Song Đồng Oán - Chương 2: Rảnh rỗi ở chùa

Tiếng gió rít từng hồi qua khe cửa gỗ của gian điện chính đánh thức tôi dậy. Gió núi mang theo hơi ẩm luồn qua những chấn song con tiện, phả vào căn…

Nội dung chương

Tiếng gió rít từng hồi qua khe cửa gỗ của gian điện chính đánh thức tôi dậy.

Gió núi mang theo hơi ẩm luồn qua những chấn song con tiện, phả vào căn phòng chái một luồng khí lạnh buốt. Tôi kéo chiếc chăn chiên mỏng trùm kín tai, nhưng tiếng lách cách của then cài và tiếng lá khô xào xạc ngoài sân gạch vẫn đập rộn ràng vào màng nhĩ. Trên trần nhà, ánh nắng sớm xuyên qua khe hở của ngói âm dương, rọi xuống nền đất những vệt sáng lốm đốm màu vàng đục.

Tôi lật đật ngồi dậy, xỏ chân vào đôi dép nhựa Tiền Phong. Khắp người tôi ê ẩm sau một chuyến đi dài ngồi sau xe đạp của ba ngày hôm qua. Không gian xung quanh im lìm đến lạ lùng. Khóa lễ tụng kinh buổi sớm của các thầy đã kết thúc tự bao giờ, chỉ còn sót lại tiếng mõ điểm thưa thớt từ tít sâu trong nội điện vọng ra, rồi tắt hẳn.

Tôi đẩy cánh cửa liếp bước ra ngoài hiên.

Sương mù buổi sáng ở vùng núi cao vẫn chưa tan hết, đọng thành từng hạt nước li ti trên những cành ngọc lan già trước sân. Không khí thoang thoảng mùi hương trầm quyện với mùi ẩm mốc của tường vôi rêu phong và lá mục. Ngôi chùa ban ngày hiện ra với vẻ trầm mặc, cổ kính. Từng lớp mái ngói mũi hài uốn cong vút lên nền trời xám xịt, những cột gỗ lim to bằng hai người ôm đã ngả sang màu nâu đen vì mưa nắng dãi dầu qua mấy trăm năm.

Ở góc sân, một chiếc bể nước mưa bằng xi măng phủ đầy rêu xanh đặt dưới máng xối. Tôi múc một gáo nước lạnh rửa mặt. Nước giếng vùng cao lạnh ngắt làm tôi tỉnh hẳn ngủ, cơn ngái ngủ biến mất tăm.

Trên chiếc bàn gỗ con đặt ở hành lang nối giữa gian chái và nhà bếp, ai đó đã để sẵn một bát con cơm nguội cùng đĩa muối vừng và ấm trà xanh còn bốc khói nhè nhẹ. Tôi ngồi xuống ghế, bốc cơm chấm muối vừng nhai chậm rãi. Vị bùi bùi, mặn mặn của vừng rang hòa với cơm dẻo làm dịu đi cái bụng đói cồn cào. Xung quanh vắng hoe, không thấy bóng dáng của ông nội hay các chú tiểu đâu cả. Có lẽ mọi người đều đang bận rộn với công việc nhà chùa hoặc làm cỏ ngoài vườn thuốc dưới chân đồi.

Ăn xong, sự buồn chán của một đứa trẻ quen chạy nhảy nơi phố chợ bắt đầu trỗi dậy. Mười một tuổi, không có bạn bè cùng trang lứa, không có truyện tranh hay đồ chơi, ngôi chùa rộng thênh thang này bỗng trở thành một thế giới bí ẩn thôi thúc tính tò mò của tôi.

Tôi bước vào gian tiền đường.

Bên trong điện thờ tối hơn ngoài sân rất nhiều. Ánh sáng le lói từ những ngọn nến sáp và mấy chiếc đèn dầu leo lét soi rõ từng làn khói hương uốn lượn. Mùi đàn hương đậm đặc phả vào mũi. Tôi rón rén bước từng bước trên nền gạch Bát Tràng trơn nhẵn, mắt đảo quanh nhìn ngắm các pho tượng Phật uy nghiêm ngự trên tòa sen cao vút.

Ở hai bên tả hữu, hai pho tượng Hộ Pháp to lớn đứng sừng sững, một vị mặt trắng hiền từ cầm viên ngọc, một vị mặt đỏ gay gắt tay lăm lăm thanh bảo kiếm. Tôi đứng ngước nhìn lên khuôn mặt dữ tợn của vị tượng Hộ Pháp bên phải. Đôi mắt tượng đắp bằng sứ lồi ra, trừng trừng nhìn xuống thẳng vào chỗ tôi đứng, sống động đến mức tôi bất giác rụt cổ, lùi lại hai bước.

Tôi đi vòng qua bức vách ngăn bằng gỗ chạm trổ hình rồng phượng để sang gian hậu điện. Nơi đây bày những bàn thờ nhỏ hơn, hương khói mờ mịt. Từng pho tượng sơn son thiếp vàng xếp thành nhiều tầng từ thấp lên cao, lớp bụi thời gian bám đầy trên những nếp áo cà sa bằng đất nung. Tiếng bước chân của tôi dẫm lên gạch phát ra âm thanh lộp cộp, vang dội giữa bốn bức tường im ắng.

Đi hết gian hậu điện, một cánh cửa gỗ nhỏ mở ra lối đi lát đá xanh dẫn ra phía sau chùa.

Khác với khoảng sân trước quang đãng, khu vực sau chùa rậm rạp cây cối và ẩm ướt hơn hẳn. Những rặng tre rừng mọc ken dày, thân tre cao vút đan chéo vào nhau che khuất cả bầu trời, chỉ để lọt vài tia sáng yếu ớt rọi xuống thảm cỏ dại. Những bậc thang bằng đá xanh đẽo gọt thô sơ, phủ đầy rêu trơn trượt, dẫn thoai thoải lên sườn núi phía sau.

Tôi nhìn quanh quất, không thấy ai để ý, liền cất bước leo lên những bậc đá.

Càng lên cao, tiếng gió rít qua tán lá càng rõ rệt hơn. Tiếng ve sầu trong rừng cất lên râm ran từng chặp rồi lại im bặt bất thường. Tiếng lá khô vỡ vụn dưới đế dép nhựa của tôi là thứ âm thanh duy nhất vang lên giữa không gian tịch mịch.

Leo được chừng năm mươi bậc đá, con đường mòn mở ra một khoảng đất bằng phẳng nằm nép mình bên vách đá dựng đứng. Nơi này có một ngôi miếu nhỏ, chỉ cao ngang ngực người lớn.

Ngôi miếu được xây bằng gạch chỉ đỏ đã vỡ vụn nhiều chỗ, rễ cây si cổ thụ từ trên vách đá bò xuống quấn chặt lấy phần mái vòm. Bên trong miếu đặt một bát hương bằng gốm sứt mép, chân hương cắm dày đặc nhưng phần lớn đã tàn lạnh từ lâu. Cạnh bát hương là một chén sành đựng ít nước mưa lắng cặn và vài đồng tiền xu hoen rỉ vứt rải rác. Trên tấm bia đá nhỏ cắm sâu vào lòng đất sau bát hương, những nét chữ Hán đã mòn vẹt, không còn đọc rõ được nội dung.

Tôi đứng nhìn ngôi miếu một lúc lâu. Không khí ở khoảng đất này lạnh hơn hẳn so với dưới chân núi, dù lúc này mặt trời đã lên cao. Một cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng khiến tôi không dám lại quá gần bệ thờ.

- Cháu nhỏ kia, con cháu nhà ai mà leo tót lên tận đây thế?

Một giọng nói trầm đục, khàn khàn bất ngờ vang lên từ phía lùm cây rậm rạp sau miếu.

Tôi giật nảy mình, vội vàng quay phắt người lại. Một người đàn ông luống tuổi, mặc bộ quần áo bà ba màu nâu vá chằng vá đụp, tay cầm chiếc liềm cắt cỏ và bó củi khô bước ra khỏi bụi rậm. Khuôn mặt ông sạm đen vì nắng gió, vầng trán hằn sâu những nếp nhăn, ánh mắt nhìn tôi vừa ngạc nhiên vừa có phần dò xét.

Tôi ấp úng chắp hai tay trước ngực:

- Cháu... cháu chào bác ạ. Cháu là Phong, cháu nội của thầy trụ trì. Ba mẹ gửi cháu ở lại đây chơi mấy hôm ạ.

Người đàn ông nghe xong, nét mặt dãn ra đôi chút. Ông hạ bó củi xuống gốc cây si, chống chiếc liềm xuống đất rồi nhìn tôi từ đầu đến chân.

- Hóa ra là cháu nội của thầy. Thảo nào nhìn mặt mũi sáng sủa, có nét giống thầy hồi còn trẻ. Ta là người làm công quả trong chùa, lo việc dọn cỏ với kiếm củi cho nhà bếp, cứ gọi ta là bác Từ.

- Vâng ạ, bác Từ.

Tôi lí nhí đáp, trong lòng thấy bớt sợ hãi hơn.

Bác Từ rút chiếc khăn vắt ngang vai lau mồ hôi trên trán, đưa mắt nhìn quanh khoảng đất trống rồi quay sang nhìn tôi, giọng trở nên nghiêm nghị:

- Cháu mới lên chùa ngày đầu, tốt nhất là cứ ở loanh quanh dưới sân trước với gian tăng phòng thôi. Rừng núi trên này hiểm trở lắm, nhiều hang hốc, vách đá cheo leo, sẩy chân một cái là lăn xuống vực như chơi. Đừng có tò mò mà đi quá xa, nghe chưa?

Tôi gật đầu lia lịa:

- Cháu nhớ rồi ạ. Cháu chỉ đi dạo xem mấy pho tượng rồi thấy bậc thang nên leo lên xem thử thôi ạ. Ngôi miếu này thờ ai vậy bác?

Bác Từ nhìn vào bát hương lạnh ngắt trong miếu, thở dài một tiếng nhỏ rồi đáp:

- Miếu thổ công, thổ địa giữ rừng đấy. Người xưa lập ra để cầu bình an cho dân đi rừng. Chùa này dựng sâu trong núi, đất này thiêng lắm, nhiều chuyện lạ lùng không giải thích được đâu. Cháu còn nhỏ, đừng có hỏi han lôi thôi, cũng đừng động chạm vào đồ thờ tự trên này kẻo mang tội.

Nói rồi, bác Từ cúi xuống vác bó củi lên vai, cầm liềm bước xuống bậc đá. Đi được vài bước, bác dừng lại ngoái đầu dặn thêm:

- Xuống dưới chùa đi cháu, sắp đến giờ cơm trưa rồi đấy. Thầy mà thấy cháu đi lang thang thế này là thầy rầy la cho xem.

- Vâng, cháu xuống ngay đây ạ.

Tôi đáp lời.

Tôi đứng nhìn bóng bác Từ khuất dần sau những rặng tre xanh. Tiếng bước chân và tiếng cành củi khô va quệt vào nhau xa dần rồi tắt lịm.

Lẽ ra tôi phải đi theo bác Từ xuống núi ngay lúc đó. Nhưng bản tính hiếu kỳ của một đứa trẻ mười một tuổi lại không cho phép tôi quay về một cách dễ dàng như vậy. Nhìn quanh quất chỉ thấy cây cối rậm rạp, tôi lại muốn tìm hiểu xem phía sau vách đá kia còn có những gì.

Tôi không đi xuống theo lối bậc thang đá, mà lần theo một dải đất mòn nhỏ chạy men theo sườn sau của gian hậu điện. Lối đi này hẹp hơn nhiều, cỏ gai mọc lấn cả vào lối bước, những cành dương xỉ ướt đẫm sương quệt vào ống quần tôi ướt sũng.

Càng đi sâu ra phía sau, cảnh vật càng trở nên hoang vu. Những bức tường bao bằng đá của chùa đã phủ kín một lớp rêu phong đen thẫm, vài đoạn tường đã nứt toác, để lộ những viên gạch vỡ lởm chởm. Cây cối ở đây rậm rạp đến mức che khuất hoàn toàn ánh nắng mặt trời, tạo nên một vùng sáng tranh tối tranh sáng, âm u và tĩnh lặng đến nghẹt thở.

Đi thêm chừng hai mươi mét, lối mòn đột ngột bị chặn lại.

Trước mặt tôi là một hàng rào bằng thép gai cũ kỹ căng giữa hai thân cây thông lớn. Lưới thép đã rỉ sét ngả sang màu nâu đỏ, nhiều mắt lưới bị mục gãy chĩa ra những đầu nhọn hoắt. Cỏ dại và dây leo gai góc bò chằng chịt lên khung thép, biến hàng rào thành một bức tường ngăn cách tự nhiên giữa khuôn viên nhà chùa và khu rừng rậm rạp phía sau.

Tôi tiến lại gần hơn.

Quan sát kỹ, tôi nhận thấy ở đoạn giữa của hàng rào, phần lưới thép gai không được đóng đinh chặt vào thân cây mà chỉ được buộc tạm bợ bằng một sợi dây kẽm xoắn lỏng lẻo. Lớp lưới thép ở chỗ đó bị trĩu xuống, tạo ra một khoảng trống vừa đủ cho một người nhỏ con chui lọt qua nếu chịu khó khom lưng.

Phía bên kia hàng rào là một con đường mòn nhỏ xíu, gần như chìm nghỉm dưới lớp lá thông khô dày đặc. Con đường ấy quanh co uốn lượn rồi đâm thẳng vào màn sương mù xám đục đang cuồn cuộn bốc lên từ thung lũng phía sau núi. Không có một ngọn gió nào thổi qua, nhưng những ngọn cỏ dại ở bên kia rào lại khẽ lay động, như thể vừa có ai đó lướt qua trên con đường mòn ấy.

Trời lúc này đã chuyển sang buổi trưa muộn, không khí oi nồng, bức bối đặc trưng của mùa hè miền Bắc bắt đầu bao phủ khắp núi rừng. Mồ hôi rịn ra trên trán tôi, làm bết dính những sợi tóc mai.

Tôi đứng chôn chân trước khoảng hở của hàng rào, hai mắt dán chặt vào con đường mòn mờ ảo phía sau làn sương. Một thôi thúc kỳ lạ dâng lên trong lòng, thôi thúc tôi bước qua ranh giới ấy để nhìn xem con đường kia dẫn về đâu.

Tôi hít một hơi nhẹ, chậm rãi giơ tay phải ra.

Những ngón tay của tôi vươn tới, khẽ chạm vào sợi dây thép gai gỉ sét đang chắn ngang lối đi.

Ngay khi đầu ngón tay vừa tiếp xúc với bề mặt kim loại thô ráp, một luồng khí lạnh buốt thấu xương bất thình lình truyền thẳng từ mắt lưới thép vào da thịt tôi. Cảm giác lạnh ngắt ấy chạy dọc theo cánh tay, xộc thẳng lên lồng ngực, khiến toàn thân tôi run bắn lên dù xung quanh trời đang hầm hập hơi nóng.

Chương khác

Xem thêm