TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 153: Bốn Mươi Chín Phút
Tiếng nước sông đập vào chân bến đá sau tiệm Vong Ký nghe ràn rạt, lạnh buốt trong cái rạng sáng âm u của những ngày cuối tháng Bảy. Khánh gồng vai, hai…
Nội dung chương
Tiếng nước sông đập vào chân bến đá sau tiệm Vong Ký nghe ràn rạt, lạnh buốt trong cái rạng sáng âm u của những ngày cuối tháng Bảy. Khánh gồng vai, hai tay xốc dưới nách Ông Tư, cố giữ cho thân hình gầy guộc của ông cụ không đổ ập xuống nền đất ẩm ướt. Một bên chân trái của Ông Tư thõng xuống, mềm oặt và lạnh ngắt như một khúc chuối ngâm nước lâu ngày. Mùi bùn non lẫn với mùi tanh nồng của nước sông bốc lên từ ống quần chàm của ông cụ, xộc thẳng vào mũi Khánh khiến hắn phải nghiêng đầu tránh đi.
Cô Bảy đi bên cạnh, một tay đỡ lấy chiếc gậy mây của Ông Tư, tay kia xách theo một chậu nhôm cũ đã xỉn màu. O Bảy bước những bước vội vã nhưng không hề phát ra tiếng động trên nền đất thịt. Khi ra đến mép nước sát bến đò, o đặt chậu nhôm xuống, cúi người múc đầy một chậu nước sông Hương đục ngầu phù sa.
- Đặt ông ngồi xuống cái đòn gỗ ni. Mau lên Khánh.
Giọng o Bảy nhỏ nhưng đanh lại, chứa đầy sự hối thúc.
Khánh đỡ Ông Tư ngồi xuống chiếc đòn gánh bằng tre đặt sát mép bến. Ông cụ thở dốc, hai mắt nhắm nghiền, những nếp nhăn trên mặt co rúm lại vì đau đớn. Một dòng máu mũi đỏ sẫm, đặc quánh bắt đầu rỉ ra từ lỗ mũi bên phải của ông, chảy dài xuống bờ môi khô nứt nẻ rồi nhỏ giọt xuống vạt áo chàm. Khánh định đưa tay lau đi nhưng o Bảy đã ngăn lại:
- Đừng đụng vô máu của ông lúc ni. Để yên rứa. Bồi, mi cầm đồng hồ lại đây.
Thằng Bồi nãy giờ vẫn im lặng đứng nép sau cánh cửa rào tre. Nghe o Bảy gọi, nó lật đật chạy ra, hai tay bưng chiếc đồng hồ cơ bằng đồng cũ kỹ của tiệm. Mặt kính đồng hồ đã ố vàng, những bánh răng bên trong kêu tích tắc đều đặn, khô khốc. Thằng nhỏ ngồi xổm xuống cạnh chậu nước sông, mắt không rời khỏi cây kim phút đang chỉ gần sát số mười hai.
- Dạ, con canh rồi. Đúng bốn mươi chín phút, con sẽ báo o.
Bồi nói, giọng nó hơi run nhưng ánh mắt vẫn dán chặt vào mặt đồng hồ.
Cô Bảy gật đầu, o cúi xuống vén ống quần bên trái của Ông Tư lên. Khánh không tự chủ được mà lùi lại một bước. Dưới lớp vải chàm, bắp chân của Ông Tư không có màu da của người sống. Nó xám xịt, những đường gân máu nổi lên đen ngòm như những rễ cây bám chặt vào da thịt. Từ những lỗ chân lông li ti trên bắp chân, một thứ dịch màu đen nhạt, hôi hám rỉ ra liên tục. O Bảy không ngần ngại, o nắm lấy cổ chân Ông Tư, từ từ dìm cả bàn chân lẫn bắp chân trái của ông vào chậu nước sông Hương vừa múc lên.
Trong mười phút đầu tiên, chậu nước sông vốn đục ngầu phù sa bỗng nhiên biến đổi. Những vệt váng đen từ chân Ông Tư loang ra, nổi lềnh bềnh trên mặt nước rồi kết lại thành một lớp màng mỏng như mỡ động vật. Mùi sắt rỉ nồng nặc bốc lên từ chậu nước, lấn át cả mùi bùn sông rạng sáng. Ông Tư khẽ rên rỉ một tiếng nhỏ trong cổ họng, hai bàn tay gầy guộc như bộ xương khô bấu chặt lấy hai đầu gối, gân xanh nổi lên cuồn cuộn.
Khánh đứng khoanh tay trước ngực, mắt nhìn chăm chằm vào chậu nước. Hắn hỏi, giọng không có hơi ấm:
- Chú ấy bị răng rứa o?
Cô Bảy không ngước lên, o vẫn dùng hai bàn tay đầy sẹo của mình để giữ chặt cổ chân Ông Tư trong nước, ngăn không cho chân ông co rút lại theo bản năng. O giải thích, giọng khàn đi vì sương sớm:
- Cái xác ni đã quá hạn tám mươi mốt năm rồi. Giao ước dưới sông giữ cho thịt da không rữa, nhưng mỗi ngày đều phải trả giá bằng nước sông Hương lấy đúng giờ âm. Sáng ni ông mi bỏ một lần ngâm chân để lo việc giấy tờ của mi, chừ phần thịt da quá hạn đang đòi lại quyền mục nát của nó. Việc ngâm chân ni chỉ gia cố giao ước giữ xác tạm thời, không thể chữa lành cơ thể. Càng bỏ nghi thức, xác càng sụp nhanh.
Bồi vẫn ngồi im như một pho tượng nhỏ, ngón tay nó bấm chặt vào vành đồng hồ đồng. Tiếng tích tắc vang lên đều đặn giữa tiếng sóng vỗ rì rào dưới bến nước.
Đến phút thứ ba mươi, dòng máu mũi của Ông Tư mới bắt đầu ngừng chảy. Những vệt máu khô lại, bám đen trên cằm ông cụ. Hơi thở của ông đã bớt dốc, nhưng cả cơ thể vẫn run lên bần bật. Cô Bảy buông tay ra khỏi chân Ông Tư, o đứng dậy, lau hai bàn tay ướt sũng vào vạt áo rồi quay sang Khánh:
- Vô bưng cho ông chén nước chè xanh nóng. Tay ông run rứa không tự bưng được mô.
Khánh im lặng quay vào gian bếp, rót một chén nước chè xanh còn ấm từ trong ấm ủ giỏ lác. Khi hắn trở ra bến nước, Ông Tư đã mở mắt. Đôi mắt đục ngầu của ông cụ nhìn Khánh, chứa đựng một sự mệt mỏi cùng cực nhưng cũng có cả sự né tránh. Khánh bước tới, đưa chén chè ra trước mặt ông. Bàn tay Ông Tư run rẩy đưa lên, định đón lấy chén nước nhưng những ngón tay co quắp không thể khép lại được. Chén chè suýt nữa đã đổ nhào nếu Khánh không nhanh tay giữ chặt đáy chén.
Khánh không buông tay, hắn cứ thế giữ chén chè cho Ông Tư ghé môi vào uống từng ngụm nhỏ. Nước chè xanh ấm nóng thấm vào môi giúp sắc mặt ông cụ đỡ xám hơn đôi chút. Sau khi uống xong, Ông Tư tựa đầu vào vách tre của bến nước, giọng nói khàn đặc phát ra từ lồng ngực lép kẹp:
- Mi... mi thấy rồi đó. Cái xác ni chỉ còn là một cái vỏ rỗng được giữ bằng nước sông. Tau không sống bằng hơi thở của người thường nữa.
Khánh đặt chén không xuống đất. Hắn nhìn thẳng vào mắt Ông Tư, hỏi một câu mà hắn đã nung nấu suốt từ đêm qua:
- Cháu muốn hỏi thẳng o Bảy một chuyện. Nếu chú Tư chết, giao ước giữ xác này tan vỡ, thì căn hồn Tích trong thân xác cháu có bị kéo đi theo không? Cháu và chú ấy có bị khóa chung một mạng không?
Ông Tư nghe câu hỏi thì khẽ rùng mình, ông quay mặt đi hướng khác, không dám nhìn vào mắt Khánh. Cô Bảy đang đứng bên cạnh lau chùi chậu nhôm, o dừng tay lại. O nhìn Khánh, rồi nhìn Ông Tư, thở dài một tiếng dài sườn sượt.
- Mi muốn biết thật hay giả?
Cô Bảy hỏi.
- Cháu cần sự thật rõ ràng để tính đường cho mình. Cháu không muốn sống mà đầu óc lúc nào cũng treo trên sợi tóc của người khác.
Khánh đáp, giọng dứt khoát.
Cô Bảy không trả lời bằng lời nói suông. O bảo Bồi cất chiếc đồng hồ vào trong, rồi quay sang Khánh:
- Vô tiệm lấy cho o hai cái bát sứ trắng sạch trên chạn, một con dao nhỏ dùng để gọt cau, với hai tờ giấy bản viết tên sẵn. Một tờ ghi tên Nguyễn Chính, một tờ ghi tên Nguyễn Vĩnh Khánh.
Khánh làm theo ngay lập tức. Hắn bước vào gian tiệm tối om, tìm hai chiếc bát sứ trắng trơn thường dùng để cúng đất đai, lấy con dao nhỏ ở hộc tủ bếp và hai tờ giấy bản đã chuẩn bị sẵn từ trước. Khi hắn trở ra bến nước, trời đã sáng rõ hơn, để lộ những đám mây xám xịt sà thấp xuống đỉnh núi Ngự Bình phía xa.
Cô Bảy đặt hai chiếc bát sứ lên mặt đòn gỗ. O múc nước sông Hương đổ đầy vào hai bát, khoảng cách giữa hai bát chừng một gang tay, hoàn toàn riêng biệt và không có đường nước nào thông nhau. O đặt tờ giấy bản ghi tên "Nguyễn Chính" dưới đáy bát bên trái, và tờ ghi tên "Nguyễn Vĩnh Khánh" dưới đáy bát bên phải. Phía dưới cái tên Nguyễn Vĩnh Khánh, o đã dùng mực tàu viết một nét chữ "Tích" rất mờ, ẩn hiện dưới lớp nước đục.
- Chú Chính, đưa tay đây.
Cô Bảy nói với Ông Tư.
Ông Tư không phản kháng. Ông đưa bàn tay trái run rẩy ra. Cô Bảy dùng mũi dao gọt cau chích nhẹ vào đầu ngón tay trỏ của ông, nặn ra một giọt máu đỏ thẫm nhưng hơi ngả sang sắc đen. Giọt máu rơi tõm vào bát nước bên trái, ngay trên tờ giấy ghi tên Nguyễn Chính.
Giọt máu của Ông Tư vừa chạm nước liền chìm thẳng xuống đáy bát, không hề loang ra mà đọng lại thành một cục mực đen ngòm, bám chặt lấy mặt giấy như một dấu triện đá cổ.
Cô Bảy quay sang Khánh:
- Đưa tay mi đây.
Khánh chìa ngón tay trỏ ra. Cảm giác mũi dao sắc lạnh chạm vào da thịt làm hắn khẽ giật mình. Một giọt máu đỏ tươi, ấm nóng của người trẻ tuổi rơi vào bát nước bên phải.
Khánh cúi đầu nhìn kỹ. Giọt máu của hắn không chìm ngay. Nó loang rộng ra thành một quầng đỏ nhạt, trôi bồng bềnh trên mặt nước, bao phủ lấy cái tên Nguyễn Vĩnh Khánh. Phải mất một lúc lâu, khi quầng máu loãng dần, nó mới từ từ chìm xuống và chạm nhẹ vào nét chữ "Tích" viết mờ ở phía dưới đáy bát. Tuyệt đối không có một tia máu nào, dù là nhỏ nhất, di chuyển từ bát này sang bát kia. Hai bát nước vẫn đứng độc lập, một bên đen đặc tù đọng, một bên đỏ hồng loang loãng.
Cô Bảy chỉ tay vào hai bát nước, giọng o trầm xuống:
- Mi thấy chưa? Giao ước của Ông Chính năm xưa dùng thuật trấn hồn để giữ căn hồn Tích lại trong xác đứa nhỏ ba tuổi. Nhưng hai mươi ba năm qua, máu thịt của đứa nhỏ đó đã tự nuôi dưỡng linh hồn mi. Mi đã sống cuộc đời của mi, đi học, đi làm, có tên có tuổi đàng hoàng. Sinh mạng hiện tại của mi không còn bị khóa chết cùng cái xác mục nát ni nữa. Ông Chính có chết, giao ước của ông có tan, thì mi vẫn là Nguyễn Vĩnh Khánh đang sống.
Khánh nhìn giọt máu loang của mình dưới đáy bát, lòng hắn khẽ nhẹ đi một phần, nhưng sự nghi ngờ vẫn chưa tan hết. Hắn đưa ngón tay bị chích lên miệng mút nhẹ vị mặn của máu, hỏi tiếp:
- Còn vết bớt cá đỏ trên vai cháu thì răng?
Cô Bảy lắc đầu, o dùng tay đổ hai bát nước xuống sông Hương, vứt hai tờ giấy bản ướt sũng vào đống củi khô góc vườn:
- Vết bớt đó là nguy cơ riêng trên thân thể mi. Nó là dấu hồn trấn xác. Khi mô nó lan tới tim thì hồn mi bị đẩy ra ngoài, lúc đó mi mới chết lần hai. Cái đó là do căn hồn Tích chưa hoàn toàn hòa hợp với xác đứa trẻ năm hai ngàn lẻ ba, không liên quan đến việc sống chết của chú Tư mi. Mi tự lo thân mi trước đi đã.
Khánh im lặng. Hắn quay đầu nhìn Ông Tư. Ông cụ vẫn ngồi đó, mắt nhắm nghiền, gương mặt già nua như một gốc cây khô cằn chống chọi với gió bão. Khánh biết mình không thể trách móc thêm gì vào lúc này, khi cái chết đang cận kề bên chân trái của ông cụ mỗi ngày. Nhưng trong lòng hắn vẫn có một khoảng cách xa xôi, một bức tường ngăn cách được dựng lên bởi những lời nói dối suốt hai mươi ba năm qua.
Trời sáng hẳn. Mưa bắt đầu rơi lác đác trở lại trên sông Hương, những hạt mưa gõ lộp bộp vào chậu nhôm rỗng. Khánh cùng Cô Bảy dìu Ông Tư vào gian nhà trong, đặt ông nằm nghỉ trên chiếc chõng tre ở góc phòng chứa giấy tờ cũ.
Trong căn phòng này, mùi giấy bản ẩm mốc và mùi mực tàu cũ bốc lên nồng nặc. Trên chiếc bàn gỗ dài giữa phòng, Trần Quang đang ngồi đợi sẵn. Gương mặt gã nhà báo kiêm nghiên cứu lịch sử lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm thức trắng lục tìm tư liệu. Thấy Khánh bước vào, Quang đẩy kính cận lên sống mũi, vỗ vỗ vào một chồng hồ sơ dày cộp đặt trước mặt.
- Khánh, mi lại đây nhìn cái ni đi.
Quang nói, giọng gã khàn đi vì thiếu ngủ.
Khánh bước lại gần bàn. Quang lật từng trang giấy trong tập hồ sơ hiện đại. Đó là những tờ học bạ tiểu học có đóng dấu đỏ của trường tiểu học ở Bao Vinh, những bản sao học bạ trung học cơ sở, trung học phổ thông, rồi đến thẻ căn cước công dân của Khánh. Dưới cùng là hồ sơ đăng ký lao động tạm trú và hợp đồng làm việc của Khánh tại một cửa hàng đồ cổ ở Đà Nẵng từ vài năm trước.
Quang chỉ ngón tay vào những chữ ký ở cuối mỗi tờ giấy:
- Mi nhìn kỹ đi. Đây là chữ ký của mi năm mười tám tuổi khi đi làm chứng minh nhân dân, đây là chữ ký trong sổ lao động ở Đà Nẵng, và đây là nét chữ của mi chừ. Tất cả đều là một nét ký thống nhất, nét móc ngược ở chữ "K" và dấu sắc kéo dài. Lịch sử nhân cách của mi là một chuỗi liên tục. Mi có ký ức của một đứa trẻ lớn lên ở Huế, đi học, đi làm, biết sợ ma, biết cằn nhằn khi trời mưa lụt. Mi là Nguyễn Vĩnh Khánh, chứ đâu phải một bóng ma đột ngột thức dậy sau tám mươi năm ngủ quên dưới sông Hương để đòi làm Nguyễn Vĩnh Tích.
Khánh cầm một tờ học bạ tiểu học lên, nhìn cái tên "Nguyễn Vĩnh Khánh" được viết nắn nót bằng mực tím của giáo viên chủ nhiệm năm lớp một. Hắn khẽ miết ngón tay lên mặt giấy nhám. Đúng vậy, hắn nhớ rõ cảm giác lần đầu tiên được điểm mười môn chính tả, nhớ cả vết sẹo nhỏ ở đầu gối do ngã xe đạp năm mười tuổi. Những ký ức đó là thật và thuộc về hắn, khác với ký ức của người thanh niên hai mươi hai tuổi đã chết vào ngày mười chín tháng Tám năm một chín bốn lăm.
Phan Khanh từ cửa bước vào, trên tay anh cầm một tập tài liệu mỏng có đóng dấu giáp lai của cơ quan công an tỉnh. Vị đại úy cảnh sát hình sự đặt tập hồ sơ xuống cạnh tập giấy tờ của Quang. Giọng anh nghiêm nghị và dứt khoát:
- Đây là bản sao chứng thực hồ sơ bệnh án cấp cứu của Bệnh viện Trung ương Huế năm hai ngàn lẻ ba. Vụ tai nạn đuối nước của đứa trẻ ba tuổi tên Nguyễn Vĩnh Khánh tại khu vực ngã ba Sình. Bệnh án ghi rõ tim đã ngừng đập mười lăm phút trước khi đưa vào viện, nhưng sau đó có nhịp đập trở lại một cách hy hữu. Về mặt pháp lý và xã hội, người đang đứng đây chịu trách nhiệm cho mọi hành vi hiện tại là Nguyễn Vĩnh Khánh, công dân Việt Nam, sinh năm hai ngàn. Không có tòa án hay luật pháp nào công nhận một linh hồn từ năm một chín bốn lăm đang mượn xác cả.
Phan Khanh nhìn thẳng vào mắt Khánh, ánh mắt anh sắc sảo như muốn truyền thêm sự vững tin cho người thanh niên đối diện:
- Anh Khánh, tôi điều tra các vụ án bằng chứng cứ vật chất. Đối với tôi, anh là Nguyễn Vĩnh Khánh, người đã giúp tôi tìm ra sự thật về những tà vật gần đây. Đó là lựa chọn của riêng anh.
Khánh đặt tờ học bạ xuống bàn, hắn thở ra một hơi dài, cảm thấy lồng ngực mình bớt đi phần nào sự đè nén. Hắn quay sang nhìn Ông Tư đang nằm trên chõng tre ở góc phòng. Ông cụ đã nghe thấy toàn bộ cuộc đối thoại của ba người trẻ tuổi. Đôi mắt ông khẽ mở ra, nhìn Khánh với vẻ cầu thị.
Khánh bước lại gần chõng tre, đứng khoanh tay nhìn xuống ông cụ:
- Cháu hỏi chú một câu cuối. Ký ức của Tích... liệu có một ngày nào đó nó trỗi dậy và chiếm quyền kiểm soát cơ thể cháu không? Cháu có bị biến thành một người khác không?
Ông Tư cố gắng nghiêng đầu sang một bên để nhìn Khánh rõ hơn. Giọng ông thều thào, yếu ớt nhưng chứa đựng sự khẳng định chắc chắn:
- Ký ức của người chết giống như nước lũ tràn vào nhà thôi Khánh ơi. Nó có thể làm ướt chân mi, làm hỏng đồ đạc của mi, làm mi đau đớn trong những giấc mơ. Nhưng nó không thể thay mi cầm chổi quét nhà, không thể thay mi đưa ra quyết định nếu mi không tự nguyện giao cái tên của mi cho nó. Mi là Khánh. Chỉ cần mi giữ vững cái tên của mi, thì căn hồn của Tích cũng chỉ là một phần ký ức cũ nằm yên dưới đáy sông mà thôi.
Khánh im lặng nhìn Ông Tư một lúc lâu. Hắn không nói lời tha thứ, cũng không có vẻ gì là đã chấp nhận toàn bộ sự thật về thân phận kỳ quái của mình. Hắn quay lưng đi ra phía cửa phòng, giọng nói lạnh lùng vang lên trước khi bước ra ngoài:
- Cháu chưa tha thứ cho chú vì đã lừa dối cháu suốt thời gian qua. Cháu cũng không đồng tình với cách chú tự ý dùng xác người khác để giữ hồn Tích. Nhưng cháu sẽ không bỏ tiệm đi ngay trong ngày hôm nay. Cháu sẽ ở lại để làm rõ vụ chiếc nón bài thơ chữ huyết của Mai Trang. Cháu tự chọn làm việc đó, không vì chú.
Nói xong, Khánh bước thẳng ra gian tiệm phía trước.
Trời đã về chiều, mưa ngoài phố Bao Vinh vẫn rơi rả rích không ngừng. Những hạt mưa hắt vào hiên nhà rường cũ kỹ, tạo nên những tiếng động đều đặn, buồn tẻ. Gian tiệm Vong Ký lúc này chìm trong bóng tối lờ mờ của buổi hoàng hôn.
Khánh ngồi sau quầy gỗ, tay cầm chiếc bút lông cũ nhưng không đặt nét mực nào xuống cuốn Vong Ký trắng đang mở sẵn trên bàn. Hắn nhìn ra phía bàn thờ Thổ đặt ở góc tiệm. Trên bàn thờ, chiếc hộp gỗ niêm phong chiếc nón bài thơ chữ huyết của Mai Trang vẫn nằm im lìm dưới lớp bùa giấy vàng đã bắt đầu khô cứng.
Thằng Bồi ngồi ở ngưỡng cửa, hai tay bó gối nhìn ra con hẻm nhỏ trước tiệm. Nó thỉnh thoảng lại ngoái đầu nhìn chiếc hộp gỗ với vẻ lo lắng.
Đúng lúc đó, chiếc hộp gỗ bỗng nhiên rung nhẹ một cái. Tiếng động nhỏ đến mức nếu không có sự tĩnh mịch của gian tiệm lúc chiều muộn thì khó lòng nhận biết được. Khánh lập tức buông cây bút lông xuống, đứng dậy bước lại gần bàn thờ.
Chiếc hộp gỗ lại rung thêm một lần nữa, mạnh hơn lần trước. Lớp bùa giấy vàng dán trên nắp hộp khẽ lay động, những đường chỉ huyết vẽ bùa trên đó như đang sẫm màu lại dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu.
Bồi giật mình đứng phắt dậy, nó lùi lại sát bên cạnh Khánh, ngón tay nhỏ nhắn chỉ vào chiếc hộp:
- Eng Khánh... có tiếng động trong hộp. Hình như... hình như tiếng đó chẳng phải tiếng gió.
Khánh im lặng, hắn nín thở, lắng tai nghe kỹ.
Từ bên trong chiếc hộp gỗ niêm phong, một giọng con gái xuyên qua lớp gỗ dày và những lá bùa giấy vàng. Giọng nói khàn khàn, lạnh lẽo nhưng vô cùng rõ ràng, phá tan bầu không khí im lìm của gian tiệm:
- Khánh, mở nón ra. Tui không tìm Tích.