TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 152: Người Mang Tên Nguyễn Chính
Khánh đặt mạnh bát nước sông Hương xuống mặt bàn gỗ, nước bên trong chao đảo rồi lặng đi dưới ánh đèn dầu. Tiếng gốm chạm vào mặt gỗ lim nghe khô khốc,…
Nội dung chương
Khánh đặt mạnh bát nước sông Hương xuống mặt bàn gỗ, nước bên trong chao đảo rồi lặng đi dưới ánh đèn dầu. Tiếng gốm chạm vào mặt gỗ lim nghe khô khốc, đánh động vào bầu không khí đặc quánh hơi ẩm của tiệm Vong Ký lúc nửa đêm. Ngoài kia, mưa Bao Vinh đã ngớt từ lâu nhưng gió sông vẫn rít qua các khe cửa rường, mang theo mùi bùn đất nồng nặc của những ngày nước dâng.
Trong gian tiệm lúc này chỉ có vài người. Cô Bảy đứng tựa lưng vào cột nhà rường bên cạnh bàn thờ Thổ, tay lần tràng hạt gỗ, đôi mắt o đăm đăm nhìn vào chiếc bát nước sông. Quang ngồi bên cạnh Khánh, điều chỉnh lại gọng kính, nét mặt căng thẳng lộ rõ dưới ánh sáng vàng vọt. Bồi run run đứng sau lưng Khánh, hai tay nắm chặt vạt áo anh mình như để tìm một chỗ dựa.
Phía ngoài thềm tiệm, Phan Khanh đứng im lặng. Anh cầm tập hồ sơ đã niêm phong trong tay, không bước vào trong gian thờ để tránh làm nhiễu nghi thức tâm linh của tiệm. Người đại úy cảnh sát hình sự chỉ đứng ngoài đó, bóng anh in dài trên nền đất ẩm qua khung cửa kính mờ hơi nước, giữ một khoảng cách khách quan của người làm việc theo pháp luật.
Khánh bày lên bàn ba cây nhang chưa đốt, một xấp giấy vàng mã và phong thư cũ kỹ đã ngả màu vàng ố mà hắn và Quang tìm thấy dưới lớp lót của chiếc hộp đựng ấn ngọc Bảo Đại. Hắn nhìn thẳng vào Ông Tư đang ngồi bất động trên chiếc ghế mây đối diện.
- Chú Tư, mọi thứ đã sẵn sàng rồi.
Khánh nói, giọng hắn bình thản nhưng chứa đựng một áp lực vô hình.
- Chú bảo tui chuẩn bị nước sông với giấy vàng, tui đã chuẩn bị đủ. Chừ chú muốn làm chi thì làm đi.
Ông Tư không vội trả lời. Ông cụ đưa bàn tay gầy guộc, run rẩy vuốt dọc theo thân chiếc gậy mây đặt bên cạnh. Đôi mắt đục ngầu của ông lướt qua phong thư trên bàn rồi dừng lại ở gương mặt của Quang.
- Quang, mi là đứa học chữ, mi nhìn cái niêm sáp trên phong thư đi.
Ông Tư khàn khàn lên tiếng.
Quang gật đầu, cẩn thận dùng nhíp gắp phong thư lên. Lớp niêm sáp màu đỏ sẫm ở mặt sau phong thư đã khô giòn, có dấu ấn triện hình tròn nhưng bị sứt một góc lớn ở phía nam. Quang lấy kính lúp nhỏ từ trong túi ra soi, lật qua lật lại các góc phong thư dưới ánh đèn dầu.
- Lớp niêm sáp này pha với nhựa thông rừng, kiểu niêm phong rất đặc trưng của các nhà quyền quý hoặc các phủ lớn ở Huế giai đoạn trước năm một chín bốn lăm.
Quang vừa quan sát vừa giải thích, giọng anh rành rọt.
- Nét mực viết tên người nhận bên ngoài ghi rõ: Chưởng môn Thoải Phủ Sông Hương Nguyễn Chính. Nét chữ này có một điểm rất đặc biệt.
Quang chỉ ngón tay vào nét chữ viết tay trên bì thư:
- Chữ "Nguyễn" có phần bẻ móc rất ngặt ở cuối nét ngang, chữ "Chính" thì nét phẩy ngược lên rất sắc. Đây là kiểu viết tay của người được rèn chữ nho từ nhỏ, sau đó chuyển sang viết chữ quốc ngữ nhưng vẫn giữ thói quen đưa bút của lối viết thư pháp cũ.
Khánh không đợi Quang nói hết. Hắn với tay lấy cuốn sổ Vong Ký cũ đang mở sẵn trên bàn quầy, lật về những trang đầu tiên được viết từ hàng chục năm trước. Hắn đặt cuốn sổ ngay cạnh phong thư cũ.
Những dòng chữ ghi chép tên vong, ngày mất và vật nhận cầm trong sổ cũng có những nét bẻ móc ở chữ "Nguyễn" và nét phẩy ngược ở chữ "Chính" y hệt như vậy. Sự trùng khớp rõ ràng đến mức Bồi đứng phía sau cũng phải ghé mắt nhìn rồi khẽ thốt lên một tiếng kinh ngạc.
Khánh nhìn Ông Tư, giọng hắn trầm xuống:
- Nét chữ này là của chú. Chú không cần phải chối nữa.
Ông Tư vẫn im lặng. Ông cụ chỉ khẽ gật đầu, ra hiệu cho Khánh mở phong thư.
Khánh dùng một con dao nhỏ bằng đồng chuyên dùng để rọc giấy ở tiệm, cẩn thận rạch nhẹ bên cạnh lớp niêm sáp để không làm vỡ thêm phần dấu triện còn sót lại. Hắn rút tờ giấy bản mỏng bên trong ra. Giấy đã ngả sang màu vàng đất, mép giấy bị mục nhẹ do hơi ẩm của thời gian nhưng những dòng chữ viết bằng mực tàu bên trong vẫn còn khá rõ ràng.
Khánh đọc nhỏ những dòng chữ viết trên giấy:
Bức thư gửi Nguyễn Chính, nhắc rằng việc cõi âm có luật của cõi âm, việc cõi dương có luật của cõi dương. Nguyễn Chính không được phép đổi một sinh mạng khác để giữ lại người đã chết. Lời hẹn của Thoải Phủ là để giải thoát, không phải để biến thành quyền sở hữu. Nếu cố tình đi ngược lại thiên lý, cái giá phải trả sẽ là chính thân xác của Nguyễn Chính và những kẻ liên quan.
Cuối thư ký tên: "Tú Hiến".
Lời cảnh báo từ quá khứ hiện ra rõ ràng trên mặt giấy mục nát. Khánh cảm thấy lồng ngực mình thắt lại. Lời cảnh báo của Ông Tú Hiến từ năm 1945 như đang chỉ thẳng vào tình trạng hiện tại của tiệm Vong Ký, vào chính bản thân hắn và Ông Tư.
Khánh ngước lên nhìn Ông Tư. Ông cụ vẫn ngồi im, hai bàn tay đặt trên gối khẽ run nhẹ. Chân trái của ông co giật một nhịp dưới gầm bàn gỗ, tiếng khớp xương kêu lục cục nhỏ nhưng đủ nghe rõ trong không gian im ắng của gian tiệm.
Khánh lấy một tờ giấy vàng mã, nhúng nhẹ vào bát nước sông Hương cho thấm đều nước rồi trải phẳng lên mặt bàn gỗ lim. Hắn đặt phong thư cũ lên trên tờ giấy vàng ướt đó.
Nước sông thấm nhanh qua lớp giấy bản của phong thư. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, một hình triện tròn ẩn chìm bắt đầu hiện lên từ mặt sau của tờ giấy. Hình triện có một vết khuyết hình trăng khuyết ở góc nam, trùng khớp hoàn toàn với vết sứt trên lớp niêm sáp bên ngoài.
Khánh với tay lấy chiếc khánh đồng đặt trên bàn thờ Thổ xuống. Hắn lật mặt sau của chiếc khánh, đặt cạnh phong thư. Vết khuyết trên chiếc khánh đồng khớp hoàn toàn với vết khuyết của hình ấn chìm đang hiện rõ trên giấy vàng ướt.
Chưa dừng lại ở đó, Khánh nhìn vào bàn tay phải của Ông Tư đang đặt trên gối. Hắn bước tới, cầm lấy bàn tay gầy guộc, thô ráp của ông cụ lên. Ở phần thịt dưới ngón tay cái bên phải của Ông Tư có một vết sẹo tròn lồi lên, bị khuyết một góc do một vết thương cũ từ rất lâu để lại. Khi đặt ngón tay cái của Ông Tư lên hình ấn chìm trên giấy, vết sẹo khớp khít vào khoảng trống của vết khuyết kia.
Mọi bằng chứng vật chất đều chỉ về một hướng. Không có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào có thể tạo ra những điểm khớp hoàn hảo đến thế.
Khánh buông tay Ông Tư ra, giọng hắn lạnh tanh:
- Chú tự viết tên thật của mình đi. Bằng máu của chú.
Ông Tư nhìn Khánh, đôi mắt đục ngầu không lộ ra chút oán giận hay sợ hãi nào. Ông cụ từ từ đưa ngón tay cái bên phải lên miệng, dùng răng cắn mạnh vào vết sẹo tròn cũ. Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra từ vết cắn. Ông ấn mạnh ngón tay cái xuống khoảng trống bên cạnh chữ "Nguyễn Chính" trên phong thư đang thấm ướt nước sông.
Ngay khi giọt máu của Ông Tư chạm vào giấy vàng thấm nước sông Hương, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Hình ấn chìm dưới phong thư bỗng đỏ rực lên như có một hòn than nóng đang đốt cháy từ bên dưới. Nước trong bát sứ đặt bên cạnh bắt đầu chuyển dần từ màu trong suốt sang màu xám tro đùng đục. Một mùi nhang khét lẹt, giống như mùi giấy tiền vàng mã bị đốt dở dưới cơn mưa rào, bốc lên nồng nặc trong gian tiệm.
Bồi giật mình lùi lại một bước, hai tay bịt chặt mũi vì mùi khét quá nồng. Quang cũng nín thở, lùi ghế ra sau để tránh luồng khí xám mờ đang bốc lên từ bát nước.
Ông Tư từ từ hạ tay xuống. Ông nhìn bát nước màu xám tro, rồi nhìn Khánh. Giọng ông khàn đặc, mỗi từ thốt ra đều nặng nề:
- Phải. Tau là Nguyễn Chính. Người ta gọi tau là Ông Chính khi tau còn giữ chức Chưởng môn Thoải Phủ sông Hương từ những năm một chín hai mươi. Còn cái tên Ông Tư chỉ là để che mắt người đời sau biến cố năm một chín bốn lăm.
Khánh đứng thẳng người, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt hắn lạnh lùng:
- Chú không đầu thai thành người khác?
Ông Tư lắc đầu, nụ cười khô khốc hiện trên gương mặt chằng chịt nếp nhăn:
- Đầu thai làm răng được khi giao ước dưới sông chưa giải. Xác này là xác cũ của tau từ tám mươi mốt năm trước. Tau dùng Hương Thuật và giao ước với Thoải Phủ để giữ lại cái xác này, không cho nó thối rữa, không cho nó tan biến theo cát bụi. Nhưng cái xác này đã quá hạn rồi Khánh ơi.
Khánh nhìn dòng nước xám tro trong bát, lòng hắn trĩu nặng nhưng lý trí vẫn tỉnh táo:
- Vậy còn năm hai ngàn lẻ ba? Đứa trẻ ba tuổi chết đuối trên sông Hương. Chú đã làm gì với nó?
Ông Tư nhắm mắt lại, hơi thở của ông trở nên dốc và nặng nề hơn:
- Năm đó, xác đứa nhỏ đã lạnh ngắt, hồn đã lìa khỏi xác để đi về phía cửa âm. Căn hồn của Tích bị Âm Vũ giam dưới lòng sông suốt mấy chục năm, tau mới tìm cách vớt lên được. Tau đã dùng thuật trấn hồn, đưa căn hồn của Tích vào thân xác đứa trẻ đó để nó sống lại. Đứa trẻ đó chính là mi, Nguyễn Vĩnh Khánh của chừ.
- Tại sao chú lại làm vậy? Tích là gì của chú?
Khánh gặng hỏi, mắt nhìn xoáy vào Ông Tư.
Ông Tư im lặng một lúc lâu. Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn ra khoảng sân tối om ngoài kia, nơi tiếng mưa rơi lộp bộp trên những tàu lá chuối vẫn không dứt. Ông lắc đầu, giọng nói chứa đựng một sự kiên quyết nhưng cũng đầy bất lực:
- Tích là người tau phải giữ lại bằng mọi giá. Chỉ có rứa thôi. Phần sự thật còn lại, chừ chưa phải lúc để mi biết. Lựa chọn năm đó là do tau tự làm, tự chịu, không phải món nợ mi phải gánh thay cho ai hết. Mi là Khánh, mi cứ sống phần đời của mi.
Khánh siết chặt nắm tay. Hắn cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, vết bớt hình cá đỏ trên vai lại bắt đầu râm ran ngứa như một lời nhắc nhở về thứ đang bám rễ trong cơ thể hắn. Hắn không thể chấp nhận việc cuộc đời mình bị sắp đặt bởi một giao ước từ thời cha ông, bởi một linh hồn đã chết từ năm 1945.
Khánh không nổi giận, cũng không có biểu hiện xúc động hay khóc lóc. Hắn nhìn Ông Tư bằng ánh mắt xa cách, giọng nói lạnh lùng như người xa lạ:
- Chú không cần phải giải thích bằng tình cảm với cháu. Cháu cũng không nhận lời xin lỗi nào lúc này. Cháu muốn xem toàn bộ giấy tờ mang tên Nguyễn Chính. Tất cả những gì chú đã cất giấu trong cái tủ khóa hai lớp ở gian sau suốt mấy chục năm qua.
Khánh chỉ tay ra phía cửa, nơi Phan Khanh đang đứng:
- Cháu muốn anh Quang và anh Phan Khanh kiểm chứng từng mốc thời gian, từng chữ ký, từng tài liệu cũ. Cháu cần sự thật được chứng minh bằng vật chất, bằng giấy tờ rõ ràng, chứ không phải những lời kể thiếu căn cứ của chú.
Cô Bảy đứng bên cạnh khẽ thở dài, bà không nói lời nào ngăn cản Khánh. O biết Khánh có quyền được đòi hỏi điều đó. Đứa trẻ sống lại năm ba tuổi ấy đã phải gánh chịu quá nhiều thứ mà nó không hề tự nguyện lựa chọn.
Ông Tư nghe Khánh nói xong, gương mặt ông như già đi thêm mười tuổi. Ông cụ khẽ gật đầu, hai tay chống vào thành ghế mây, cố sức đứng dậy để đi vào gian trong lấy chìa khóa mở tủ giấy tờ cũ.
Thế nhưng, vừa mới nhấc người lên được nửa gang tay, chân trái của ông cụ bỗng nhiên khuỵu xuống. Ông Tư đổ sụp trở lại ghế mây, chiếc gậy mây bên cạnh rơi cạch xuống nền gạch tàu, lăn mấy vòng rồi dừng lại dưới chân bàn thờ Thổ.
Từ dưới ống quần bên trái của ông cụ, một dòng nước màu đen ngòm, hôi hám rỉ ra, chảy thành vệt dài xuống nền gạch tàu đỏ. Mùi bùn đất thối rữa và mùi nước sông tù đọng bốc lên ngay lập tức.
Cô Bảy từ góc tối bước vội lại, o nhìn dòng nước đen dưới chân Ông Tư rồi ngước lên nhìn Khánh, giọng o run lên nhưng đầy nghiêm khắc:
- Sáng ni ông bỏ một lần ngâm chân rồi, chừ giao ước đang đòi lại.