói âm dương bám đầy bụi đen.
Trên cây đòn dông gỗ lim dài hơn chục mét, hoàn toàn không có tổ dơi, cũng không có mạng nhện dày. Thân xà nhẵn bóng, trơ trọi những đường vân gỗ sẫm màu.
Nhưng chấm đỏ laser vẫn đang nằm yên ở tầm cao hai mét mốt, lơ lửng ngay giữa khoảng không gian trống rỗng bên trên đầu tôi chừng một sải tay.
Tia laser đang phản xạ lại từ một bề mặt vô hình.
Tôi nín thở, hạ tay cầm máy đo xuống. Ngay khoảnh khắc chấm đỏ biến mất, từ khoảng tối sâu thẳm ngay trên cây đòn dông xà nóc, một âm thanh lạ lùng bắt đầu vang lên.
"Khò... phì..."
Đó là tiếng thở.
Một âm thanh thở dốc, phì phò, nặng nhọc và ứ nghẹn đờm dãi, giống hệt tiếng hô hấp khó nhọc của một người sống bằng xương bằng thịt đang ngồi thu lu trên xà nhà, cúi gập người nhìn trừng trừng xuống chỗ tôi. Tiếng thở mỗi lúc một rõ hơn, kèm theo một mùi thối rữa nồng nặc của thịt cá ươn thốc thẳng vào cánh mũi tôi.
Từng sợi lông tơ trên cánh tay tôi dựng đứng lên. Tôi giơ cao đèn pin, quét qua quét lại trên từng mét gỗ của cây đòn dông, nhưng luồng ánh sáng cực mạnh chỉ rọi vào khoảng không trống rỗng.
Tiếng thở phì phò nặng nề đó vẫn tiếp tục vang lên đều đặn ngay trên đỉnh đầu tôi, ngày càng dồn dập, kéo dài từng cơn lạnh toát giữa gian nhà cổ trăm cột tối tăm.