Song Đồng Oán - Chương 5: Hai chị
Tiếng gió rít qua những tán lá bồ đề trên đầu nghe xào xạc, từng chùm lá xanh biếc cọ vào nhau tạo nên những âm thanh sàn sạt kéo dài giữa buổi trưa…
Nội dung chương
Tiếng gió rít qua những tán lá bồ đề trên đầu nghe xào xạc, từng chùm lá xanh biếc cọ vào nhau tạo nên những âm thanh sàn sạt kéo dài giữa buổi trưa vắng. Nắng rải đầy trên nền sân gạch tàu đỏ au, nhưng ở chỗ chiếc bàn đá tôi đang ngồi, luồng không khí vẫn giữ nguyên vẻ mát lạnh khác thường.
Chị Huệ khẽ chớp mắt, khóe môi lại cong lên thành một nụ cười hiền dịu. Chị đưa tay cầm lấy chiếc rổ tre nhỏ đặt dưới chân bàn, cất giọng rủ rỉ:
- Thôi, chuyện bờ rào để sau đi. Em có muốn đi hái lá dâu tằm với chúng chị không? Đằng sau mé đông có mấy bụi dâu tốt lắm, hái về phơi khô để tối nấu nước cho Thầy và các bác uống.
Tôi vốn là đứa trẻ hiếu động, cả buổi trưa bị nhốt trong không gian tĩnh mịch của chùa chiền làm tôi bức bối chân tay. Vừa nghe thấy rủ đi chơi quanh vườn, tôi liền gật đầu lia lịa:
- Đi chứ chị! Em ở nhà toàn theo tụi bạn trèo cây bái dâu thôi, em hái nhanh lắm.
Chị Lan cũng mỉm cười, đôi lúm đồng tiền hiện rõ trên đôi má trắng ngần. Chị đứng dậy, sửa lại vạt áo lam cho ngay ngắn rồi cùng chị Huệ đi trước dẫn đường. Tôi lúp xúp chạy theo sau, đôi dép xốp gõ lẹp kẹp trên nền hiên gạch.
Khu vườn mé đông nằm nép mình bên cạnh dãy nhà trù, được ngăn cách với khu rừng già bằng một bờ tường đá thấp phủ đầy rêu xanh. Ở đây trồng nhiều loại cây thuốc nam, xen lẫn những bụi chuối ngự và mấy gốc dâu tằm cành lá xum xuê. Đất ở vùng núi này màu mỡ nên phiến lá dâu to bằng cả bàn tay người lớn, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới ráp mịn những đường gân nổi rõ.
Chị Huệ với tay vin một cành dâu trĩu xuống, bàn tay thoăn thoắt ngắt từng chiếc lá bánh tẻ thả vào rổ tre. Tiếng lá đứt giòn tan, nhựa dâu trắng đục ứa ra nơi cuống lá, tỏa một mùi ngai ngái quen thuộc của chốn thôn dã.
- Chị Huệ ở chùa lâu chưa ạ?
Tôi vừa ngắt mấy lá dâu ở tầng thấp vừa tò mò hỏi chuyện.
- Chị ở đây cũng lâu rồi.
Chị Huệ đáp, giọng nói trầm bổng đều đặn theo từng nhịp tay hái lá.
- Từ hồi còn nhỏ xíu, ngày nào cũng theo Thầy nghe tụng kinh, quét sân, nhặt lá bồ đề rụng.
Chị Lan đứng bên cạnh tiếp lời, ánh mắt nhìn xa xăm về phía ngọn tháp chuông rêu phong nhô lên giữa những ngọn thông:
- Ở trên núi này thanh tịnh lắm em ạ. Người dưới trần thế hay vướng bận những điều hơn thua, chứ lên đến cửa Phật thì mọi sự đều nhẹ tựa lông hồng. Trong kinh có dạy, thân xác con người chỉ là quán trọ tạm bợ, tâm an thì ở đâu cũng thấy cõi tịnh độ.
Tôi ngẩn người lắng nghe. Một đứa trẻ mười một tuổi như tôi chưa thể hiểu hết những tầng nghĩa sâu xa trong lời kinh tiếng kệ, nhưng giọng nói của chị Lan êm ả lạ lùng, nghe như tiếng chuông gió ngân nga trong những buổi chiều tà. Từng lời nói của chị rót vào tai làm cho cái cảm giác ngột ngạt, sợ sệt sau lần bị ông nội quát mắng ban trưa tan biến đi rất nhiều.
Hai chị em vừa hái lá vừa kể cho tôi nghe những tích truyện nhà Phật. Chuyện về đức Phật Thích Ca ngồi thiền dưới gốc bồ đề, chuyện về lòng từ bi hỉ xả cứu độ chúng sinh khỏi bể khổ trầm luân. Cách kể chuyện của hai chị không khô khan như những cuốn sách in chữ nhỏ mà ông nội hay đọc, nó gần gũi, dịu dàng, phảng phất một nỗi buồn man mác khó gọi thành tên.
Mải mê hái một lúc, chiếc rổ tre trên tay chị Huệ đã đầy ắp những phiến lá dâu xanh mướt. Nắng trưa bắt đầu ngả sang màu vàng nhạt của buổi xế chiều, gió từ thung lũng thổi thốc lên mang theo hơi ẩm nồng nặc của cỏ dại mục rữa.
Tôi ngồi bệt xuống một tảng đá phẳng bên gốc dâu, phủi những vụn lá bám trên gấu quần đùi, rồi ngước nhìn hai chị:
- Hai chị ơi, em hỏi thật nhé... Cái con đường sau hàng rào thép gai chỗ rừng thông ấy, nó dẫn đi đâu thế ạ?
Động tác nhặt lá dâu của chị Huệ chợt dừng lại. Bàn tay chị lơ lửng giữa không trung trong một khoảng lặng im phăng phắc. Chị Lan đang đứng bên cạnh cũng khẽ cụp mi mắt xuống, hàng mi dài đổ bóng râm mờ lên gò má trắng bợt.
Không gian quanh bờ tường đá chùng xuống một nhịp. Tiếng ve sầu râm ran trên các ngọn cây bỗng nhiên nghe xa vắng lạ thường, chỉ có tiếng gió thổi qua kẽ lá rít lên từng hồi u u u uất.
Chị Huệ buông cành dâu ra, để nó bật ngược trở lại vị trí cũ. Chị quay người sang nhìn tôi, ánh mắt ẩn chứa một nỗi niềm u uẩn:
- Em vẫn còn nghĩ đến con đường đó sao?
- Vâng.
Tôi thành thật gật đầu.
- Lúc trưa em nhìn qua rào, thấy đường mòn phẳng phiu lắm, sương mù giăng trắng xóa nhìn mát rượi. Em cứ tưởng đấy là đường đi hái thuốc của các bác trên chùa. Thế mà ông nội mắng em dữ quá, lại còn bắt anh Điền ra chôn cọc rào thêm lưới thép gai nữa.
Chị Lan thở dài một hơi rất khẽ, tiếng thở dài nhẹ hẫng trôi tuột vào thinh không. Chị bước lại gần tảng đá tôi đang ngồi, đặt một bàn tay lên bờ vai tôi. Cảm giác lạnh buốt từ những ngón tay của chị truyền qua lớp áo mỏng làm tôi nhẹ rùng mình, cái lạnh ấy y hệt như luồng gió buốt từng phả ra từ phía sau hàng rào ban trưa.
- Em đừng trách Thầy.
Chị Lan nhẹ nói.
- Thầy làm vậy là vì muốn giữ an toàn cho em thôi.
- Sao lại thế hả chị? Bên ấy có vực sâu hay có thú dữ ạ?
Tôi gặng hỏi.
Chị Huệ ngồi xuống mép tảng đá đối diện tôi, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên vạt áo lam. Đôi mắt chị nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng kể đều đều, chậm rãi:
- Hồi mới lên chùa, chị cũng tò mò y như em bây giờ vậy. Thấy hàng rào thép gai ngăn đôi cánh rừng, thấy con đường mòn phủ đầy rêu xanh dẫn sâu vào trong màn sương mù, chị cũng nghĩ đằng sau đó là một khoảng rừng đẹp, có hoa dại, có suối trong.
Tôi chăm chú lắng nghe, không dám thở mạnh:
- Rồi sao nữa hả chị, chị có từng đi qua đó không?
- Chị vừa mới thò chân qua mép rào, tay vịn vào cọc gỗ thì Thầy xuất hiện.
Giọng chị Huệ chùng xuống. Một nỗi e sợ từ thuở xa xưa thoáng qua trong đó.
- Thầy không quát mắng to tiếng đâu, nhưng nét mặt Thầy nghiêm khắc đến đáng sợ. Thầy bắt chị quỳ trước ban Tam Bảo suốt từ trưa cho đến tận lúc canh ba gõ mõ. Thầy bảo, có những con đường một khi đã bước chân qua thì không bao giờ quay đầu lại được nữa.
Tôi nghe mà rợn tóc gáy. Hình ảnh người ông nội nghiêm nghị với đôi mắt sắc lạnh lúc trưa lại hiện rõ trong đầu tôi. Ông nội tôi thường ngày ít nói, ăn uống đạm bạc, đối đãi với khách thập phương vô cùng hòa nhã, nhưng mỗi khi ông đã nổi giận thì không ai trong chùa dám ho he một lời.
- Thầy phạt nặng thế cơ ạ?
Tôi thè lưỡi.
- Thế từ đó chị không dám ra đấy nữa à?
- Không bao giờ.
Chị Huệ lắc đầu dứt khoát.
- Chị em chúng chị biết Thầy làm thế là muốn tốt cho chúng chị. Ở chốn thâm sơn cùng cốc này, có những điều cấm kỵ thuộc về cõi u minh mà người trần mắt thịt không nên tìm hiểu. Em còn nhỏ, lên đây chơi vài hôm rồi lại về với ba mẹ dưới phố, đừng để tâm đến những thứ sau bờ rào làm gì.
Chị Lan đưa tay vuốt nhẹ mái tóc tôi, giọng chị thì thầm như tiếng gió thoảng qua cành lá:
- Nghe lời hai chị, tuyệt đối không được tới gần hàng rào đó nữa, nghe chưa? Nhất là những lúc trời sập tối hoặc rạng sáng khi sương mù dâng cao. Dù có nhìn thấy gì, nghe thấy ai gọi tên mình bên kia rào thì cũng phải bịt tai quay đầu đi thẳng vào chính điện.
Lời dặn dò tha thiết xen lẫn vẻ u ám trong giọng nói của chị Lan làm sự tò mò trong lòng tôi trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bản tính con nít vốn dĩ càng bị cấm đoán thì càng muốn tìm hiểu cho bằng được nguyên do.
Tôi ngước nhìn hai chị, buột miệng hỏi:
- Nhưng rốt cuộc là vì sao hả hai chị? Phía sau sương mù đó rốt cuộc có cái gì mà ai cũng sợ hãi, ai cũng giấu em thế?
Chị Huệ và chị Lan nhìn nhau. Một sự im lặng nặng nề lại bao trùm lên góc vườn dâu tằm. Gió rừng thổi qua làm tà áo lam của hai chị bay phần phật, nhưng thân hình của cả hai vẫn đứng bất động như những pho tượng tạc giữa bóng cây.
Sau một lúc lâu, chị Lan mới quay lại nhìn tôi. Đôi mắt to tròn của chị đượm một nỗi buồn sâu thẳm, sâu đến mức tôi cảm thấy như đang nhìn vào một cái giếng cạn tối tăm không có đáy.
Chị nhẹ mở miệng, từng lời buông ra lạnh ngắt:
- Nếu em chỉ đến đó vì tò mò... thì em còn may mắn lắm đấy.
- Ý chị là sao ạ?
Tôi ngơ ngác, không hiểu nổi câu nói lửng lơ đầy ẩn ý ấy.
Chị Lan không giải thích thêm. Chị nhẹ lắc đầu, nụ cười trên môi gượng gạo và nhợt nhạt:
- Đi thôi em, trời sắp tối rồi, chúng ta phải mang lá dâu này về cho bác dưới bếp phơi kẻo Thầy đi tìm bây giờ.
Nói xong, hai chị đứng dậy, cất bước đi về phía dãy hành lang lát gạch đỏ. Tôi ngẩn ngơ một lúc rồi cũng lật đật đứng dậy chạy theo sau. Trong đầu tôi vẫn lùng bùng câu nói của chị Lan: nếu chỉ là tò mò thì còn may. Cụm từ ấy cứ lặp đi lặp lại như một câu đố hóc búa mà tôi không tài nào tìm ra lời giải.
Ba chị em đi dọc theo con đường lát đá dẫn từ vườn dâu vòng qua sau lưng nhà tổ. Ánh chiều tà của vùng rừng núi buông xuống rất nhanh. Mặt trời đỏ quạch như một quả cầu lửa khổng lồ đang từ từ chìm xuống sau những rặng thông trùng điệp phía tây, hắt những vệt nắng vàng vọt, sắc nhọn trải dài trên khoảng sân trước cửa chùa.
Tôi đi thụt lùi lại phía sau hai chị chừng vài bước chân. Nắng chiều rọi xiên từ bên hông, in bóng của tôi thành một vệt đen dài, rõ nét từng cử động của đôi tay và chiếc áo phông cộc tay trên nền gạch tàu đỏ au.
Tôi vô tình cúi đầu nhìn xuống mặt đất dưới chân hai chị.
Một cảm giác ớn lạnh đột ngột xông thẳng lên đỉnh đầu tôi, làm toàn thân tôi cứng đờ lại ngay giữa sân gạch.
Ánh nắng hoàng hôn rực rỡ và gay gắt đang rọi thẳng từ sườn đồi phía bên phải chúng tôi, chiếu nghiêng qua thân hình của chị Huệ và chị Lan đang bước đi phía trước.
Thế nhưng trên nền gạch đỏ bóng loáng, bóng của hai chị lại không hề đổ dài theo hướng ngược lại của ánh nắng giống như bóng của tôi.
Dưới chân hai chị, vệt bóng đen mờ căm, nhạt nhòa đến mức gần như vô hình. Kỳ quái hơn cả, cái bóng mờ ảo ấy lại lệch hẳn sang một góc khác, nghiêng ngả về phía bóng râm của rặng thông già sau núi, hoàn toàn không ăn khớp với hướng chiếu rọi của vầng thái dương đang đỏ rực trên bầu trời.