Thám Tử Thông Linh - Chương 12: ()Lần theo dấu vết, giăng lưới

()Lần theo dấu vết, giăng lưới Ngụy Kiến Quốc đã đứng trước tấm bảng trắng ở cuối hành lang đồn công an khu Tây thành phố gần bốn mươi phút. Tấm bảng…

Nội dung chương

()Lần theo dấu vết, giăng lưới

Ngụy Kiến Quốc đã đứng trước tấm bảng trắng ở cuối hành lang đồn công an khu Tây thành phố gần bốn mươi phút. Tấm bảng trắng ấy đã dùng mười một năm, lớp sơn trắng trên bề mặt bị ông lau đi viết lại vô số lần đến mức xám xịt, những ghi chú cũ bên dưới chưa lau sạch hẳn lộ ra qua các đường nét mới vẽ, khiến cả tấm bảng trông như một tấm bản đồ chụp từ trên không đang chậm rãi phai màu. Tay phải ông cầm bút lông bảng đỏ, tay trái nâng một chiếc cốc tráng men, trà hoa nhài trong cốc đã pha đến nước thứ tư, màu trà nhạt đến mức giống như nước tương bị pha loãng.

“Tiểu Lục, qua đây xem cái này.” Ngụy Kiến Quốc dùng đầu bút chọc lên bảng trắng ba cái, mỗi cái đều chọc vào một cái tên, tấm bảng phát ra ba tiếng “cộc cộc cộc” liên tiếp. Ba tiếng vang ấy truyền ra hành lang rồi lại bị cánh cửa sắt của tủ vòi cứu hỏa ở cuối hành lang bật trở về, tạo thành một đoạn âm vang ngắn ngủi. Ngụy Kiến Quốc đã nghe tiếng bút chọc bảng của chính mình suốt ba mươi năm, thứ âm thanh này đối với tai ông có ý nghĩa tương đương với thanh tiến độ của vụ án.

Lục Vô Sự đứng dậy từ chiếc ghế dài bằng sắt ở đầu kia hành lang rồi đi tới. Túi vải của anh đeo bên vai phải, trong túi đựng nến hồn, bùa cấm, cúc đồng và một quyển Âm Đức Bảo Điển đã lật đến cũ. Mép bìa quyển bảo điển đã sờn tua, trên gáy sách dính vài vết trà không biết bị quệt lên từ lúc nào.

Trên bảng trắng, bút đen vẽ một hình tam giác, ba đỉnh của tam giác lần lượt nối với một bản tóm tắt vụ việc. Vụ thứ nhất: mèo đen của cửa hàng kim khí khu Tây thành phố mất tích. Con mèo của chủ tiệm Triệu Hữu Tài trong lúc đang phơi nắng như thường lệ trước cửa bỗng biến mất, thứ xuất hiện thay cho con mèo trên khung cửa là một mảnh giấy vẽ đầy những ký hiệu kỳ lạ. Vụ thứ hai: trong cặp sách của nữ sinh lớp ba Trần Tiểu Manh ở trường tiểu học khu Tây thành phố xuất hiện một lá thư nặc danh, trên thư chép bài “Tĩnh Dạ Tứ” của Lý Bạch, dưới mỗi câu thơ đều thêm vào một bộ ký hiệu kỳ lạ giống nhau. Vụ thứ ba: lão Lý, tiểu thương ở chợ rau khu Tây thành phố, khi dọn sạp phát hiện dưới sạp có một chuỗi vòng hạt Phật, mười tám hạt Phật, hạt nào cũng khắc cùng chín ký hiệu giống nhau.

Ngụy Kiến Quốc dùng bút đen mô phỏng lại chín ký hiệu ấy ở góc dưới bên phải bảng trắng. Trình độ vẽ lại của ông chỉ ngang mức học sinh tiểu học cố gắng đủ điểm qua môn mỹ thuật, nhưng đặc trưng kết cấu cơ bản của các ký hiệu vẫn được những nét bút vụng về của ông trung thành phác lại. Ký hiệu thứ nhất là một tam giác ngược, góc trong khoảng sáu mươi độ. Ký hiệu thứ hai là ba đường lượn sóng song song, khoảng cách chuẩn xác hai milimét. Ký hiệu thứ ba là một con mắt nằm trong vòng tròn, vị trí đồng tử có một lỗ nhỏ. Ký hiệu thứ tư có hình chiếc chìa khóa. Ký hiệu thứ năm là đường gấp khúc tia chớp, góc gấp là góc vuông. Ký hiệu thứ sáu là hình tròn bị gạch chéo, đường gạch chéo xuyên qua tâm. Ký hiệu thứ bảy là ba hình thoi xếp cạnh nhau, trên mỗi đường chéo đều có một chấm. Ký hiệu thứ tám là một vầng trăng non và một vầng trăng khuyết đặt sát cạnh nhau. Ký hiệu thứ chín là ngôi sao sáu cánh bị một vòng tròn phủ lên.

Lục Vô Sự nhìn chằm chằm vào chín ký hiệu đó chừng ba giây, cuốn Âm Đức Bảo Điển sâu trong não anh đột nhiên tự lật sang một trang. Không phải anh chủ động lật, mà là mô-đun nhận diện phù văn tích hợp trong bảo điển đã tự động kích hoạt. Thông tin bảo điển hiện ra rất chi tiết: “Trận Mắt Mèo Nuốt Hồn: trận pháp dò xét cơ bản do thám tử cấp thấp của tổ chức Ám Ảnh sử dụng. Sau khi chín phù văn được sắp xếp theo phương vị đặc định, có thể hình thành một trường dò hồn vô hình trong phạm vi ba trăm mét. Bất kỳ thông linh giả hoặc người gần đạt tới thông linh giả nào đi qua trường dò hồn, tần số hồn phách của họ sẽ tự động bị ghi lại và truyền ngược về phía bố trí trận pháp. Thời gian duy trì trận pháp khoảng bảy mươi hai giờ. Mực vẽ phù văn có thêm thành phần lưu huỳnh để chống mưa. Trong nội bộ tổ chức Ám Ảnh gọi thám tử cấp thấp là ‘mèo’, vì vậy trận pháp có tên như thế.”

Lục Vô Sự đọc từng chữ đoạn này cho Ngụy Kiến Quốc nghe. Trong lúc anh đọc, Ngụy Kiến Quốc vẫn giữ nguyên một tư thế: cốc trà tráng men trong tay trái dừng bên miệng chưa hạ xuống, đầu bút viết bảng trong tay phải lơ lửng cạnh tờ giấy nhớ dán bên tấm ảnh con mèo đen của Triệu Hữu Tài, trên tờ giấy nhớ viết “mèo?”. Khi Lục Vô Sự đọc xong chữ cuối cùng, Ngụy Kiến Quốc đặt “choang” cốc trà lên chiếc bàn phía sau, dùng bút đỏ vẽ một vòng tròn lớn ở điểm trung tâm của ba vụ án. Tâm vòng tròn vừa khéo rơi đúng vào vị trí chính xác của quán trà Thanh Tâm ở ngõ Liễu Ấm.

“Ba tuyến thử nghiệm, một tâm tròn.” Giọng Ngụy Kiến Quốc trầm mà mạnh mẽ, “Vụ mèo mất tích là để thử người bình thường có nhận ra điều bất thường hay không. Thư nặc danh là để thử thông linh giả có thể cảm ứng được tín hiệu âm đức ở tầng chữ viết hay không. Tràng hạt là để thử thông linh giả có thể cảm ứng được năng lượng ở tầng tiếp xúc hay không. Ba tuyến thử nghiệm bao phủ ba chiều kích chủ yếu của cảm ứng thông linh. Đây không phải gây án ngẫu nhiên, mà là một quy trình sàng lọc thao tác theo sổ tay.”

“Thông tin đăng ký kinh doanh của quán trà Thanh Tâm tôi đã tra rồi.” Lục Vô Sự rút từ chiếc túi vải của mình ra một tờ kết quả tra cứu in từ trang web chính thức của Cục Công thương, “Tên đầy đủ là ‘Công ty TNHH Văn hóa Trà Thanh Tâm Đường Giang Thành’, người đại diện pháp luật là một người họ Hồ, tên thật Hồ Trường An, biệt danh Hồ Béo. Vốn đăng ký năm trăm nghìn, vốn thực góp hai trăm nghìn. Địa chỉ đăng ký là số 16 ngõ Liễu Ấm. Phạm vi kinh doanh ghi là bán lẻ trà và bán buôn trà cụ, nhưng hồ sơ nộp thuế cả năm ngoái cho thấy doanh thu thực tế của nó chưa tới năm mươi nghìn tệ. Một công ty vốn đăng ký năm trăm nghìn mà doanh thu một năm chỉ có năm mươi nghìn, đây không phải hành vi kinh doanh bình thường.”

“Phía sau quán trà còn có gì?”

“Kho sau. Trên bản vẽ đăng ký ghi diện tích xây dựng là sáu mươi mét vuông, nhưng lần trước tôi đi ngang qua đã dùng bước chân ước lượng một lần, diện tích thực tế của kho sau ít nhất phải gấp đôi. Phần diện tích dư ra rất có thể là tầng hầm hoặc phần mở rộng dưới lòng đất. Bên dưới các công trình cũ ở khu phía tây thành phố đều còn sót lại hầm phòng không, nếu tổ chức Ám Ảnh thuê quán trà Thanh Tâm, rất có thể là vì nhắm vào mạng lưới hầm phòng không nối liền bên dưới nó.”

Ngụy Kiến Quốc dùng bút đỏ vẽ trên bảng trắng một mũi tên kéo dài xuống từ quán trà Thanh Tâm, bên cạnh mũi tên viết hai chữ: “phòng không”. Sau đó ông dùng đường đỏ nối ba vụ án với mũi tên ấy. Ba đường đỏ khi giao nhau được vẽ thành một đường nét đứt liên kết hai chiều, đường nét đứt chỉ về núi Thúy Bình. Trong báo cáo vụ án núi Thúy Bình mà Tô Tiểu Thất nộp tuần trước, chỗ đóng dấu đỏ đã viết rõ ràng rành mạch: toàn bộ vật hiến tế sống của Trung tâm Chiết xuất đều được vận chuyển qua lối đi trong hầm phòng không dưới lòng đất, quán trà Thanh Tâm nghi là trạm trung chuyển đầu tuyến của chuỗi vận chuyển.

“Tô Tiểu Thất hành động vào thứ Sáu. Tối nay cậu đi thăm dò tầng ngầm của nhà kho. Trước trưa thứ Sáu phản hồi cho tôi kết cấu tầng ngầm.” Ngụy Kiến Quốc nói xong thì “cạch” một tiếng, đậy nắp bút bảng lại. Tiếng cạch ấy vang vọng trong hành lang lâu hơn ngày thường nửa giây. Ông uống cạn một hơi tách trà lài trong cốc tráng men đã pha đến lần thứ tư, vị nhạt của trà hoa để lại trên cuống lưỡi ông một lớp màng đắng hơi chát.

Lục Vô Sự ra khỏi đồn công an lúc bốn rưỡi chiều. Nắng thu lúc bốn rưỡi chiếu xuống qua những khe hở giữa lá cây ngô đồng, vẽ trên vỉa hè những mảnh sáng tối lốm đốm. Anh rẽ vào quán mì bò bên cạnh đồn công an, lúc đẩy cửa, chiếc chuông đồng trên cửa khẽ lắc, phát ra một âm đồng trầm thấp.

Ông chủ quán Mì Bò Anh Béo là Vương Béo đang đứng sau quầy bóc tỏi. Tay trái ông cầm tỏi, tay phải cầm dao, tốc độ dùng sống dao đập tỏi tỉ lệ nghịch với cân nặng của ông, nhanh đến lạ thường. Trên thớt trước mặt đã chất một đống nhỏ những tép tỏi bị đập dập, bề mặt tép tỏi ánh lên chút nước tỏi. Trong quán lúc này chỉ có hai vị khách, một nhân viên giao hàng ngồi trong góc ăn mì, một công nhân xây dựng đội mũ bảo hộ ngồi gần cửa. Mũ bảo hộ màu vàng, lớp sơn bên trên đã bị va quệt loang lổ.

Vương Béo thấy Lục Vô Sự bước vào thì đặt dao xuống, lại móc từ túi tạp dề ra một cây tăm ngậm nơi khóe miệng. Đối với Vương Béo, tăm không chỉ là công cụ xỉa răng, mà là một phần trong hệ thống quản lý biểu cảm của ông. Tăm ở khóe miệng bên trái nghĩa là ông có tin tức bình thường muốn chia sẻ, tăm ở khóe miệng bên phải nghĩa là ông có tin tức quan trọng muốn chia sẻ, tăm xoay vòng trong miệng nghĩa là chuyện ông sắp nói đến chính ông cũng ngại mở lời. Cây tăm này hiện đang ở khóe miệng bên phải.

“Anh Lục, ngồi đi.” Vương Béo bưng một bát mì bò đến trước mặt Lục Vô Sự, trên mặt mì còn cho thêm một nắm rau mùi. Sau đó ông ngồi xuống đối diện Lục Vô Sự, nửa thân trên nghiêng về phía trước, hai tay xếp chồng lên nhau đặt trên bàn, vị trí các ngón tay đan vào nhau vừa khéo ở ngay dưới cằm ông. Bộ tư thế này là động tác mở màn tiêu chuẩn khi ông bật chế độ chia sẻ tin tình báo.

“Sáng nay có một người làm bán buôn đồ dùng hằng ngày đến ăn mì. Kho của anh ta nằm trong một nhà máy cao su bỏ hoang dưới chân núi Thúy Bình. Anh ta nói suốt bảy ngày liền, tối nào khoảng mười một giờ cũng có một chiếc xe van màu xám đã cải tạo chạy ngang qua cửa kho của anh ta. Thùng xe được bọc bằng vải đen, kính chắn gió dán phim tối màu. Biển số bị bùn trét kín, nhưng trét rất có kỹ thuật, độ dày của lớp bùn rất đều, không phải bắn lên, mà là bôi lên. Thân xe không có bất kỳ dấu phản quang nào, lái xe trong đêm gần như không nhìn thấy được đường nét thân xe.”

“Trong thùng xe chở gì?”

“Tối hôm kia anh ta cố ý thức khuya, ngồi canh đến mười hai giờ để xem chiếc xe đó. Xe dừng ở ngã rẽ trước cửa kho của anh ta khoảng chừng hai phút. Anh ta nghe thấy trong thùng xe truyền ra tiếng kim loại va chạm, không phải tiếng hàng hóa lắc lư, mà là tiếng xích sắt chạm vào lồng sắt. Sau khi dừng lại, cửa sau thùng xe hé ra một khe, từ trong khe rơi ra một cục màu trắng. Sau khi xe đi, anh ta nhặt lên xem, là một cục gạc y tế, trên gạc dính vết thuốc màu nâu, ngửi có mùi thuốc Đông y pha cồn.”

Lục Vô Sự đặt đũa xuống, sắc mặt trầm hẳn. Mô tả này hoàn toàn khớp với kiến thức hắn học được từ Thôi Giác. Vết thuốc còn sót lại của An Hồn thang chính là màu sắc và mùi này. An Hồn thang là dược tề độc môn của tổ chức Bóng Tối, được luyện nấu theo tỉ lệ từ hoàng bá, táo nhân chua, viễn chí, hợp hoan bì; rót vào cơ thể người sống có thể khiến người uống rơi vào hôn mê sâu suốt mười hai tiếng, hồn phách trong thời gian thuốc phát tác sẽ ở trạng thái nửa tách rời, cực kỳ dễ bị thuật kéo hồn trực tiếp rút đi.

“Góc dưới bên phải tấm chắn sau có dán một nhãn, in ba chữ: ‘Thanh Tâm Đường’.” Vương Béo bổ sung, cây tăm của hắn chuyển từ khóe miệng bên phải sang khóe miệng bên trái. Tin tiếp theo không quan trọng bằng tin trước nhưng vẫn đáng để nói: “Anh ta còn vẽ một tấm bản đồ, đánh dấu bốn ngã rẽ trên đường núi Thúy Bình từ chân núi đến nhà máy cao su. Chiếc van mỗi lần đến một ngã rẽ đều giảm tốc độ đến gần như dừng lại, chắc là để xác nhận xem có đuôi bám theo hay không. Những điểm giảm tốc được đánh dấu hình tam giác.”

Vương Béo móc từ một túi khác của chiếc tạp dề ra một tờ giấy vụn gấp thành ô vuông, mở ra đặt lên bàn. Trên giấy dùng bút bi vẽ sơ đồ một con đường núi, ở vị trí bốn ngã rẽ đều vẽ một hình tam giác, bên cạnh dùng bút bi viết xiêu vẹo từ “điểm giảm tốc 1” đến “điểm giảm tốc 4”. Bên cạnh hình tam giác còn dùng bút mảnh ghi thêm một quan sát phụ: “Trong lúc giảm tốc, tài xế không mở cửa sổ, chỉ quan sát qua gương chiếu hậu.” Quan sát này cho thấy tài xế của chiếc van đã được huấn luyện chống theo dõi, không phải tài xế xe thuê được gọi bừa.

“Chìa khóa dự phòng của kho.” Vương Béo đặt một chiếc chìa khóa nhôm lên bàn rồi đẩy tới, “Ông anh làm bán buôn nói cậu cứ việc dùng kho. Cửa sau của kho đối diện hướng đường Thúy Bình Sơn, sau cửa có một đống thùng gỗ, cậu có thể ngồi xổm sau đó quan sát bên ngoài. Ngoài ra” hắn chuyển cây tăm từ khóe miệng bên trái sang khóe miệng bên phải, cho thấy tin tình báo cuối cùng này là phần chốt quan trọng, “anh ta nói loáng thoáng nhìn thấy thứ trong thùng xe. Không phải hàng hóa, mà là bóng người.”

Lục Vô Sự cất chìa khóa, đứng dậy đặt ba tờ mười đồng lên bàn. Giá chuẩn của mì bò là mười hai đồng, mười tám đồng hắn đặt thêm coi như phí tình báo. Vương Béo không từ chối, cầm tiền nhét vào túi tạp dề, rồi vỗ vai hắn.

“Tối thứ sáu cần giúp thì nói một tiếng. Tinh thần chính nghĩa trên con phố này của tôi tuy không có quyền chấp pháp, nhưng trong quán mì thêm một người thì thêm một đôi đũa.”

Khi Lục Vô Sự bước ra khỏi quán mì, ráng chiều đã nhuộm chút xanh cuối cùng của lá ngô đồng thành màu đỏ cam. Hắn đến văn phòng xử lý xong những công việc thường lệ hôm nay, bổ sung năng lượng âm đức cho Tô Nhiên một lần, trả lời hai email ủy thác, rồi ngồi trước bàn làm việc lật Âm Đức Bảo Điển đến trang vừa tự động mở khóa ban nãy. Trong cột kỹ năng “Thuật Truy Tung Người Chết”, bảo điển đánh một dấu “NEW”, ký hiệu màu cam, trên giao diện màu vàng trông vô cùng bắt mắt.

“Thuật Truy Tung Người Chết: phóng năng lượng âm đức ra ngoài thành sóng xung hình vòng, tín hiệu hồn phách của tất cả người chết/người sắp chết trong phạm vi bao phủ sẽ phản hồi thông tin định vị theo dạng tiếng vọng sonar. Thông tin bao gồm trạng thái hồn phách và khoảng cách, phương vị. Bán kính bao phủ = tu vi của thông linh giả × 100 mét. Cấp hiện tại là cấp 4, bán kính bao phủ khoảng 400 mét. Mỗi lần thi triển tiêu hao 50 điểm âm đức. Giới hạn mỗi ngày 10 lần. Vượt giới hạn sẽ bước vào thời kỳ suy yếu 72 giờ.”

Lục Vô Sự đứng dậy đi tới bên cửa sổ. Đèn đường ngoài cửa sổ vừa sáng, cây ngô đồng in xuống mặt đất những bóng lá dưới ánh đèn. Hắn nhắm mắt khởi động nhịp thở truy tung ba đoạn: hít vào bốn giây, nín thở hai giây, thở ra sáu giây. Sau nhịp thở ba đoạn, hắn tập trung sự chú ý vào lõi âm đức ở đan điền. Lõi ấy là một khối năng lượng màu vàng pha lam nhạt, trong bóng tối phát ra ánh sáng yếu ớt, giống như một viên đá dạ quang chìm dưới đáy nước sâu. Sau đó, hắn kéo từ trong khối ấy ra một sợi năng lượng mảnh như tơ tằm, men theo kinh mạch trong cơ thể đi qua huyệt Đản Trung, huyệt Thiên Đột, huyệt Kiên Ngung bên vai phải, cuối cùng tụ lại ở hổ khẩu trong lòng bàn tay phải.

Năng lượng ở hổ khẩu tụ thành một xoáy nhỏ bị nén chặt. Nhiệt độ của xoáy thấp hơn thân nhiệt khoảng nửa độ, cảm giác nóng lạnh tương phản trên tay giống như áp lòng bàn tay vào chiếc cốc thủy tinh vừa lấy ra từ ngăn mát tủ lạnh. Hắn đẩy xoáy từ lòng bàn tay ra ngoài. Khoảnh khắc xoáy rời khỏi da, nó mở rộng thành một làn sóng xung hình vòng, lấy hắn làm trung tâm khuếch tán ra ngoài: một mét, hai mét, ba mét, năm mét, mười mét, hai mươi mét, năm mươi mét, một trăm mét, hai trăm mét, bốn trăm mét.

Khi đến bốn trăm mét, sóng xung va vào vách giới hạn của bán kính bao phủ rồi bật ngược trở lại. Dạng sóng dội về mang theo tín hiệu định vị. Tín hiệu cho thấy trong phạm vi xung quanh có mười hai hồn phách người chết. Mười một là vong hồn bình thường đã đăng ký trong hồ sơ âm phủ, tần số ổn định, không cần can thiệp. Người thứ mười hai là Tô Nhiên, tần số hồn phách của cô ổn định, giá trị âm đức đã khôi phục đến gần hai trăm điểm, độ ổn định từ bảy mươi tư phần trăm trước đó tăng lên tám mươi phần trăm.

Sau khi Lục Vô Sự xác nhận tín hiệu của Tô Nhiên không có vấn đề, anh chỉnh hướng sóng xung từ trong nhà sang phía đường phố. Ở hướng đông nam, trên tuyến từ ngõ Liễu Âm đến núi Thúy Bình, trong tín hiệu dội về của một đợt sóng xung xuất hiện một nguồn tín hiệu đang di chuyển: một chiếc xe tải, trên xe có mười bảy tần số hồn phách của người sống đều bị ép xuống khoảng hai mươi phần trăm so với mức bình thường. Nhân tố bên ngoài gây ép tần số chính là An Hồn Thang. An Hồn Thang ép tần số dao động của hồn phách từ mức bình thường mười đến mười lăm hertz xuống còn ba đến năm hertz; hertz càng thấp thì việc kéo hồn càng dễ một lần rút trọn cả hồn phách khỏi lớp ngăn cách với thân thể.

Anh gửi dữ liệu tần số theo thời gian thực cho Thôi Giác. Thôi Giác hồi âm rất nhanh: “Xác nhận lộ tuyến: xuất phát từ đoạn giữa ngõ Liễu Âm, đi lên theo đường núi Thúy Bình. Dự kiến ba mươi phút nữa đến khu nhà máy bỏ hoang ở lưng chừng núi. Khu nhà máy có trạm tiếp nhận của tổ chức Ám Ảnh. Vòng ngoài bố trí trận pháp che chắn tà thuật. Sau khi trận che chắn khởi động, chi viện từ âm phủ sẽ không thể xuyên qua. Đề nghị trước thứ Sáu phá hủy pháp khí hạt nhân của trận che chắn trước, đến thứ Sáu phối hợp với hành động của Tô Tiểu Thất, trực tiếp quét sạch cứ điểm ngầm dưới quán trà.”

Lục Vô Sự đáp lại một chữ xác nhận, rồi mài độ chính xác của sóng truy tung từ “cấp khu vực” lên “cấp phòng”. Sau khi độ chính xác được nâng cao, anh có thể phân biệt kết cấu cụ thể tầng ngầm của quán trà Thanh Tâm: tầng hầm nằm ngay dưới kho sau, sâu khoảng bốn mét, diện tích khoảng hai trăm mét vuông, nối với ba đường hầm phòng không. Đường hầm A thông ra kênh thoát nước phía nam ngõ Liễu Âm. Đường hầm B thông tới công sự phòng không ngầm của nhà máy dệt bỏ hoang. Đường hầm C thông tới một cửa giếng đứng ở lưng chừng núi Thúy Bình, được ngụy trang thành giếng nước xây đá. Trên nắp giếng ngụy trang ở cửa giếng đứng có rêu mới mọc, chứng tỏ gần đây có người đi qua.

Anh sắp xếp tọa độ thành bảng rồi gửi cho Tô Tiểu Thất. Tô Tiểu Thất đáp hai chữ: “Đã nhận.” Sau đó lại bổ sung thêm một tin: “Hành động thứ Sáu, anh hỗ trợ tôi canh lối vào tầng hầm. Phát hiện tầng hầm thì đừng tự xuống, chờ tín hiệu của tôi rồi hãy hành động. Tổ chức Ám Ảnh có thể đã bố trí bẫy năng lượng nhắm vào người thông linh ở lối vào.”

Tám giờ sáng thứ sáu, Tô Tiểu Thất gửi đến một tấm ảnh chụp bằng điện thoại, là bản phác thảo triển khai hành động ở trà quán Thanh Tâm. Vòng phong tỏa bên ngoài do sáu cảnh sát đảm nhiệm, chia nhau canh giữ lối ra trước sau của trà quán và các con hẻm bên hông. Vòng bên trong do đích thân Tô Tiểu Thất dẫn đội, lấy danh nghĩa kiểm tra phòng cháy chữa cháy để tiến vào khu kinh doanh. Vòng ngoại vi do Lục Vô Sự dùng thân phận thám tử tư hỗ trợ, theo dõi lối ra bí mật ở quầy bar, đồng thời dùng cảm tri thông linh để nhắc hướng tầng hầm theo thời gian thực. Ngoài ra cô còn đánh dấu một phương án dự phòng: nếu tầng hầm thật sự tồn tại và chứng minh được lối thông nối với núi Thúy Bình, lập tức khởi động yêu cầu chi viện cấp A, lối đi trong hầm phòng không sẽ do đội phòng hóa chuyên nghiệp của lực lượng vũ cảnh tiếp tục theo dõi và dọn dẹp.

Tám giờ mười lăm phút, Lục Vô Sự buộc chặt túi vải, kiểm tra hai viên Ngưng Thức Đan trong túi cùng chiếc cúc đồng của mình, rồi bước ra khỏi văn phòng. Trước khi ra khỏi cửa, hồn phách Tô Nhiên từ trên sofa bay lên, đứng sau lưng anh. Đường nét của cô trong ánh nắng ban mai rực rỡ trông vô cùng nhạt, giống như hơi nước ngưng tụ trong không khí được một nửa đã tan đi, nhưng giọng nói của cô lại rõ ràng và ổn định hơn trước rất nhiều.

“Cẩn thận một chút.” Cô nói. Chỉ bốn chữ, không thừa một lời.

Lục Vô Sự quay đầu cười với cô. Hai chị em Tô Tiểu Thất và Tô Nhiên ở một vài phương diện giống nhau đến kinh ngạc. Khi Tô Tiểu Thất nói “chú ý an toàn” chưa bao giờ thừa một chữ, khi Tô Nhiên nói “cẩn thận một chút” cũng chưa bao giờ thừa thêm chữ thứ hai. Anh nhẹ nhàng khép cửa văn phòng lại sau lưng. Lò xo ổ khóa khi anh rời đi phát ra một tiếng “cạch” thỏa mãn, như thể cả tòa nhà đều đang nói với anh: “Đi đi.”

### (2) Đánh thẳng vào trà quán

Khi Lục Vô Sự đi ra khỏi đồn công an, sắc trời đã từ vẻ sáng rõ của bốn giờ chiều chuyển sang mờ tối lúc năm giờ rưỡi. Đèn đường còn chưa sáng, nhưng những mảnh ráng chiều lọt qua kẽ lá ngô đồng đã nhuộm mặt đường thành một lớp đỏ cam loang lổ. Anh rẽ vào quán mì bò Anh Béo bên cạnh đồn công an.

Trong quán mì không có nhiều khách. Trong góc có một công nhân đang ngồi ăn mì trộn, bên tay đặt một chiếc mũ bảo hộ phủ đầy vôi trắng. Gần cửa ra vào có một nhân viên giao hàng đang ngồi, vừa dùng đũa khều một bát hoành thánh, vừa dùng điện thoại đặt hàng trong một nhóm mua chung nào đó. Vương Béo đứng sau quầy, dùng một chiếc giẻ ướt lau mặt quầy, lau hai phút rồi vẫn còn lau đúng một chỗ, chứng tỏ đầu óc ông ta đang để ở nơi khác.

Tên thật của Vương Béo là Vương Kiến Quốc, nhưng vì nặng hai trăm mười cân, tỉ lệ mỡ cơ thể vượt quá ba mươi lăm phần trăm, nên người cả con phố đều gọi ông ta là Vương Béo. Ông ta chưa bao giờ để bụng chuyện đó, thậm chí còn đổi tên quán thành “Quán Mì Bò Anh Béo”, trên biển hiệu vẽ một con heo hoạt hình cười rạng rỡ. Quán mì đã mở được mười hai năm, tiễn đi hai tiệm trà sữa ở góc phố và ba chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh đối diện, bí quyết đến nay vẫn đứng vững không chỉ là vì mì ngon. Mì ông ta làm chỉ có thể nói là xứng đáng với giá tiền, thứ thật sự khiến quán mì không sập chính là cái miệng của Vương Béo, còn biết phát tán tin tức hơn cả bồ công anh.

Cách thu thập tình báo của Vương Béo hoàn toàn là tự học thành tài. Hắn gọi đó là “phương pháp định vị ba điểm”: điểm thứ nhất là phần mở đầu cuộc trò chuyện nghe được lúc thu tiền ở quầy; điểm thứ hai là đoạn tiếp theo của câu chuyện bắt được khi bưng mì lên bàn; điểm thứ ba là phần cuối cuộc đối thoại khách vẫn chưa nói xong lúc hắn dọn bát. Đối chiếu ba điểm thông tin ấy lại với nhau, hắn ghép thành một bức tranh hoàn chỉnh. Phương pháp này hắn chưa từng học trong bất kỳ khóa học trinh thám nào, hoàn toàn là bản năng vô tình phát triển ra sau mười hai năm ngồi lì trong quán mì. Chính hắn từng có một câu tự đánh giá cực kỳ chuẩn xác về phương pháp luận của mình: “Cảnh sát phá án dựa vào chứng cứ, tôi phá án dựa vào mì.”

“Tiểu Lộc, không, không gọi biệt danh cậu nữa, anh Lục.” Vương Béo vừa lúc Lục Vô Sự ngồi xuống thì đã bưng một bát mì bò đặt lên bàn, bên trên còn cho thêm một nắm hành hoa. Hắn dùng tăm xỉa kẽ răng, mắt nhìn bát mì nhưng lời thì ném sang bên cạnh: “Hôm nay có tin. Tin lớn.”

“Tin gì?”

“Sáng nay có một người làm bán buôn đồ dùng hằng ngày tới ăn mì. Hắn quản kho, kho nằm trong một nhà máy cao su bỏ hoang dưới chân núi Thúy Bình. Hắn nói bảy ngày gần đây, tối nào khoảng mười một giờ cũng có một chiếc xe van chạy qua trước cửa kho của hắn. Xe van đã được cải tạo, thùng xe bị phủ kín mít bằng vải đen, kính chắn gió cũng dán một lớp phim tối màu. Xe van không có biển số, nên nói đúng hơn là biển số bị bùn trát kín, nhưng trát rất có quy luật, không giống vô tình chạy vào hố bùn rồi bị bẩn, mà giống như cố ý quét bùn lên theo một độ dày nhất định.”

“Trong thùng xe có nhìn thấy gì không?”

“Hắn từng nhìn từ xa một lần nhưng không rõ. Tối hôm kia, hắn thức đến mười hai giờ, cố ý nấp sau cửa kho chờ chiếc xe đó. Xe dừng ở một ngã rẽ cách kho của hắn khoảng ba mươi mét, dừng chừng hai phút. Trong hai phút ấy, hắn nghe thấy trong thùng xe truyền ra tiếng kim loại va chạm rất nặng nề, không giống tiếng hàng hóa bình thường va đập vào nhau, mà giống tiếng xích sắt đập vào lồng sắt. Hắn nói sau khi âm thanh đó kết thúc, cửa thùng xe hé ra một khe, từ trong khe rơi xuống đất một cục màu trắng. Sau đó hắn chờ xe đi rồi mới nhặt lên xem, là một cuộn gạc y tế, trên gạc dính vết thuốc màu nâu, ngửi lên giống mùi hỗn hợp giữa thuốc Đông y và cồn.”

“An Hồn Thang.” Lục Vô Sự đặt đũa xuống, vẻ mặt trầm xuống. An Hồn Thang là loại thuốc nước chuyên dụng của tổ chức Ám Ảnh, được sắc từ bốn vị thuốc hoàng bá, toan táo nhân, viễn chí, hợp hoan bì theo tỉ lệ đặc biệt. Sau khi ép người sống uống vào, nó có thể khiến người đó hôn mê sâu suốt mười hai tiếng, trong thời gian hôn mê, hồn phách ở trạng thái nửa ly thể, cực kỳ dễ bị thuật kéo hồn trực tiếp rút ra khỏi cơ thể. Lần đầu tiên Thôi Giác giải thích loại thuốc này cho anh, ông dùng một cách ví von: “Thuốc mê khiến thân thể ngủ, An Hồn Thang khiến cả hồn phách cũng ngủ.”

Vương Béo nghe thấy ba chữ này cũng thu lại vẻ cười cợt thường ngày. Hắn lấy cây tăm khỏi miệng, đặt cạnh ống đựng tăm trên bàn. Ống đựng tăm làm bằng nhựa, trên thân in logo con heo hoạt hình của quán mì bò Anh Béo.

“Còn nữa.” Anh ta ghé lại gần, hạ giọng xuống một nấc, hơi thở sặc mùi thịt heo phả vào bên má Lục Vô Sự. “Anh ấy nói ở góc dưới bên phải tấm chắn sau của chiếc xe tải nhỏ có dán một miếng tem nhãn màu vàng, trên nhãn in ba chữ kiểu lệ thư: Thanh Tâm Đường. Thanh Tâm Đường với quán trà Thanh Tâm ở ngõ Liễu Ấm có phải là một không?”

“Có thể xác nhận là một. Thanh Tâm Đường là tên gọi tắt của pháp nhân công ty đứng sau quán trà. Tên đầy đủ đăng ký kinh doanh của quán trà là ‘Công ty TNHH Văn hóa Trà Thanh Tâm Đường Giang Thành’. Người đại diện pháp luật họ Hồ, mọi người gọi là Hồ Béo, đồng nghiệp của anh đấy.”

“Tôi với hắn không phải đồng nghiệp. Hắn nặng hai trăm bốn mươi cân, hơn tôi ba mươi cân.” Vương Béo nói câu này vô cùng nghiêm túc, cứ như việc nhiều hơn ba mươi cân thịt là một sự sỉ nhục nghiêm trọng.

Lục Vô Sự đứng dậy gói mì mang đi. Tối nay anh phải đến ngõ Liễu Ấm dò xét kho sau của quán trà Thanh Tâm, mì sẽ ăn trên đường. Vương Béo giúp anh đậy nắp hộp mang đi cho kín, rồi móc từ túi tạp dề ra một chiếc chìa khóa đặt lên bàn.

“Chìa khóa kho. Anh bạn làm bán buôn đó đưa chìa khóa dự phòng cho tôi. Anh ấy nói cậu có thể tùy ý dùng, cửa sau của kho nhìn thẳng về hướng đường núi Thúy Bình, ngồi rình bên trong có thể quan sát tình hình cả con đường. Ngoài ra” anh ta lại móc từ túi bên kia của tạp dề ra một tờ giấy nháp được gấp vuông vức, trên đó dùng bút bi vẽ nguệch ngoạc một tấm sơ đồ, “từ chân núi Thúy Bình đến kho của nhà máy cao su, trên con đường này tổng cộng có bốn ngã rẽ. Chiếc xe tải nhỏ ở mỗi ngã rẽ đều sẽ giảm tốc đến gần như dừng hẳn, có lẽ là để xác nhận phía sau có xe nào bám theo hay không. Anh ấy đã đánh dấu hết những điểm giảm tốc trên sơ đồ rồi, chỗ vẽ hình tam giác chính là điểm giảm tốc.”

Lục Vô Sự nhận lấy chìa khóa và sơ đồ. Những chi tiết Vương Béo sắp xếp còn chu đáo hơn anh tưởng. Ông chủ quán mì này bình thường cười cợt xuề xòa chẳng ra dáng gì, nhưng trong chuyện thu thập tình báo lại chuyên nghiệp hơn bất kỳ cảnh sát hình sự nào. Thứ anh ta thiếu chỉ là một thân phận chấp pháp chính thức. Lục Vô Sự thầm đặt cho anh ta biệt danh mới là “Cục trưởng Cục Tình báo Mì bò”, biệt danh này chưa nói ra, nhưng chắc chắn sẽ được thực hiện dưới một hình thức nào đó trong một vụ án nào đó ở tương lai.

Khi Lục Vô Sự quay về văn phòng, trời đã tối hẳn. Anh ăn hết phần mì trong hộp mang đi, uống nửa cốc nước đun sôi để nguội, rồi lật Âm Đức Bảo Điển đến nội dung mới vừa được mở khóa gần đây. Giao diện màu vàng của bảo điển tỏa ra ánh sáng ấm áp yếu ớt trong văn phòng mờ tối, thứ ánh sáng ấy nhuộm gáy những cuốn sách cũ trên giá thành một màu vàng cổ nhàn nhạt.

Bảo điển bật ra một mô-đun kỹ năng hoàn toàn mới: “Thuật truy tung người chết”.

Kỹ năng mô tả chậm rãi hiện ra trên giao diện: Thuật Truy Tung Vong Giả là kỹ năng phóng thích năng lượng âm đức của thông linh giả ra ngoài thành một loại sóng xung kích phạm vi. Nếu trong phạm vi sóng xung kích bao phủ tồn tại tín hiệu hồn phách của vong giả hoặc chuẩn vong giả, sóng sẽ phản hồi lại một đoạn thông tin định vị giống như sóng sonar. Thông tin bao gồm trạng thái hồn phách, khoảng cách và phương vị. Bán kính bao phủ phụ thuộc vào cấp bậc tu vi của thông linh giả, cấp hiện tại là cấp bốn, bán kính bao phủ khoảng năm trăm mét. Mỗi lần phóng thích tiêu hao năm mươi điểm âm đức, giới hạn mỗi ngày mười lần, vượt quá giới hạn sẽ khiến kinh mạch âm đức của người thi pháp quá tải, rơi vào trạng thái suy yếu kéo dài ba ngày.

Lục Vô Sự kéo rèm cửa lại, chỉ chừa một khe hở, đứng giữa văn phòng, hai tay buông thõng, nhắm mắt. Anh điều chỉnh hơi thở thành kiểu thở chậm ba nhịp: hít vào bốn giây, nín thở hai giây, thở ra sáu giây, đây là quy trình hô hấp tiêu chuẩn để thông linh giả tiến vào trạng thái truy tung. Sau nhịp thở ba đoạn, anh tập trung chú ý vào lõi âm đức ở vị trí đan điền, rút từ trong lõi ra một sợi năng lượng mảnh như tơ tằm, men theo kinh lạc trong cơ thể đi qua huyệt Đản Trung, huyệt Thiên Đột, huyệt Kiên Ngung ở vai phải, cuối cùng đến vị trí hổ khẩu trong lòng bàn tay phải.

Năng lượng tụ lại ở hổ khẩu hình thành một vòng xoáy năng lượng nho nhỏ trong lòng bàn tay. Nhiệt độ của vòng xoáy thấp hơn thân nhiệt khoảng một độ, giống như áp lòng bàn tay lên một chiếc cốc thủy tinh vừa lấy ra khỏi ngăn mát tủ lạnh. Anh dùng ý niệm đẩy vòng xoáy từ chính giữa lòng bàn tay ra ngoài. Khoảnh khắc rời khỏi tay, vòng xoáy mở rộng thành một làn sóng xung kích hình vòng. Sóng xung kích lấy anh làm tâm điểm khuếch tán ra ngoài, bán kính tăng lên từng chút một: một mét, hai mét, ba mét, năm mét, mười mét, hai mươi mét, năm mươi mét, một trăm mét, hai trăm mét, năm trăm mét.

Đến năm trăm mét, sóng xung kích đụng vào bức tường giới hạn rồi phản hồi trở lại, dạng sóng bật về mang theo tín hiệu định vị. Trong tín hiệu bao gồm đặc trưng tần suất của mười hai hồn phách vong giả, trong đó mười một cái thuộc về những vong giả bình thường đã kết án, tần suất của họ ổn định và nằm trong khu vực đăng ký hợp pháp của âm gian. Tần suất còn lại đến từ hướng ghế sofa trong văn phòng anh: Tô Nhiên.

Tín hiệu hồn phách của Tô Nhiên phản hồi rất ổn định, giá trị âm đức đã khôi phục đến gần hai trăm, độ ổn định hồn phách tăng từ bảy mươi tư phần trăm trước đó lên tám mươi phần trăm. Tàn phách của cô trong quá trình ngưng tụ thành hồn phách hoàn chỉnh đã vượt qua giai đoạn phân tán nguy hiểm nhất, tiếp theo chỉ cần bổ sung âm đức hằng ngày là có thể giữ an toàn.

Sau khi Lục Vô Sự xác nhận tín hiệu của Tô Nhiên không có vấn đề, anh đổi hướng sóng truy tung từ phía bên trong văn phòng sang phía đường phố. Anh đẩy sóng xung kích qua khe cửa sổ về hướng đông nam, nhắm thẳng vào khu vực từ hẻm Liễu Ấm đến núi Thúy Bình. Tín hiệu phản hồi từ làn sóng xung kích đầu tiên cho thấy: cách khoảng bốn trăm mét có một chiếc xe tải chạy chậm đang di chuyển, trên xe chở mười bảy người sống. Tần suất hồn phách của mười bảy người sống này hơi khác với người bình thường, đường cơ sở của tần suất bị một loại ngoại lực ép xuống khoảng hai mươi phần trăm. Ngoại lực ép thấp tần suất hồn phách chính là Canh An Hồn.

Dược hiệu của canh an hồn kéo dài trạng thái “nhập định” của hồn phách, khiến tần số dao động của hồn phách giảm từ mức bình thường mười đến mười lăm hertz xuống còn khoảng ba đến năm hertz. Hertz càng thấp, thuật kéo hồn càng dễ rút toàn bộ hồn phách ra khỏi màng ngăn của cơ thể. Anh gửi dữ liệu tần số này cho Thôi Giác theo thời gian thực. Thôi Giác nhắn lại xác nhận lộ trình của xe tải:

“Phân tích lộ trình: Xuất phát từ đoạn giữa hẻm Liễu Ấm, đi lên theo đường núi Thúy Bình, dự kiến ba mươi phút sau đến khu nhà máy bỏ hoang ở lưng chừng núi. Khu nhà máy có trạm tiếp nhận của tổ chức Ám Ảnh. Nếu anh muốn chặn người trên xe, bắt buộc phải ra tay trước khi xe tải tiến vào trạm tiếp nhận. Bên ngoài trạm tiếp nhận đã bố trí trận pháp che chắn tà thuật, sau khi trận che chắn khởi động, chi viện từ phía âm phủ không thể xuyên qua kết giới để can thiệp. Đề nghị của tôi là: trước thứ Sáu hãy đi phá hủy pháp khí cốt lõi của trận che chắn trước, sau đó thứ Sáu phối hợp với Tô Tiểu Thất hành động, trực tiếp quét sạch cứ điểm dưới lòng đất của quán trà. Hai mũi cùng tiến là ổn thỏa nhất.”

Lục Vô Sự trả lời một tin nhắn xác nhận, rồi tiếp tục luyện tập định vị chính xác bằng thuật truy tung dựa trên sơ đồ mặt bằng quán trà Thanh Tâm mà Tô Tiểu Thất gửi tới. Anh mài giũa độ chính xác của sóng truy tung từ “cấp khu vực” lên đến “cấp phòng”, không chỉ có thể phân biệt sự khác nhau giữa sảnh trước và bếp sau của quán trà, mà còn có thể nhận ra tầng ngầm sâu dưới bếp sau đại khái sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu, nối với bao nhiêu lối ra. Vị trí tầng hầm đúng như anh suy đoán: nằm ngay bên dưới kho hàng phía sau quán trà, độ sâu khoảng bốn mét, diện tích chừng hai trăm mét vuông, nối với ba đường hầm phòng không dự phòng theo ba hướng khác nhau. Ba đường hầm lần lượt dẫn tới mương thoát nước phía nam hẻm Liễu Ấm, công sự phòng không dưới lòng đất của nhà máy dệt bỏ hoang, và một giếng đá ngụy trang ở lưng chừng núi Thúy Bình. Miệng giếng là một giếng đứng, lớp trên của tấm nắp ngụy trang ở miệng giếng phủ rêu còn mới đến tám phần.

Anh chỉnh lý tọa độ thành bảng rồi gửi cho Tô Tiểu Thất. Tô Tiểu Thất trả lời hai chữ: “Đã nhận.”

Tám giờ sáng thứ Sáu, Tô Tiểu Thất gửi tới một bản phác thảo triển khai hành động tại quán trà Thanh Tâm mà cô chụp bằng điện thoại. Trên bản phác thảo vẽ hai vòng vây ngoài và trong: vòng ngoài do cảnh sát canh giữ lối ra trước sau của quán trà và lối đi trong hẻm bên; vòng trong do chính cô dẫn đội lấy danh nghĩa kiểm tra phòng cháy chữa cháy để tiến vào khu vực kinh doanh của quán trà. Lục Vô Sự dùng thân phận thám tử dân gian làm ngoại viện, nhiệm vụ chính là theo dõi quầy bar, chú ý bất kỳ lối ra bí mật nào, đồng thời dùng cảm tri thông linh để giúp Tô Tiểu Thất nhắc vị trí tầng hầm theo thời gian thực.

Cô đính kèm thêm một lời cảnh báo: tổ chức Ám Ảnh có thể đã bố trí bẫy năng lượng chuyên dùng để đối phó với người thông linh trong lối vào tầng hầm. Cái bẫy này vô hiệu với người không thông linh, nhưng sẽ khiến lõi âm đức của người thông linh bị chập trong thời gian ngắn. Trong thời gian chập, người thông linh sẽ tạm thời mất khả năng hành động, kéo dài khoảng hai mươi phút. Hơn hai mươi phút đủ để đối phương trói anh lại, nhét vào cốp xe rồi chở lên núi. Vì vậy nếu anh phát hiện tầng hầm, đừng tự xông vào trước, chờ tôi dẫn người cùng tiến vào.

Sau khi gửi lại một đoạn xác nhận mà anh cho là đã rất ngắn gọn, Lục Vô Sự ra khỏi nhà. Lúc anh ra cửa, Tô Nhiên từ ghế sofa bay lên. Hồn phách của cô vào ban ngày hiện hình rất mờ, đường nét giống như độ sáng của ngọn lửa que diêm quẹt lên dưới ánh mặt trời, nhưng giọng nói đã rõ hơn trước rất nhiều.

“Cẩn thận một chút.”

Lục Vô Sự quay đầu cười với cô. Hồn phách của Tô Tiểu Thất đã chồng lên khuôn mặt Tô Tiểu Thất, ít nhất hai chị em này trong chuyện quan tâm đến anh thì nhịp điệu rất thống nhất.

Mặt tiền của quán trà Thanh Tâm nằm ở đoạn giữa ngõ Liễu Ấm, có mái cửa bằng gỗ đỏ chạm hoa, hai bên cột cửa mỗi bên treo một vế câu đối viết theo lối hành khải. Vế trên là “Một chén trà trong gột sạch bụi trần ưu tư”, vế dưới là “Nửa nén tâm hương thông linh căn”. Khi Lục Vô Sự đọc xong vế dưới thì nhận ra: nửa sau của câu đối, “thông linh căn”, hoàn toàn chẳng ăn nhập gì với việc buôn bán trà lá ngoài mặt của quán trà, càng giống như một ám hiệu của tổ chức Ám Ảnh dành cho kênh liên lạc nội bộ của các thông linh giả. Loại ám hiệu này giấu ngay giữa thanh thiên bạch nhật, người bình thường đi ngang qua nhìn một trăm lần cũng sẽ không thấy có vấn đề gì.

Tô Tiểu Thất dẫn theo ba cảnh viên đi vào từ cửa chính quán trà. Cô mặc thường phục, quần dài màu đen phối với áo sơ mi trắng, bên hông đeo bộ đàm. Sau khi vào cửa, câu đầu tiên cô nói là với ông chủ quán: “Kiểm tra thiết bị phòng cháy. Hướng phòng kho phía sau quầy, bình chữa cháy đặt ở vị trí nào?”

Ông chủ họ Tiền, khoảng bốn mươi lăm tuổi, giữ gìn rất tốt, tóc chải ngược ra sau rất chỉnh tề, đeo một cặp kính lão gọng vàng. Nụ cười của ông ta rất chuyên nghiệp, giống như quản lý sảnh khách sạn, khi trả lời câu hỏi của Tô Tiểu Thất, giọng nói ổn định như thể từng chữ đều được trích ra từ một cuốn giáo trình huấn luyện.

“Bình chữa cháy ở trên tường phía nam phòng kho, vừa thay vào ngày mười tám tháng trước. Ở đây có biên bản nghiệm thu phòng cháy và ghi chép thời hạn sử dụng thiết bị, dấu của đội phòng cháy chữa cháy đã đóng trên hồ sơ.” Chưởng quầy Tiền lấy ra một tập hồ sơ màu xanh từ dưới quầy bar, mở ra, bên trong kẹp ngay ngắn ba trang ghi chép, mỗi trang đều có con dấu xanh của cơ quan phòng cháy chữa cháy. Hồ sơ là thật, dấu cũng là thật, ngày tháng và số hiệu đều khớp.

Tô Tiểu Thất nhận lấy hồ sơ, lật hai trang. Động tác lật trang của cô rất tùy ý, nhưng ánh mắt không rời khỏi mặt chưởng quầy Tiền. Cô đang quan sát biểu cảm vi mô trên lông mày của ông ta lúc lật trang. Lão K từng nói một câu khi thẩm vấn: “Tổ chức Ám Ảnh dạy mỗi nhân viên tiếp xúc kỹ năng chống thẩm vấn, trong đó câu cốt lõi nhất là ‘đừng để lông mày bán đứng mình’. Người bình thường khi căng thẳng lông mày sẽ nhướng lên, nhân viên tiếp xúc đã qua huấn luyện có thể khống chế lông mày không động, nhưng không khống chế được độ lệch thời gian giữa lông mày và khóe miệng xuất hiện trong vòng không phẩy ba giây.”

Tô Tiểu Thất bắt được độ lệch thời gian này khi chưởng quầy Tiền lật đến trang thứ hai. Khóe miệng ông ta rất ổn định khi nói ra câu “nhà kho phía sau là phòng chứa đồ linh tinh”, nhưng phần đuôi lông mày trái đã khẽ giật một cái vào thời điểm không phẩy ba giây trước khi từ ngữ nơi khóe miệng thốt ra.

“Phòng chứa đồ có thể xem một chút không?”

“Đương nhiên là được.” Chưởng quầy Tiền đi phía trước, bước chân rất chậm mà vững. Nhưng Lục Vô Sự bắt được trị số âm đức của ông ta ngay trong khoảnh khắc nói ra bốn chữ “đương nhiên là được” đã xuất hiện một dao động rất nhỏ, khoảng hai đến ba đơn vị. Biên độ dao động này cực thấp, kéo dài chưa đến một nhịp thở, nhưng cũng đủ để hắn xác định: hướng phòng chứa đồ có lối vào đường hầm ngầm.

Khi chưởng quầy Tiền đi đến sau quầy bar, ngón trỏ và ngón giữa tay phải của ông ta như vô tình sờ một cái vào mặt dưới của quầy. Vị trí ngón tay vừa khéo là một tấm ván trang trí ngụy trang có thể tháo động. Mặt sau tấm ván nối với công tắc điều khiển khóa đóng lối vào cầu thang xuống tầng hầm. Công tắc này là phòng tuyến cuối cùng của ông ta: chỉ cần nhấn xuống, cửa thép ở lối vào tầng hầm sẽ khóa chết từ bên trong, người bên ngoài dù tìm thấy cửa cũng không đẩy ra được.

Nhưng Lục Vô Sự đã sớm dùng cảm tri thông linh khóa chặt kết cấu khóa phía sau cánh cửa đó. Hai giây trước khi ngón tay của chưởng quầy Tiền chạm vào tấm ván trang trí, hắn lấy từ trong túi vải ra một miếng cấm phù bằng đồng. Cấm phù hình chữ nhật, dài bốn xăng-ti-mét, rộng hai xăng-ti-mét, trên bề mặt khắc một chữ “Trấn” viết ngược. Hắn búng cấm phù ra khỏi đầu ngón tay, cấm phù vạch một đường parabol ngắn trong không trung, chuẩn xác dán lên đầu tiếp nhận của bộ khóa phía sau bức tường gương. Chữ “Trấn” trên cấm phù trong khoảnh khắc chạm vào đầu tiếp nhận phát ra một tia sáng vàng gần như không thể nhìn thấy, tia sáng vàng chặn đứng đường truyền năng lượng của bộ khóa. Khi chưởng quầy Tiền nhấn tấm ván trang trí xuống, bánh răng của bộ khóa quay không hai vòng, nhưng chốt khóa vì trước khi năng lượng bị cắt đã bị cấm phù kẹt cứng vị trí lò xo nên đứng yên tại chỗ. Cửa không khóa.

Khi Tô Tiểu Thất đi ngang qua cửa phòng chứa đồ, cô liếc Lục Vô Sự một cái. Ánh mắt ấy có nghĩa là: tầng hầm giao cho anh, bên trên để tôi kéo chân. Sau khi Lục Vô Sự nhận được tín hiệu, hắn dùng bốn giây vòng từ bên hông phòng chứa đồ ra sau tấm gương. Hắn đẩy cánh cửa ngụy trang đó ra, sau cửa là một cầu thang cực kỳ chật hẹp. Mỗi bậc thang chỉ rộng chừng hai mươi lăm xăng-ti-mét, lòng bàn chân chỉ giẫm được nửa bàn chân phía trước. Tường là tường gạch mới màu xám, bề mặt gạch được phun một lớp sơn giả cổ pha từ tro than và nước.

Hắn áp sát tường, nghiêng người đi xuống từng bậc một. Cầu thang đi được mười hai bậc thì đến một chiếu nghỉ, trước chiếu nghỉ là một cánh cửa tôn. Hắn chậm rãi đẩy cánh cửa tôn hé ra một khe nhỏ, xuyên qua khe hở nhìn thấy trong tầng hầm có hai thanh niên mặc áo thun đen đang ngồi, một tên đầu trọc, một tên tóc húi cua. Hai người đang ngồi trước một chiếc bàn nhỏ đánh bài, trên bàn còn có hai lon bia đã mở và một bát lạc ăn dở. Tên đầu trọc tay trái kẹp một lá bài, tai phải đeo một chiếc tai nghe Bluetooth, đèn báo trên tai nghe sáng màu xanh lá, chứng tỏ kênh liên lạc với tổng bộ hiện đang thông suốt.

Anh bắt buộc phải khiến tên đầu trọc mất ý thức trước khi hắn kịp nhấn nút liên lạc trên tai nghe. Anh dùng tay trái sờ trong túi, chạm vào một gói bột an hồn nhỏ. Thứ này có hiệu quả rất tốt với người sống, nhưng vô dụng với người thông linh. Sau đó anh xé một góc nhỏ của chiếc túi, dùng ngón tay kẹp ra khoảng ba gam bột. Bột có màu vàng nhạt, ngửi lên có mùi đàn hương. Anh đỡ bột trong lòng bàn tay phải, đưa lên bên miệng, rồi thổi mạnh một hơi qua khe cửa.

Luồng khí cuốn bột an hồn theo khe cửa xộc vào tầng hầm. Bột khuếch tán trong không trung thành một lớp màn bụi còn mịn hơn cả bột mì. Khi lớp bụi bay đến trước mặt tên đầu trọc và tên tóc húi cua, nó dừng lại chừng một giây, sau đó bị luồng khí hít vào khi hai người hô hấp cuốn vào khoang mũi. Sau khi bột an hồn đi vào đường hô hấp, nó nhanh chóng hòa tan trên vách phế nang, thành phần dược hiệu trong vòng ba giây đi qua tĩnh mạch phổi vào tim, rồi được bơm lên động mạch cảnh, cuối cùng đến vỏ não. Mí mắt của hai người gần như đồng thời sụp xuống, đầu nghiêng sang một bên, thân thể trượt khỏi ghế rơi xuống đất. Đèn báo màu xanh lá sáng rực trên tai nghe bluetooth nhấp nháy hai lần khi chủ nhân ngã xuống rồi tắt, chứng tỏ đầu bên kia từng gọi tới nhưng không có ai đáp lại. Khả năng cao là bên kia đã nhận ra có điều bất thường.

Lục Vô Sự bắt buộc phải tranh thủ từng giây từng phút. Anh đẩy cửa sắt bước vào tầng hầm, xuyên qua phòng trực rồi tiến vào lối đi chính. Lối đi chính là một hành lang bê tông dài khoảng hai mươi mét, phía trên vách hành lang cứ cách ba mét lại có một bóng đèn huỳnh quang công suất thấp. Ánh đèn xám xịt như buổi chiều trong ngày sương mù. Hai bên hành lang phân bố mười gian phòng nhỏ, mỗi gian đều lắp một cánh cửa sắt, trên cửa có một ô quan sát lớn cỡ bàn tay.

Anh đi đến trước gian phòng đầu tiên, nhìn vào trong qua ô quan sát. Trong gian phòng là một chiếc giường ván đơn sơ, trên giường có một người đang nằm. Đó là một phụ nữ trung niên mặc váy hoa, khoảng bốn mươi tuổi, mắt nhắm nghiền, môi trắng bệch, khóe miệng có một vòng vết thuốc màu trắng đã khô. Giữa ngón cái và ngón trỏ của bà ta kẹp một ống tiêm canh an hồn rỗng, cần đẩy của ống tiêm đã bị đẩy xuống tận đáy, canh an hồn đã tuần hoàn xong trong cơ thể bà ta. Ngực bụng bà ta vẫn phập phồng, hơi thở rất nông nhưng đều đặn, chứng tỏ người vẫn còn sống. Tần suất hồn phách bị ép xuống rất thấp, chỉ còn khoảng hai mươi phần trăm so với người bình thường.

Anh tiếp tục kiểm tra từng gian phòng một. Trong các gian phòng nhốt những người khác nhau về độ tuổi, giới tính: có học sinh trung học mặc đồng phục, có công nhân xây dựng mặc đồ bảo hộ, có thanh niên lao động nhập cư đeo ba lô hai quai, còn có một bà cụ tóc bạc hoa râm, trước khi bị ép uống canh an hồn, có lẽ tay bà vẫn đang nắm ví tiền. Lục Vô Sự đếm hết mười gian phòng, tổng cộng có mười bảy người sống. Hồn phách của cả mười bảy người đều bị canh an hồn áp chế xuống dưới ngưỡng giới hạn bán thoát ly.

Mười bảy người, nhất định phải chuyển đi trước khi xe tải tới. Anh cắn chặt dấu đồng tiền trên đầu lưỡi, niệm chú chuyển đổi âm dương. Cảm giác của thân thể trong chớp mắt đã chuyển từ không gian chật hẹp dưới tầng hầm sang con phố lớn nơi âm phủ.

Hôm nay âm phủ rất yên tĩnh, văn phòng môi giới đầu thai đã đóng cửa, trước cửa dán một tờ thông báo kiểm tra vệ sinh do điện Tần Quảng Vương ban hành. Dưới gốc cây hồng lớn, Hắc Bạch Vô Thường đang ngồi trước một chiếc bàn gỗ nhỏ chơi cờ tướng. Bàn cờ là loại bàn gỗ hoa lê kiểu cũ, quân cờ làm bằng xương, mặt khắc chữ, lớp sơn đen bên trên đã bị mài đến hơi bóng lên qua vô số ván cờ.

Hắc Vô Thường Tạ Tất An kẹp một quân cờ giữa ngón tay phải, treo lơ lửng giữa không trung, miệng ngậm một điếu thuốc chưa châm lửa. Bộ áo bào nền trắng viền đen của hắn được giặt rất sạch, nhưng trên đường vai bên phải có một miếng vá. Miếng vá đó là do hắn tự khâu, đường kim xiêu xiêu vẹo vẹo. Bạch Vô Thường Phạm Vô Cứu đặt một tay lên mép bàn cờ, tay kia cầm một chiếc chén rượu rỗng, lật qua lật lại nhìn, như thể có thể tìm thấy chút hương rượu còn sót lại dưới đáy chén.

Lục Vô Sự bước nhanh tới, đặt chai Ngưu Lan Sơn Nhị Oa Đầu sáu mươi hai độ lấy từ quán mì của Vương béo lên mặt bàn cạnh bàn cờ. Khoảnh khắc chai rượu chạm vào mặt bàn, mắt Phạm Vô Cứu bật phắt sang như tấm ép bị lò xo đánh trúng, nhìn chằm chằm vào nhãn chai rượu.

“Ngưu Lan Sơn à?” Phạm Vô Cứu giơ chai rượu lên trước mắt, xoay qua xoay lại hai vòng, trong mắt lóe lên thứ ánh sáng của con sâu rượu nhìn thấy thuốc giải. “Bao bì cũ loại sáu mươi hai độ, bản này giờ ngừng sản xuất rồi, cậu kiếm ở đâu ra vậy?”

“Lấy ở quán mì bò của bạn tôi. Anh Hắc, anh Bạch, giúp tôi chạy một chuyến lên dương gian. Dưới tầng hầm quán trà Thanh Tâm đang nhốt mười bảy người sống bị đổ canh An Hồn. Tôi cần hai anh dùng Truy Hồn Tỏa chuyển họ tới khu vực an toàn phía sau đồn công an phía tây thành phố. Một mình tôi không khiêng nổi.”

Phạm Vô Cứu vừa nghe đến “mười bảy người” đã vặn nắp chai rượu, ngửa đầu uống một ngụm lớn. Khi rượu trắng trôi xuống cổ họng, yết hầu của hắn nhấp nhô hai lần. Uống xong, hơi rượu hắn thở ra tạo thành một đám mây hương rượu ngắn ngủi quanh chiếc bàn nhỏ dưới gốc cây hồng. Hắn đặt chai rượu xuống, tháo Truy Hồn Tỏa quấn bên hông sau lưng ra. Sợi xích quất một cái trong không khí, phát ra tiếng kim loại xé gió sắc nhọn.

“Mười bảy người, vấn đề không lớn. Nhưng cậu phải bảo đảm với tôi, sau này mỗi lần tới đều mang theo một chai rượu. Chai Nhị Oa Đầu cậu nợ lần trước đến giờ vẫn chưa trả hết, lãi đã chồng lên rồi đấy.”

“Chai Mao Đài lần trước nữa còn chưa tính.” Tạ Tất An hiếm khi mở miệng, hắn đặt quân cờ xuống, trên bàn cờ vừa kết thúc một nước tuyệt sát. Hắn đứng dậy chỉnh lại miếng vá trên vai áo bào đen, cũng tháo sợi Tỏa Hồn Liên quấn trên cánh tay xuống. Hai sợi xích phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo, trầm đục của sắt trong ánh đèn đường yếu ớt nơi âm phủ. Giọng hắn vẫn trầm thấp như mọi khi, như dư âm tiếng sấm đục từ xa lăn trên mặt đất. “Mười bảy người sống chia thế nào? Ta tám, ngươi chín. Nghe ta đếm đến ba thì cùng xuất phát, ai lo buồng nấy.”

Tạ Tất An nói xong liền giơ tay vạch ra một lối thông âm dương. Lối thông là một lớp màng sáng mỏng màu xám, nửa trong suốt; một bên của màng sáng nối với nền đá trên con phố lớn dưới âm gian, bên kia nối với hành lang xi măng trong tầng hầm quán trà Thanh Tâm. Xuyên qua màng sáng có thể nhìn thấy lõi khóa trên cửa sắt của các buồng ngăn. Tạ Tất An đếm đến ba, hai người đồng thời vung xích xuyên qua màng sáng. Ở phía dương gian, sợi xích như những con rắn có sinh mệnh, tách thành mười bảy sợi xích độc lập, mỗi sợi đều chuẩn xác cắm vào thanh lẫy ổ khóa của cửa sắt buồng ngăn. Thanh lẫy bị cưỡng ép xoay tròn, chốt kim loại bật mở, cửa sắt của mười buồng ngăn đồng loạt mở ra, tiếng lò xo bung lỏng cộng hưởng trong không gian chật hẹp của tầng hầm thành một âm vang vo vo.

Xích của Phạm Vô Cứu lập tức theo sát phía sau. Xích của hắn hóa thành những cáng mềm dạng một người, chuẩn xác quấn quanh cổ tay và cổ chân của những nạn nhân bị gây mê, từ bên dưới cơ thể tạo thành một mặt đỡ lơ lửng, nâng cả người họ rời khỏi ván giường. Trong quá trình vận chuyển, đốt sống cổ và đốt sống thắt lưng của người được chuyển luôn giữ ở vị trí trung lập, không gây ra tổn thương thứ cấp do góc vận chuyển không phù hợp. Phạm Vô Cứu đã sớm luyện được bộ “phương pháp vận chuyển bảo vệ cột sống an toàn” này qua vô số nhiệm vụ chuyển thương binh ở U Minh giới. Trong miệng hắn vẫn còn ngậm chai rượu, vừa uống vừa điều khiển xích, độ chính xác của xích không hề giảm chút nào.

Toàn bộ quá trình vận chuyển mười bảy người mất không quá bốn mươi giây. Bốn mươi giây sau, mười bảy người sống đang hôn mê vì bị đổ canh An Hồn đã được xích của Hắc Bạch Vô Thường chuyển từ tầng hầm dương gian xuyên qua màng sáng tới một bãi đất trống cạnh dải cây xanh phía sau đồn công an phía tây thành phố. Tạ Tất An dán tại điểm tiếp nhận một tờ “phiếu tiếp nhận sự cố” theo mẫu tiêu chuẩn của âm gian. Trên phiếu ghi rõ tình trạng âm đức hiện tại của mười bảy người và thời gian dự kiến tỉnh lại, còn thêm một dòng chú thích: Mười bảy người này được bảo lưu quyền xin viện trợ pháp lý âm gian đối với hành vi giam giữ phi pháp của tổ chức Bóng Tối.

Hoàn tất vận chuyển xong, Phạm Vô Cứu uống cạn ngụm rượu cuối cùng trong chai, thỏa mãn bỏ chai rỗng vào túi áo bào vải đen, ợ một tiếng. Mùi rượu trong hơi ợ ấy lơ lửng trong không khí âm gian vài giây.

“Rượu không tệ. Lần sau nếu mang Mao Đài, ta có thể giúp ngươi chạy thêm vài chuyến.”

“Tôi nhớ câu này rồi.” Lục Vô Sự nói xong liền cắn đồng tiền trở về dương gian.

Sau khi quay lại tầng hầm, anh xác nhận toàn bộ các buồng ngăn đã được dọn trống, rồi ghi lại lối vào đường hầm phòng không thông tới núi Thúy Bình và gửi cho Tô Tiểu Thất. Tô Tiểu Thất ở trên lầu nhận được tín hiệu lập tức gọi chi viện. Cảnh sát chi viện trong vòng hai phút đã tới quán trà, phong tỏa toàn bộ lối ra. Vào khoảnh khắc cuối cùng, Tiền chưởng quầy định thò tay xuống dưới quầy bar lấy dụng cụ nuốt hồn, thì bị một cảnh sát xịt thẳng hơi cay vào mặt. Sau khi bị xịt, cả người ông ta khom lưng, ôm hai mắt ngồi xổm phía sau quầy bar, ho không ngừng.

Việc dọn dẹp hiện trường kéo dài gần hai tiếng. Trong lối đi của hầm phòng không, họ lục soát được danh sách hội viên, thiết bị điều chế canh an hồn, bán thành phẩm pháp khí phong hồn, cùng một loạt phiếu vận chuyển dẫn vào sâu trong núi Thúy Bình, nơi có hang ổ của tổ chức Ám Ảnh. Ở mục chữ ký người nhận trên phiếu vận chuyển xuất hiện chữ ký của Trịnh Vĩ Minh; sau khi dùng mực kiểm nghiệm âm gian kiểm tra, xác nhận đúng là nét mực vân tay thật của hắn.

Khi tấm biển hiệu của quán trà Thanh Tâm được tháo xuống, Lục Vô Sự nhìn hai chữ “Thanh Tâm” trên tấm biển gỗ lim chạm hoa ấy, chợt nhớ lại câu nói của bà Vương khi lần đầu tới điều tra: “Cửa sau quán trà này thường có xe tải nhỏ đỗ vào ban đêm, tiếng trong thùng xe nghe không giống chở hàng.” Bà Vương nói đúng, thứ được chở trong thùng xe quả thực không phải hàng.

Mà là người.

Còn chuyến đi tiếp theo của chiếc xe tải ấy trong đêm nay, đã vĩnh viễn bị gạch bỏ khỏi bản đồ.

Chương khác

Xem thêm