TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 149: Người Không Có Mộ
Bánh xe máy của Quang lướt qua những vũng nước đục ngầu trên đường Đoàn Thị Điểm, tạt nước lên những chân tường thành bằng gạch vồ xám xịt của Kinh…
Nội dung chương
Bánh xe máy của Quang lướt qua những vũng nước đục ngầu trên đường Đoàn Thị Điểm, tạt nước lên những chân tường thành bằng gạch vồ xám xịt của Kinh Thành. Trời Huế sau cơn dông ban trưa vẫn chưa chịu hửng nắng, mây xám sà thấp xuống những rặng nhãn cổ thụ, mang theo cái lạnh ẩm ướt đặc trưng của những ngày mưa dông tháng Bảy.
Khánh ngồi phía sau, hai tay ôm khư khư chiếc hộp gỗ thông chứa chiếc nón lá cũ. Hắn cảm nhận được hơi lạnh từ thớ gỗ rịn ra lòng bàn tay, buốt đến tận xương.
Chiếc xe dừng lại trước một ngôi nhà rường ba gian hai chái nằm sâu trong kiệt nhỏ gần cửa Đông Ba. Mái ngói liệt của ngôi nhà đã phủ kín rêu xanh, những cánh cửa gỗ cũ kỹ khép hờ, để lộ khoảng sân nhỏ trồng vài chậu hải đường cằn cỗi.
Bà Lệ đón hai đứa vào nhà. Bà đã bảy mươi sáu tuổi, dáng người nhỏ nhắn, tóc bạc trắng như cước được búi gọn sau gáy. Bà mặc bộ đồ lam giản dị, đôi mắt đã đục mờ theo thời gian nhưng khi nhìn thấy chiếc hộp gỗ trên tay Khánh, khóe mắt bà khẽ giật nhẹ.
- Mấy đứa tìm đến đây hỏi chuyện con Trang, là có chuyện chi liên quan đến nó nữa à?
Bà Lệ rót hai chén nước chè xanh còn bốc khói, đẩy về phía Khánh và Quang. Giọng bà rặt tiếng Huế xưa, nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng.
Khánh đỡ lấy chén nước, khẽ cúi đầu:
- Dạ thưa o, tụi cháu đang tìm hiểu về một món đồ cũ của chị Mai Trang để lại từ đợt năm sáu tám. Cháu nghe nói o là bạn học cùng lớp với chị ấy ở trường Nữ trung học Đồng Khánh.
Bà Lệ thở dài, ánh mắt nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi những giọt mưa bắt đầu rơi tí tách trên lá hải đường:
- Con Trang tội lắm. Hồi đó nó học giỏi nhất nhì lớp, tính lại hay lam hay làm. Cái sáng cuối cùng tui gặp nó là vào đợt Tết Mậu Thân. Bom đạn nổ vang trời phía bên kia sông, người ta lo chạy nạn ngược xuôi, còn nó thì cứ khăng khăng đòi đi ngược về hướng Gia Hội. Tui cản thế nào cũng không được.
Quang đẩy gọng kính, hỏi khẽ:
- Hôm đó chị ấy có mang theo món đồ gì lạ không o?
Bà Lệ nhấp một ngụm nước, ký ức của gần sáu mươi năm trước như hiện về rõ mồn một qua giọng kể chậm rãi:
- Có. Nó đội một chiếc nón lá mới tinh, lá nón còn trắng xanh chưa kịp quét dầu dầu bóng. Tay nó thì ôm khư khư một ống tre nhỏ lấy từ nhà. Tui thấy trên người nó có vết thương ở bắp tay, máu rỉ ra ướt cả góc tay áo cát tường. Tui bảo nó vào hầm nhà tui mà trú, nhưng nó lắc đầu. Nó nói nó phải đi giao cái này cho bằng được. Nó bảo đó là lời chứng của một người chèo đò gửi cho ông Chính ở Gia Hội. Nếu không đi ngay thì giấy trong ống tre bị cháy hết, cái chết oan uổng sẽ không được phơi bày.
Khánh siết chặt hai ngón tay vào nhau. Lời chứng của người chèo đò. Ông Chính ở Gia Hội. Những mảnh ghép rời rạc bắt đầu tự tìm đến nhau.
Bà Lệ đứng dậy, đi vào gian buồng trong. Một lúc sau, bà trở ra, tay nâng niu một cuốn sổ bìa da đã sờn rách các góc, giấy bên trong đã chuyển sang màu vàng đậm của thời gian. Bà đặt cuốn sổ lên bàn:
- Đây là cuốn lưu bút của lớp năm học một chín sáu bảy, trước khi chiến sự nổ ra. Con Trang có viết vào đây một trang. Mấy đứa xem thử có giúp ích chi không.
Quang cẩn thận mở cuốn lưu bút. Trang giấy viết bằng mực tím của Mai Trang hiện ra với những nét chữ thanh mảnh, bay bướm nhưng rất đều đặn. Khánh nhìn chằm chằm vào những nét chữ ấy, rồi đối chiếu với dòng chữ khắc bằng mực tàu dưới vành nón mà họ tìm thấy hôm qua. Nét chữ hoàn toàn trùng khớp, từ cách móc nét chữ "T" cho đến độ nghiêng của chữ "g".
Ở trang cuối cùng của phần lưu bút, có mấy dòng nháp viết bằng bút chì đã mờ hẳn. Quang dùng một chiếc kính lúp nhỏ mang theo, soi sát vào mặt giấy. Anh khẽ thốt lên:
- Khánh, nhìn này.
Dưới thấu kính hội tụ, hai chữ Hán được viết đi viết lại nhiều lần bằng nét bút chì mảnh. Đó là hai chữ "Vọng Tích". Mai Trang đã luyện viết hai chữ này rất nhiều lần, như thể cô đang cố gắng ghi nhớ cách viết của chúng trước khi viết bằng máu lên chiếc nón lá.
- Vậy là bài thơ này không phải do chị ấy tự nghĩ ra hay là lời tiên tri gì cả.
Khánh trầm giọng, mắt vẫn không rời trang giấy.
- Chị ấy chỉ chép lại. Chị ấy là người chuyển lời chứng.
***
Rời nhà bà Lệ, Khánh và Quang không về tiệm ngay mà ghé vào phòng làm việc của Quang tại trung tâm lưu trữ tư liệu cũ của thành phố. Căn phòng ngập tràn mùi giấy ẩm và hồ dán. Quang bật chiếc bóng đèn tuýp treo trên trần, ánh sáng trắng xanh soi rõ những chồng sách cổ xếp cao ngất ngưởng.
Quang đi tới góc phòng, lấy xuống tập gia phả Nguyễn Tộc chép tay mà anh đã mượn được từ đầu năm. Anh đặt tập gia phả lên chiếc bàn gỗ lớn, lật nhanh qua những trang giấy bản mỏng dính.
- Đây rồi.
Quang chỉ ngón tay vào một dòng chữ nhỏ nằm ép sát lề ngoài của trang giấy, được viết bằng một loại mực tàu khác hẳn với phần chữ chính diện.
- Dòng chú thích này được thêm vào sau.
Khánh ghé mắt đọc theo ngón tay chỉ của Quang. Dòng chữ Hán ghi rõ:
Dòng gia phả ghi Nguyễn Vĩnh Tích sinh năm Quý Hợi, tức năm 1923. Người này mất tích ngày mười chín tháng Tám năm Ất Dậu, tức năm 1945, hưởng dương hai mươi hai tuổi. Thi thể không được tìm thấy.
Cổ họng Khánh khô khốc. Hai mươi hai tuổi. Ngày mười chín tháng Tám. Cái ngày mất tích trùng khớp hoàn toàn với những gì Bồi đã nghe được từ chiếc nón lá. Nhưng điều làm Khánh chú ý hơn cả là dòng chữ tiếp theo trong gia phả:
Dòng kế tiếp ghi người này thuộc nhánh do Nguyễn Chính quản nhận.
Gia phả chỉ ghi vỏn vẹn như vậy. Không có một dòng nào ghi về quan hệ huyết thống giữa người tên Tích này và Nguyễn Chính. Không ghi cha con, cũng không ghi chú về người nối dõi. Một khoảng trống lớn đến kỳ lạ trong một cuốn gia phả vốn dĩ rất chi tiết của dòng họ Nguyễn.
- Nguyễn Chính là cái tên cũ đang liên hệ trực tiếp với Ông Tư. Chừng ni chứng cứ mới chỉ cho phép tụi mình đoán tới đó.
Quang nói, giọng anh thấp xuống như sợ có ai đó nghe thấy.
- Nhưng tại sao lại không ghi quan hệ huyết thống? Nếu Tích là người của nhánh đó, đáng lẽ phải ghi rõ là con ai chứ?
Khánh im lặng. Hắn nhớ đến khuôn mặt già nua, đầy những vết chân chim của Ông Tư mỗi khi nhìn hắn. Hắn nhớ đến những buổi sáng ông cụ ngồi ngâm chân dưới nước sông Hương đúng bốn mươi chín phút, bất kể trời nắng hay mưa dông. Mọi hành động của ông cụ đều giống như một sự chuộc tội kéo dài đằng đẵng qua nhiều thập kỷ.
Quang tiếp tục lục tìm trong đống tài liệu thu thập về bến đò sông Hương thời kỳ trước năm 1945. Anh lôi ra một tờ giấy bản màu vàng đục, mép giấy đã mủn ra như cám. Đó là bản kê khai những người qua bến đò Cồn Hến vào tháng Tám năm 1945, một tài liệu hành chính cũ kỹ còn sót lại từ thời sở cảnh sát cũ.
Trên tờ khai đã rách nát, dòng chữ viết tay bằng bút sắt ghi nhận:
Tờ khai ghi rằng đêm mười chín tháng Tám năm 1945, đò của Trần Hữu Nhân chở một thanh niên bị trói bằng dây thừng sang phía Cồn Hến. Người đi cùng gọi thanh niên ấy là Tích. Ngày hôm sau, Trần Hữu Nhân bỏ nghề chèo đò, không rõ đi đâu.
Khánh cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Thanh niên bị trói tên Tích. Người chèo đò là Trần Hữu Nhân.
- Chúng ta phải ra Cồn Hến.
Khánh đứng dậy, thu dọn đồ đạc.
- Phải đưa Bồi ra đó. Nơi đó là nơi cuối cùng người ta nhìn thấy Tích trước khi biến mất.
***
Chiều muộn, ba người cùng đứa nhỏ tên Bồi đứng trên nền bến đò cũ ở phía nam Cồn Hến. Nước sông Hương đoạn này chảy xiết, những con sóng nhỏ đập vào những cọc tre mục nát bên bờ sông tạo ra những tiếng "bạch, bạch" đều đặn. Gió từ phía cửa biển Thuận An thổi ngược lên mang theo mùi bùn non và mùi rong rêu tanh nồng.
Bồi đứng sát mép nước, hai tay ôm chặt lấy bả vai. Đứa nhỏ nhắm nghiền mắt, gương mặt nó tái đi vì lạnh. Khánh lấy mẩu giấy bản cháy dở đã được bọc cẩn thận trong túi nilon ra, đưa cho Bồi cầm.
- Bồi, con nghe thử xem. Ở đây có tiếng chi không?
Đứa nhỏ cầm lấy mẩu giấy. Đôi vai nó khẽ run lên. Một lúc sau, giọng nó cất lên, nhỏ như tiếng gió rít qua kẽ lá:
- Eng Khánh... Có hai giọng nói. Một giọng con gái... chị ấy đang đọc lại mấy chữ viết trên nón để khỏi quên. Chị ấy nói nhanh lắm, giống như có ai đang đuổi theo phía sau. Còn một giọng nữa... giọng của một người đàn ông lớn tuổi. Giọng ông ấy khàn lắm, giống như người bị nghẹn nước. Ông ấy xin ông Chính đừng để tên Tích mất. Ông ấy cứ lặp đi lặp lại câu đó, rồi tiếng sóng nước át hết cả giọng đi.
Khánh nhìn xuống dòng nước đục ngầu dưới chân. Dưới tầng nước sâu kia, có một linh hồn đã nằm lại hơn tám mươi năm mà không có một ngôi mộ, không một dòng tên chính thức trên bia đá.
Khánh cúi xuống, lấy một ít nước sông Hương vẩy nhẹ lên vành trong của chiếc nón lá mà hắn mang theo trong hộp gỗ. Nước sông lạnh buốt làm mềm lớp hồ dán bằng bột sắn đã khô cứng từ lâu. Khánh dùng ngón tay khéo léo tách nhẹ mép lá nón ở phần vành trong.
Dưới lớp lá nón bị tách ra, sát bên cạnh vệt máu màu nâu đỏ của năm 1968, hiện ra một vệt màu khác. Vệt màu này có màu nâu đen, xỉn lại như màu than củi, bám chặt vào thớ lá nón từ trước đó rất lâu. Đó là một vệt máu cũ hơn nhiều, vệt máu của năm 1945.
- Có hai lớp máu.
Khánh thầm thì.
- Mai Trang không chỉ viết bằng máu của mình. Cô ấy đã tìm thấy mẩu giấy có vết máu của người chèo đò Trần Hữu Nhân để lại trong ống tre, rồi cô ấy dùng máu của mình để chép lại và đè lên đó khi mẩu giấy bị cháy dở.
Một tiếng còi xe máy quen thuộc vang lên từ phía con đường bê tông nhỏ dẫn ra bến đò. Phan Khanh bước xuống xe, chiếc áo khoác cảnh sát của anh đã thấm đẫm nước mưa. Anh đi bộ lại gần ba người, ánh mắt sắc sảo nhìn vào chiếc nón lá trên tay Khánh.
- Mấy anh lại tự ý di chuyển vật chứng của vụ án cũ à?
Phan Khanh hỏi, giọng anh không có vẻ gì là trách phạt, chỉ có sự mệt mỏi và nghiêm túc của một người làm việc theo nguyên tắc.
Khánh quay lại nhìn Phan Khanh:
- Anh Khanh, đây không phải là vật chứng của một vụ án thông thường nữa rồi. Đây là lời hẹn của người chết gửi cho người sống từ hơn nửa thế kỷ trước.
Phan Khanh im lặng nhìn chiếc nón lá một lúc, rồi anh thở dài, rút từ trong túi ra một chiếc máy ảnh kỹ thuật số nhỏ:
- Tôi không cấm mấy anh làm việc tâm linh của mấy anh. Nhưng trước khi làm bất cứ nghi thức nào làm biến dạng món đồ này, tôi phải chụp ảnh lại toàn bộ hiện trạng. Tôi cũng cần lấy số đo chính xác và giữ lại một mảnh nhỏ của mẩu giấy bản để gửi đi giám định chất liệu. Nếu có dấu vết của vụ án mạng năm một chín sáu tám, tôi vẫn phải lập hồ sơ.
Khánh gật đầu đồng ý. Hắn đứng chờ Phan Khanh chụp ảnh tỉ mỉ từng góc của chiếc nón, từng nét chữ viết bằng máu và mẩu giấy cháy dở. Sau khi Phan Khanh dùng nhíp gắp một mẩu giấy nhỏ ở góc đã cháy sém bỏ vào túi bọc chuyên dụng, Khánh mới cẩn thận cất chiếc nón vào hộp gỗ.
- Về tiệm thôi.
Khánh nói, mắt nhìn về hướng Bao Vinh nơi những ánh đèn đường đầu tiên bắt đầu nhen nhóm trong màn mưa dông.
- Mọi chuyện phải được giải quyết trước mặt Ông Tư.
***
Khi họ về đến tiệm Vong Ký, trời đã sập tối hẳn. Mưa dông đổ xuống Bao Vinh dồn dập, tiếng sấm rền vang từ phía thượng nguồn sông Hương vọng về nghe âm u như tiếng trống trận.
Gian tiệm tối om, chỉ có một ngọn đèn dầu leo lét đặt trên bàn quầy. Ông Tư vẫn ngồi đó, trên chiếc ghế mây quen thuộc bên cạnh bàn thờ. Chiếc gậy gỗ đặt tựa vào đùi ông, hai bàn tay gầy guộc đặt lên đầu gậy.
Khánh bước vào, đặt chiếc hộp gỗ thông lên bàn gỗ dài giữa tiệm. Quang, Bồi và Phan Khanh đi theo sau, im lặng đứng nép vào một góc gian ngoài.
Khánh mở nắp hộp, nhấc chiếc nón lá và mẩu giấy bản cháy dở đặt lên bàn. Hắn nhìn thẳng vào Ông Tư, giọng hắn đanh lại:
- Chú Tư. Cháu đã tìm ra người tên Tích trong gia phả rồi. Anh ấy mất tích ngày mười chín tháng Tám năm một chín bốn lăm, lúc hai mươi hai tuổi. Người chèo đò tên Trần Hữu Nhân đã chở anh ấy sang Cồn Hến trong đêm đó, và để lại lời chứng bằng máu. Chị Mai Trang chỉ là người chuyển lời chứng đó đi vào năm một chín sáu tám.
Bàn tay Ông Tư đang đặt trên đầu gậy gỗ khẽ run lên. Những thớ gỗ trên đầu gậy như oằn đi dưới lực siết của những ngón tay gầy guộc. Nhưng khuôn mặt ông cụ vẫn lạnh băng, đôi mắt ông chìm sâu trong bóng tối của gian tiệm:
- Mi tìm ra mấy cái đó để làm chi? Chuyện cũ đã qua lâu rồi.
- Chưa qua.
Khánh bước lên một bước, giọng hắn run lên vì kìm nén cảm xúc.
- Người ta chết không có một ngôi mộ, linh hồn nằm lại dưới đáy sông Hương hơn tám mươi năm qua mà chú bảo là đã qua sao? Cái tên Nguyễn Chính khắc trên sổ đặt nón này, chú biết rõ hơn ai hết. Cháu yêu cầu chú phải có mặt ở đây khi cháu đọc bài thơ này bằng nghi thức máu. Chú có quyền im lặng, nhưng chú không được phép trốn tránh nữa.
Ông Tư nhìn chằm chằm vào chiếc nón lá trên bàn. Dưới ánh đèn dầu leo lét, hai chữ "Vọng Tích" viết bằng máu đang đỏ lên một cách bất thường. Ông cụ thở dài một tiếng thật dài, tiếng thở nghe nặng nề và mệt mỏi như tiếng đất đá sạt lở bên bờ sông:
- Được rồi. Tau ở đây. Mi muốn làm chi thì làm đi.
Khánh điều hòa nhịp thở để lấy lại sự bình tĩnh. Hắn lấy từ trên bàn thờ xuống chiếc đĩa sứ trắng chuyên dùng để đốt bùa. Hắn đặt mẩu giấy bản cháy dở vào giữa lòng đĩa.
Hắn lấy ba nén nhang bùa, châm lửa từ ngọn đèn dầu rồi cắm vào bát tro nhỏ đặt cạnh đĩa sứ. Khói hương bắt đầu bay lên, cuộn tròn lại trong không gian tĩnh mịch của tiệm Vong Ký, mang theo mùi trầm hương nồng nặc xen lẫn mùi ẩm mốc của giấy cũ.
Khánh đứng trước bàn thờ, hai tay bắt quyết, miệng lẩm nhẩm đọc bài chú gọi vong. Hắn cắn nhẹ vào đầu ngón tay trỏ của mình, để một giọt máu tươi rơi thẳng xuống mẩu giấy bản nằm trong đĩa sứ.
Ngay khi giọt máu của Khánh vừa chạm vào mẩu giấy, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.
Vệt máu khô màu nâu đen từ năm 1945 nằm dưới lớp máu của Mai Trang bỗng nhiên động đậy. Nó không chảy ra ngoài đĩa sứ mà từ từ loang rộng trên mặt giấy bản, theo những nét của một bàn tay vô hình đang viết. Màu máu chuyển từ nâu đen sang đỏ tươi như máu mới chảy, những nét chữ Hán cổ bắt đầu hiện lên rõ mồn một.
Khánh ghé sát mắt nhìn vào đĩa sứ. Dưới tác động của nghi thức, vệt máu năm 1945 tự lan thành những nét chữ Hán sắc sảo, tạo thành câu đầu tiên của bài thơ:
Câu đầu tiên xác nhận đêm ấy Tích đã chết dưới tay Âm Vũ.