TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 148: Tên Trong Sổ Đồng Khánh
Mưa Huế sáng nay ngớt hạt nhưng trời vẫn âm u, hơi nước bốc lên từ mặt đường nhựa nóng hầm hập. Khánh dắt chiếc Cub cũ của tiệm ra sát ngõ kiệt, tiếng…
Nội dung chương
Mưa Huế sáng nay ngớt hạt nhưng trời vẫn âm u, hơi nước bốc lên từ mặt đường nhựa nóng hầm hập. Khánh dắt chiếc Cub cũ của tiệm ra sát ngõ kiệt, tiếng xích xe khô khốc va vào hộp xích nghe rột roạt. Hắn lấy tay gạt những giọt nước mưa còn đọng trên yên xe, quay sang bảo Quang và Bồi:
- Đi nhanh kẻo trưa nắng lên lại mệt. Bồi, mi ngồi giữa ôm chặt cái túi vải nghe con.
Bồi gật đầu, hai tay ôm khư khư cái túi vải đựng chai nước phép đã được Khánh niêm bằng chỉ đỏ. Thằng bé im lặng từ lúc bước ra khỏi tiệm, mắt cứ nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt.
Quang trèo lên yên sau, tay giữ chiếc hộp gỗ thông nhỏ đựng chiếc nón vật chứng. Chiếc xe Cub nổ máy giòn giã, nhả một làn khói xanh nhạt vào bầu không khí ẩm ướt của buổi sớm Bao Vinh. Xe từ từ lăn bánh hướng về phía trường Hai Bà Trưng, ngôi trường mà người Huế xưa vẫn quen gọi bằng cái tên Đồng Khánh.
Con đường dọc bờ sông Hương vắng vẻ, nước sông sau trận mưa đêm qua đục ngầu phù sa, chảy xiết qua những chân cầu sắt. Quang ngồi phía sau nói vọng lên:
- Tui đã liên hệ được với o liên lạc bên hội cựu học sinh Đồng Khánh. O ấy hứa sẽ dẫn mình vào kho tư liệu cũ của trường. Nhưng việc này phải làm nhanh, hồ sơ từ trước năm bảy lăm lưu trữ không được ngăn nắp đâu, tìm mệt lắm đó.
Khánh không ngoảnh đầu lại, chỉ đáp lớn qua tiếng gió:
- Tìm được cái tên Trần Mai Trang là có đầu mối. Tui muốn biết cô ấy là ai mà lại viết tên Tích lên vành nón bằng máu.
Họ đến trường khi tiếng chuông báo giờ ra chơi của học sinh vang lên rộn rã. O quản thủ thư viện tên Nhàn, một người đàn bà ngoài năm mươi tuổi, mặc chiếc áo dài màu lam nhạt, đứng đợi họ bên gốc cây long não cổ thụ trong sân trường. O nhìn ba người với ánh mắt dò xét, rồi dừng lại ở chiếc hộp gỗ trên tay Quang.
- Mấy cháu tìm hồ sơ cũ làm chi rứa?
O Nhàn hỏi, giọng Huế trầm và nhỏ nhẹ.
- Hồ sơ học sinh thời đó nhiều cái thất lạc trong chiến tranh rồi, chỉ còn lại mấy cuốn sổ bộ chép tay thôi.
Quang bước lên trước, cúi đầu chào lịch sự:
- Dạ thưa o, tụi cháu đang tìm hiểu về gia phả của một dòng họ ở Phú Cam. Trong đó có nhắc đến một người tên Trần Mai Trang, học Đồng Khánh khoảng những năm sáu mươi. Cháu nghe nói o giữ chìa khóa kho tư liệu cũ nên muốn xin o cho tra cứu một chút.
O Nhàn thở dài, chìa khóa trong tay o khẽ chạm vào nhau nghe lách cách:
- Thôi được rồi, đi theo o. Nhưng đừng có làm xáo trộn giấy tờ trong đó nghe chưa.
Kho tư liệu nằm ở tầng trệt của một dãy nhà rường cũ phía sau trường. Cửa gỗ mở ra, một mùi giấy mốc, mùi mực khô lâu năm xộc thẳng vào mũi khiến Bồi hắt hơi một tiếng rõ to. Những giá gỗ cao ngất ngưởng xếp đầy những cuốn sổ bọc da thô sơ, nhiều cuốn đã bị mối mọt gặm nhấm nham nhở ở góc.
Quang lập tức bắt tay vào việc. Anh lật từng cuốn sổ bộ học sinh theo năm học từ 1960 đến 1968. Khánh đứng bên cạnh, tay vịn vào mép giá gỗ, mắt quan sát những gáy sổ bám đầy bụi. Bồi đứng im bên cửa sổ, hai tai thằng bé thỉnh thoảng lại động đậy như đang nghe ngóng tiếng động từ chiếc hộp gỗ Quang đặt trên bàn.
Sau hơn một tiếng đồng hồ lục tìm trong đống giấy tờ ố vàng, Quang bỗng dừng tay ở một cuốn sổ bộ có bìa bọc vải thô màu xanh xám. Anh dùng ngón tay miết nhẹ trên trang giấy nhám:
- Khánh, lại đây xem ni.
Khánh bước nhanh tới. Trên trang giấy kẻ dòng bằng mực thước kẻ tay, một dòng chữ viết bằng mực tím đã ngai ngái chuyển sang màu nâu hiện ra rõ nét:
*Học sinh: Trần Mai Trang. Sinh năm: 1950. Quê quán: Vạn Phước, Phú Cam. Nhập học lớp Đệ Thất: năm 1964. Ghi chú: Mất tích trong biến động tháng Hai năm 1968.*
Bên cạnh dòng tên là một bức ảnh chân dung nhỏ cỡ hai nhân ba. Cô gái trong ảnh có gương mặt thanh tú, mái tóc dài kẹp gọn sau gáy, đôi mắt sáng nhưng đượm một nét buồn khó tả. Cô mặc chiếc áo dài trắng cổ cao truyền thống của nữ sinh Đồng Khánh thời bấy giờ.
Quang lật tiếp phần học bạ và nhận xét của giáo viên:
- Mai Trang học rất giỏi môn cổ văn, đặc biệt là chữ Hán. Ở đây có ghi chú của giáo vụ: "Học sinh thường xuyên phụ giúp gia đình chằm nón tại Phú Cam. Từng xin phép sao chép một số tài liệu cổ trong thư viện trường để mang về cho một người lớn tuổi nghiên cứu."
Khánh cau mày, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ:
- Người lớn tuổi đó không ghi tên sao?
- Không có.
Quang lắc đầu.
- Chỉ ghi chung chung là 'tiền bối quen thuộc của gia đình'. Nhưng mi nhìn ngày xin phép đi, tháng Chạp năm 1967, chỉ hai tháng trước khi cô ấy mất tích.
Khánh nhìn bức ảnh của Mai Trang trong sổ bộ. Gương mặt cô gái trẻ trung nhưng chứa đựng một sự kiên định kỳ lạ. Hắn cảm giác như có một sợi dây vô hình đang nối từ bức ảnh này đến chiếc nón lá đẫm máu nằm trong hộp gỗ.
- Đi thôi, mình qua chỗ anh Khanh.
Khánh nói.
- Hồ sơ bên cảnh sát sẽ cho biết cô ấy chết như thế nào.
***
Văn phòng của Phan Khanh nằm ở góc khuất của trụ sở công an thành phố. Trên bàn làm việc của anh bày sẵn một tập hồ sơ lưu trữ từ thời chiến tranh đã được số hóa và in lại trên giấy A4 trắng tinh. Phan Khanh rót nước chè xanh ra ba cái ly thủy tinh, rồi đẩy tập hồ sơ về phía Khánh.
- Đây là tất cả những gì tôi tìm được trong kho lưu trữ về trường hợp Trần Mai Trang.
Phan Khanh nói, giọng đều đều nhưng nghiêm nghị.
- Biên bản phát hiện thi thể ngày 22 tháng 2 năm 1968.
Khánh mở tập hồ sơ. Tấm ảnh đen trắng chụp hiện trường hiện ra trước mắt. Thi thể một nữ sinh mặc áo dài trắng nằm nghiêng bên mép nước sông Hương, đoạn gần ngã ba Phú Cam. Vạt áo dài của cô bị bùn đất và máu nhuộm đen một mảng lớn.
- Khám nghiệm tử thi thời đó ghi nhận nạn nhân tử vong do mất máu cấp từ một vết thương lớn ở mạn sườn phải, gây ra bởi một mảnh kim loại sắc nhọn, có khả năng là mảnh bom hoặc mảnh đạn pháo.
Phan Khanh giải thích, ngón tay chỉ vào sơ đồ phác họa vết thương trên giấy.
- Không có dấu hiệu của việc tự sát hay tác động ngoại lực mang tính cưỡng đoạt thân thể trước đó. Cô ấy bị thương khi đang di chuyển dọc bờ sông và lịm đi vì mất máu.
Khánh nhìn chăm chằm vào danh mục vật chứng thu được tại hiện trường. Danh mục gồm một cặp da học sinh đựng vài cuốn vở ướt sũng, một chiếc khăn tay thêu hoa mai và một ống tre rỗng dài khoảng ba mươi phân. Ống tre được đậy chặt bằng nút lá chuối khô.
- Chiếc nón lá không có trong danh mục này sao anh?
Khánh hỏi.
- Không có.
Phan Khanh lắc đầu.
- Thời điểm đó hỗn loạn lắm, người ta chỉ thu gom những vật dụng cá nhân rõ ràng nhất. Chiếc nón có thể đã bị nước sông cuốn trôi hoặc ai đó nhặt được sau đó. Nhưng có một điểm kỳ lạ mà tôi muốn anh chú ý.
Phan Khanh lật sang trang sau, nơi có ảnh chụp cận cảnh vết thương ở mạn sườn của Mai Trang.
- Vết thương này rất sâu. Với lượng máu chảy ra nhiều như vậy, nếu cô ấy muốn dùng máu để viết chữ lên nón trong lúc hấp hối, nét chữ phải rất nguệch ngoạc và đứt quãng do cơ thể bị co giật hoặc mất dần ý thức. Nhưng theo những gì anh mô tả về chiếc nón, nét chữ trên đó lại rất đều và có kỷ luật.
Khánh lấy chiếc kính lúp từ tay Quang, cúi sát xuống tấm ảnh chụp vết thương, rồi nhớ lại những vệt máu trên vành chiếc nón lá mà hắn đã thấy ở tiệm. Hắn im lặng một lúc lâu, đầu óc hoạt động hết công suất để kết nối các chi tiết.
- Cô ấy không viết trong lúc hoảng loạn.
Khánh ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lạnh.
- Mai Trang đã dùng chính máu từ vết thương của mình để viết, đúng vậy. Nhưng cô ấy viết với một sự tập trung cao độ, giống như đang cố gắng sao chép lại một văn bản có sẵn mà cô ấy đã thuộc lòng hoặc mang theo bên mình. Cô ấy biết mình sắp chết, và chiếc nón là thứ duy nhất có thể giữ lại những chữ đó mà không bị nước sông làm nhòe đi như giấy mực thông thường.
Quang gật đầu đồng tình:
- Đúng rứa. Lá nón được chằm kỹ bằng dầu rái có khả năng chống nước rất tốt. Nếu viết vào vành trong rồi úp nón xuống, chữ viết bằng máu khô sẽ được bảo quản rất lâu kể cả khi trôi sông.
Bồi lúc này đang ngồi trên chiếc ghế gỗ sát tường bỗng nhiên đứng dậy. Thằng bé bước lại gần chiếc bàn, mắt nhìn chằm chằm vào cái hộp gỗ thông đang đặt cạnh tập hồ sơ.
- Eng Khánh...
Bồi nói nhỏ, giọng run run.
- Răng con?
Khánh quay sang hỏi.
- Chị ấy... chị ấy lại gõ nữa.
Khánh lập tức im lặng. Hắn ghé tai lại gần hộp gỗ. Bên trong quả nhiên vang lên những tiếng "cộc, cộc, cộc" rất nhẹ, đều đặn như nhịp tim của một người đang kiệt sức.
Bồi áp tai vào mặt gỗ sơn ta, đôi mắt thằng bé mở to, đồng tử hơi co lại vì tập trung âm giác. Thằng bé mím chặt môi, cố gắng nghe rõ những âm thanh hỗn tạp đang truyền qua vách gỗ.
- Chị ấy nói... 'Bản gốc cháy rồi'.
Bồi thì thầm, giọng run rẩy nhưng rõ ràng.
- Chị ấy cứ nói đi nói lại câu đó. Rồi chị nói... 'phải để ông ấy đọc'.
- Ông ấy là ai?
Khánh gặng hỏi.
- Có phải ông Nguyễn Chính không?
Bồi lắc đầu, gương mặt nhỏ nhắn hiện lên vẻ bất lực:
- Con không biết. Chị ấy chỉ nói 'ông ấy'. Giọng chị ấy yếu lắm, giống như tiếng gió thổi qua kẽ lá tre rỗng rứa thôi.
Khánh nhìn Quang, rồi nhìn Phan Khanh. Cả ba người đều hiểu rằng họ không thể chỉ ngồi đây đoán mò. Những manh mối đều dẫn về một nơi duy nhất: căn nhà cũ của gia đình Mai Trang ở Phú Cam.
***
Kiệt Phú Cam trưa nắng bắt đầu gắt, không khí hầm hập hơi đất sau mưa. Căn nhà cũ của gia đình Trần Mai Trang nằm sâu trong một con ngõ nhỏ, xung quanh là những bức tường gạch rêu phong đổ nát. Đây là một căn nhà rường ba gian nhỏ, giờ chỉ còn là một phế tích bỏ hoang sau nhiều thập kỷ không có người ở. Mái ngói liệt đã sụp đổ hoàn toàn ở gian chái bên phải, để lộ khoảng trời xám xịt phía trên.
Khánh dùng một cành củi khô gạt những dây leo hoang dại và đống gạch vụn để mở đường vào gian giữa. Bụi vôi và tro bếp cũ từ những mảng tường đổ nát bay lên cay xè mắt.
Trên những cây xà nhà bằng gỗ kiền kiền đen đúa, những vết cháy sém từ trận chiến năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn, như những vết sẹo chưa bao giờ lành của thời gian.
- Nhà này sau năm sáu mươi tám thì người thân đi di tản hết, không thấy ai về lại nữa.
Quang vừa đi vừa dùng đèn pin soi vào những góc tối.
- Bàn thờ cũng trống trơn rồi.
Khánh bước đến góc gian chái bên trái, nơi có một chiếc bàn chằm nón bằng gỗ lim cũ kỹ nằm nghiêng ngả. Chân bàn đã mục ruỗng, cắm sâu xuống nền đất ẩm ướt đầy lá mục. Chiếc bàn này là công cụ mưu sinh của gia đình Mai Trang ngày trước.
Khánh quỳ xuống nền đất ẩm, dùng tay cào lớp tro xám và vôi vữa tích tụ dưới gầm bàn. Lớp đất ở đây xốp hơn những chỗ khác. Ngón tay hắn chạm phải một tấm gỗ thông lỏng lẻo nằm phẳng với mặt đất.
- Quang, lại đây phụ tui nâng cái bàn này lên chút.
Khánh gọi.
Quang ghé vai nhấc cạnh bàn mục lên, tiếng gỗ gãy nghe răng rắc. Khánh dùng hết sức giật mạnh tấm gỗ thông dưới đất lên. Một hộc kín nhỏ khoét sâu dưới nền đất hiện ra, được lót bằng một lớp lá chuối khô đã mục nát thành bột đen.
Bên trong hộc có hai thứ: một cuốn sổ nhỏ bìa da thô sơ đã bị mốc xanh và một chiếc khuôn nón bằng gỗ mít cũ kỹ, xỉn màu vì thời gian.
Quang cẩn thận cầm cuốn sổ lên, dùng chiếc khăn tay phủi nhẹ lớp bụi đất bám trên bìa da. Đây là cuốn sổ ghi chép việc đặt nón và giao nhận hàng của gia đình Mai Trang từ những năm sáu mươi.
Quang lật đến những trang cuối cùng. Những dòng chữ chép tay bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ xen kẽ nhau ghi lại tên khách hàng và số lượng nón đặt. Ở trang cuối cùng, viết vào khoảng tháng Chạp năm 1967, có một dòng chữ viết vội bằng mực tàu. Nội dung như sau.
*Một nón lót thư, giao ông Nguyễn Chính, chủ tiệm tại Gia Hội.*
Phần địa chỉ chi tiết phía sau dòng chữ này đã bị ai đó dùng dao lam cạo sạch, chỉ còn lại những thớ giấy xơ xác và một vệt rách nhỏ.
Khánh cầm chiếc khuôn nón bằng gỗ mít lên. Chiếc khuôn nón này có cấu trúc mười sáu vành chuẩn của nón Huế, nhưng ở phần vành thứ tư từ dưới lên, có ba nan tre bị lệch nhẹ sang một bên do lỗi đục đẽo khuôn ban đầu.
Khánh nhớ lại chiếc nón mang lời chứng đang nằm trong hộp gỗ ở tiệm. Khi hắn dùng tay miết dọc theo các vành nón hôm qua, hắn đã cảm nhận được một vết lệch nhẹ ở đúng vành thứ tư.
- Mai Trang tự tay làm chiếc nón này bằng chiếc khuôn lỗi này.
Khánh nói, giọng trầm xuống.
- Cô ấy không lấy đại một chiếc nón trên đường chạy nạn. Chiếc nón này được làm ra với mục đích duy nhất: chứa đựng bức thư gửi cho Nguyễn Chính. Nhưng bức thư đó là gì? Và tại sao cô ấy phải lót nó vào giữa hai lớp lá nón?
Quang nhìn khuôn nón, vẻ mặt đăm chiêu:
- Có thể tài liệu gốc rất quan trọng, nếu mang theo người trong lúc chiến sự sẽ dễ bị tịch thu hoặc tiêu hủy. Việc giấu vào giữa hai lớp lá nón là cách ngụy trang hoàn hảo nhất của người làm nón Phú Cam. Nhưng theo lời Bồi nghe được, bản gốc đã bị cháy. Nghĩa là những gì viết trên nón bằng máu chính là nội dung bản gốc mà cô ấy đã kịp ghi nhớ.
Khánh cẩn thận bọc cuốn sổ đặt nón và chiếc khuôn gỗ mít vào một tấm vải sạch. Hắn đứng dậy, nhìn quanh căn nhà đổ nát một lần cuối.
- Về tiệm thôi. Mọi câu trả lời giờ nằm ở chiếc nón.
***
Chiều muộn, trời Huế lại bắt đầu đổ mưa dông. Tiếng sấm rền vang từ phía thượng nguồn sông Hương vọng về nghe âm u. Trong gian tiệm Vong Ký, ngọn đèn dầu trên bàn quầy khẽ chao đảo mỗi khi có luồng gió lạnh lùa qua khe cửa gỗ.
Ông Tư vẫn ngồi im lặng trên chiếc ghế mây quen thuộc bên cạnh bàn thờ, chiếc gậy gỗ đặt tựa vào đùi. Ông không hỏi họ đã đi những đâu, cũng không nhìn vào chiếc hộp gỗ thông đang đặt trên bàn.
Khánh đặt cuốn sổ đặt nón và chiếc khuôn gỗ mít cạnh hộp gỗ chứa chiếc nón lá. Hắn cẩn thận cởi sợi chỉ đỏ niêm phong hộp ra, rồi nhấc chiếc nón lá đặt lên mặt bàn gỗ.
Ngay khi chiếc khuôn nón gỗ mít và cuốn sổ đặt nón được đặt sát bên cạnh chiếc nón lá, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.
Những vệt máu khô màu nâu xỉn dưới vành trong của chiếc nón bỗng nhiên chuyển động. Chúng không chảy ra thành dòng mà từ từ sẫm lại, màu đỏ tươi như máu mới bắt đầu hiện lên ở những nét chữ. Những giọt máu li ti bị một lực hút vô hình kéo đi, chậm chạp tụ lại thành hai chữ Hán lớn sắc sảo nằm ngay dưới vành nón:
Hai chữ ấy là Vọng Tích.
Quang ghé sát mắt vào, lẩm nhẩm đọc:
- Vọng Tích... Đây là tên một bài thơ cổ, hoặc là tên một khúc ca. Chữ viết rất đẹp, nhưng nét chữ này... nét chữ này có kết cấu giống hệt nét chữ của Mai Trang trong sổ bộ học sinh Đồng Khánh mà mình thấy sáng nay.
Khánh không nói gì. Hắn lấy cây đèn dầu trên bàn thờ xuống, đưa sát vào lòng chiếc nón lá. Hắn bảo Quang:
- Quang, tắt bớt đèn ngoài đi. Soi ngược sáng từ phía sau xem sao.
Quang thổi tắt ngọn nến trên bàn quầy. Gian tiệm chỉ còn lại ánh sáng vàng vọt, yếu ớt từ cây đèn dầu nhỏ trên tay Khánh.
Khánh đưa cây đèn vào sát vành trong của chiếc nón, để ánh sáng xuyên qua hai lớp lá nón mỏng đã ngả màu vàng úa. Dưới ánh sáng xuyên thấu, họ nhìn thấy rõ ràng một bóng đen hình chữ nhật nằm kẹt ở giữa phần chóp nón, ngay giữa lớp lá trong và lớp lá ngoài. Đó là một mẩu giấy bản nhỏ, mép giấy có vết cháy sém đen đúa.
- Có giấy lót bên trong thật.
Quang thốt lên, giọng run run vì hồi hộp.
- Mai Trang đã khâu mẩu giấy này vào giữa hai lớp lá trước khi hoàn thiện chiếc nón.
Quang cẩn thận lấy từ trong túi ra một chiếc nhíp y tế và một lưỡi dao lam nhỏ. Anh nhìn Khánh như để xin ý kiến. Khánh gật đầu:
- Rạch khéo tay thôi Quang. Đừng làm rách lớp lá ngoài.
Quang điều hòa nhịp thở để giữ cho tay không bị run. Anh dùng lưỡi dao lam khẽ khàng rạch đứt ba mũi chỉ khâu bằng sợi móc dọc theo vành trong của nón, ngay sát phần chóp. Đường rạch vừa đủ để kẽ lá hở ra một khoảng nhỏ.
Dưới ánh đèn dầu, Quang dùng nhíp kẹp chặt mép mẩu giấy bản cũ kỹ, từ từ kéo nó ra ngoài. Mẩu giấy khô khốc, mỏng mảnh như cánh ve sầu, một góc đã bị lửa thiêu rụi từ trước, để lại những vệt tro đen bám chặt vào thớ giấy.
Quang đặt mẩu giấy lên một tấm kính trong suốt mà anh mang theo để bảo quản tư liệu.
Trên mẩu giấy cháy dở, những nét chữ Hán viết bằng mực tàu tuy đã phai màu nhưng vẫn còn đọc được rõ ràng ba dòng chữ đầu tiên. Quang ghé sát mắt vào tấm kính, dịch nhỏ từng chữ một, giọng anh run rẩy vang lên trong không gian tĩnh mịch của tiệm Vong Ký:
- Tích... hai mươi hai tuổi... bị đưa xuống Cồn Hến...