TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 155: Chén Chè Không Đụng Muỗng
Ngày 28/07/2026, trời Huế đổ mưa từ lúc bốn giờ sáng. Cơn mưa dai dẳng của những ngày cuối tháng Bảy âm lịch làm nước sông Hương đục ngầu, cuốn theo…
Nội dung chương
Ngày 28/07/2026, trời Huế đổ mưa từ lúc bốn giờ sáng. Cơn mưa dai dẳng của những ngày cuối tháng Bảy âm lịch làm nước sông Hương đục ngầu, cuốn theo những mảng bèo lục bình trôi dạt về phía hạ lưu.
Khánh rời tiệm Vong Ký khi trời còn chưa sáng rõ. Hắn không nói với Ông Tư một lời nào, cũng không để lại mảnh giấy nhắn. Trong túi áo khoác kaki sờn cũ của hắn là bản chép bài thơ máu của Mai Trang do Quang ghi lại từ hôm trước. Còn chiếc nón bài thơ thật vẫn nằm im trong hộp gỗ niêm tạm dưới kho của tiệm, được bảo quản theo đúng biên bản bàn giao tạm thời mà Phan Khanh đã ký. Hắn đi bộ. Hắn không gọi Năm Béo, cũng không bắt xe ôm. Hắn muốn cái lạnh của mưa thấm qua lớp vải, muốn cái buốt dọc hai bên thái dương làm đầu óc hắn bớt đặc lại sau những gì nghe được về cái chết năm 1945.
Đường từ Gia Hội lên Kim Long dài hun hút dưới màn nước trắng xóa. Khánh đi qua những dãy nhà rường cửa đóng then cài, qua những bức tường gạch cũ bám rêu đen kịt. Vết bớt cá đỏ neo trên bả vai trái hắn âm ỉ nóng; nhánh đỏ đã lan qua ngực khiến da thịt dưới xương ức nhói lên theo mỗi bước chân. Hắn biết cái xác này đang phản ứng. Căn hồn mang tên Tích đang cựa quậy dưới lớp da của đứa trẻ chết đuối năm 2003, nhưng hắn không muốn thừa nhận nó.
Quán chè của Cô Bảy nằm nép mình bên bờ sông ở Kim Long. Mái tôn cũ của quán gõ lộc cộc những tiếng khô khốc dưới làn mưa nặng hạt. Khi Khánh bước vào, quán chưa có khách. Cô Bảy đang lúi húi dọn mấy rổ bắp ngô luộc và khoai môn dưới bếp. Hơi nước ngọt lịm, ấm áp từ nồi chè bắp bốc lên, xua đi phần nào mùi bùn đất ẩm ướt ngoài sông.
Cô Bảy ngước mắt nhìn Khánh. Mặt bà không có chút ngạc nhiên nào, cứ như thể bà đã biết thế nào hắn cũng mò đến đây trong bộ dạng ướt sũng này. Bà không hỏi han, chỉ lặng lẽ múc một chén chè bắp đầy, đặt lên chiếc bàn gỗ thô trước mặt hắn rồi tự xưng o như mọi ngày.
- Ăn đi cho ấm bụng. Mưa ni còn kéo dài tới tối.
Khánh ngồi xuống ghế. Hắn nhìn chén chè bắp vàng óng, khói bốc nghi ngút, nhưng không hề đụng muỗng. Hắn ngồi im lặng như thế hơn một giờ đồng hồ. Tiếng mưa trên mái tôn lúc to lúc nhỏ, thỉnh thoảng có tiếng đò dọc máy nổ xình xịch chạy qua sông, tiếng nước vỗ vào bờ đá nghe rào rạt.
Cô Bảy dọn dẹp xong xuôi, kéo chiếc ghế đẩu ngồi đối diện hắn. Bà lấy vạt áo lau vệt nước mưa bắn vào thành bàn, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt tái nhợt của Khánh.
- Mi đi bộ từ Gia Hội lên đây chỉ để ngồi ngó chén chè thôi răng?
Khánh chống hai tay lên đầu gối, giọng hắn khàn đi vì lạnh.
- O Bảy, tui hỏi o câu ni. Nếu căn hồn tui thật sự là Tích, thì mấy cái nợ nần, oán hận với cái chết của người tên Tích đó có buộc tui phải gánh hết không?
Hắn tự xưng là tui. Hắn không dùng cái tên Tích để nói về mình. Hắn vẫn muốn giữ khoảng cách với vong hồn đã chết từ tám mươi mốt năm trước.
Cô Bảy thở dài, tiếng thở dài chìm vào tiếng mưa gõ trên mái tôn. Bà chỉ tay vào chén chè đã nguội bớt.
- Mi phải phân định cho rõ ba thứ. Thứ nhất là ký ức thật sự của bản thân mi, những gì mi tự trải qua từ lúc mở mắt sống trong cái xác ba tuổi năm hai ngàn lẻ ba tới chừ. Thứ hai là điều mi biết qua đống giấy tờ, vật chứng người ta bày ra trước mắt. Và thứ ba là điều người khác đang cố nhồi vào đầu, bắt mi phải tin để làm theo ý họ.
Bà dừng lại một chút, chỉnh lại chiếc kiềng bạc trên cổ.
- Căn hồn cũ có thể để lại dấu đau trên xác mi. Nó làm mi giật mình khi nghe ai đó gọi tên Tích. Nhưng nó không có quyền tước đi lựa chọn của Nguyễn Vĩnh Khánh hiện tại. Luật của Vong Ký trắng từ đời xưa đã rõ: người chấp bút chỉ ghi tên khi vong đồng thuận và chính người chấp bút cũng đồng ý nhận. Không ai ép được mi nếu mi không tự tay đặt bút.
Khánh nhìn vệt nước mưa chảy dài trên mặt bàn gỗ.
- Rứa còn chú Tư? Chú giấu tui suốt hai mươi ba năm qua. Chú nói chú làm rứa để bảo vệ tui. Có thật là chú muốn tốt cho tui không, hay chú chỉ muốn giữ lại người đã chết mà chú không chịu buông?
Cô Bảy không né tránh ánh mắt của Khánh. Bà cũng không tìm cách biện hộ cho người đang ngồi ở tiệm Vong Ký.
- Chuyện lão Chính trấn hồn mi vào xác đứa nhỏ chết đuối năm hai ngàn lẻ ba, rồi giấu mi chừng nớ năm, đó là cái nghiệp lão tự chọn. Lão sợ mất điều mình đã chọn giữ lại nên lão làm càn. Cái giá của giao ước giữ xác lão đang phải trả hằng ngày đó thôi. Nhưng đó là món nợ của lão Chính, lão phải tự gánh. Mi không việc chi phải gánh thay, cũng không cần ép mình phải tha thứ ngay lập tức khi đầu óc chưa thông.
Tiếng bước chân lẹp xẹp từ ngoài ngõ cắt ngang cuộc trò chuyện. Bồi xuất hiện dưới hiên quán chè. Nó mặc chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh rộng thùng thình, chân đi dép nhựa bám đầy bùn đất. Trên tay nó ôm khư khư một túi nilon lớn đựng bộ quần áo khô của Khánh. Nó vừa thở hổn hển vừa cởi mũ áo mưa ra, để lộ mái tóc ướt bết vào trán.
- Eng Khánh!
Nó gọi nhỏ một tiếng rồi đi vào trong quán. Nó không lao đến hỏi han dồn dập, cũng không tỏ ra hoảng hốt. Nó lặng lẽ đặt túi quần áo khô lên bàn, kéo chiếc ghế đẩu ngồi cách Khánh một khoảng.
- Ông Tư vẫn ngồi ở quầy. Ông chưa đụng vô cái hộp đựng nón. Ông bảo con mang đồ khô lên cho eng thay, kẻo lạnh rồi lại lên cơn ho như đợt trước.
Khánh nhìn thằng bé mười tuổi đang run nhẹ vì lạnh, lòng hắn chùng xuống. Hắn thò tay vào túi áo, rút bản chép bài thơ máu của Mai Trang ra. Khi mắt hắn vừa chạm vào hai chữ Nguyễn Tích được Quang ghi chú ở góc trang giấy, vết bớt cá đỏ trên bả vai trái bỗng rần lên một cơn nóng bỏng rát. Cơn đau men theo những nhánh đỏ qua ngực và dọc các xương sườn, khiến hắn phải gập người lại, một tay bấu chặt vào cạnh bàn gỗ.
Bồi định vươn tay ra đỡ nhưng Khánh giơ tay cản lại. Hắn gấp vội tờ giấy bản chép lại, nhét sâu vào túi quần. Hắn nhắm mắt, cố giữ cho nhịp thở không bị đứt quãng. Trong đầu hắn, hắn tự lặp đi lặp lại danh tính của mình như một câu chú để đẩy lùi cơn đau của căn hồn cũ.
- Nguyễn Vĩnh Khánh. Nguyễn Vĩnh Khánh. Nguyễn Vĩnh Khánh.
Hắn đọc thầm cái tên ấy ba lần. Cơn nóng dưới ngực dịu dần, chỉ còn lại cảm giác âm ỉ như một vết thương cũ gặp ngày mưa gió. Hắn mở mắt ra, nhìn Bồi rồi gật đầu nhẹ để thằng bé yên tâm.
Cô Bảy nhìn chằm chằm vào túi quần của Khánh, nơi cất bản chép bài thơ. Bà nói, giọng trầm xuống hẳn:
- Chữ huyết trên chiếc nón dưới kho đang thấm qua lớp giấy vàng niêm tạm. Bồi nghe được tiếng oán bên trong, nghĩa là còn một ý muốn chưa được nghe đúng cách. O không dám chắc ý muốn đó là của Mai Trang hay của kẻ chen pháp ngoài kia đang mượn nón để kéo mi vào tròng. Nhưng nếu mi cứ trốn tránh, cái nón đó sẽ tự hủy cùng với lời chứng của nó.
Khánh đứng dậy. Hắn cầm lấy túi quần áo khô Bồi mang đến, đi vào gian sau của quán chè để thay bộ đồ ướt sũng ra. Khi trở ra, hắn nhìn chén chè bắp vẫn còn nguyên trên bàn, rồi nhìn Cô Bảy.
- Tui về. Tui sẽ gọi o ấy lên hỏi cho rõ ràng. Nhưng tui nói trước với o, tui chỉ nghe lời hẹn của o ấy thôi. Tui chưa hứa sẽ thu cái nón ni, cũng không chắc sẽ ghi tên o ấy vô Vong Ký trắng. Tui là Nguyễn Vĩnh Khánh, tui không làm việc theo bổn phận của người đã chết năm một chín bốn lăm.
Cô Bảy gật đầu, bà không cản hắn.
- Mi tự đi mà nói với lão Chính. Lão đang chờ mi ở tiệm đó.
Khánh dắt Bồi đi ra khỏi quán chè. Trời chiều Kim Long xám xịt, những hạt mưa quất chéo vào mặt rát buốt. Hai người đi bộ về phía Gia Hội. Bồi đi bên cạnh, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn Khánh nhưng không nói lời nào. Nó biết eng Khánh của nó đang phải mang một cái gánh quá nặng so với thân xác hai mươi sáu tuổi.
Khi họ về đến tiệm Vong Ký, trời đã sập tối hoàn toàn. Đèn dầu trong tiệm đã được thắp lên, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù. Mùi nhang trầm cũ lẫn với mùi ẩm mốc của gỗ rương tạo nên một bầu không khí đặc quánh, ngột ngạt.
Ông Tư đang ngồi ở quầy gỗ. Gậy chống của ông dựng bên cạnh, chân trái ông duỗi thẳng, có vẻ như không còn chút lực nào để co duỗi tự nhiên. Sắc mặt ông xám ngoét dưới ánh đèn dầu, đôi mắt mệt mỏi nhìn chằm chằm vào chiếc hộp gỗ niêm tạm đặt giữa bàn.
Thấy Khánh bước vào, Ông Tư không hỏi hắn đã đi đâu cả ngày. Ông chỉ lặng lẽ vươn bàn tay run rẩy ra, mở chốt chiếc hộp gỗ.
- Mi về rồi thì coi cái ni đi.
Khánh bước lại gần quầy. Lớp giấy vàng niêm tạm dán trên mặt hộp đã bị máu thấm đỏ từ bên trong, rách ra một đường nhỏ. Khi nắp hộp mở ra, chiếc nón bài thơ nằm im lìm trong lòng hộp. Nhưng điều khiến Khánh khựng lại là những vệt máu mới.
Dưới chữ Tích viết bằng máu cũ từ năm 1945, xuất hiện thêm bốn chữ mới với nét viết hoàn toàn khác. Nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy như được vạch ra bởi một bàn tay đang kiệt sức, nhưng nét mực đỏ tươi vẫn đang rỉ ra, thấm ướt cả nan lá nón:
- Đừng ghi tên tôi.