TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 151: Ngày Mất Của Tích
Khánh thức trắng đêm sau buổi đọc nón. Ngọn đèn dầu trên chiếc bàn gỗ nhỏ trong phòng hắn đã cạn dầu từ lúc ba giờ sáng, để lại mùi bấc cháy khét lẹt…
Nội dung chương
Khánh thức trắng đêm sau buổi đọc nón. Ngọn đèn dầu trên chiếc bàn gỗ nhỏ trong phòng hắn đã cạn dầu từ lúc ba giờ sáng, để lại mùi bấc cháy khét lẹt quyện vào cái không khí ẩm ướt của những ngày mưa dầm xứ Huế. Hắn ngồi bó gối trên chiếc phản gỗ cũ, mắt nhìn trân trân vào tờ giấy trắng đặt trên đùi. Trên mặt giấy chỉ có đúng hai dòng chữ viết bằng bút bi xanh, nét mực hơi run nhưng được tô đi tô lại nhiều lần đến mức hằn sâu xuống thớ giấy:
Tích chết năm 1945.
Khánh đang sống năm 2026.
Khánh đặt bút xuống, đầu ngón tay hắn tê dại. Hắn muốn viết tiếp một câu gì đó để nối hai dòng này lại với nhau, hoặc chí ít là để tìm ra một điểm chung giữa hai danh tính ấy, nhưng ngòi bút cứ dừng lại ở khoảng trống giữa hai hàng chữ. Vết bớt đỏ hình con cá trên bả vai trái của hắn bắt đầu nhói lên từng nhịp đều đặn, giống như một cái đồng hồ cát bằng máu đang đếm ngược thời gian dưới da thịt hắn. Hắn với tay kéo cổ áo lên cao để che đi vết bớt, cố ngăn cái cảm giác nóng ran đang có xu hướng lan rộng ra phía trước ngực.
Bên ngoài, trời bắt đầu hửng sáng nhưng mây mù vẫn xám xịt, che khuất cả rặng tre bên kia sông. Tiếng gõ cửa phòng vang lên rất nhẹ, tiếp theo là tiếng bước chân nhỏ nhẹ của Bồi dừng lại ngoài hành lang.
- Eng Khánh ơi, con để cháo thịt băm ở cửa nghe. O Bảy nấu đó.
Khánh không ngoảnh đầu lại, giọng hắn khàn đặc:
- Ừ, mi cứ để đó đi. Chút nữa tau ăn.
Tiếng Bồi ngập ngừng một lát, rồi thằng bé nói khẽ qua khe cửa gỗ:
- Eng ơi, cái hộp niêm cất chiếc nón lá... sáng ni con thấy nước đỏ rỉ ra ngoài kẽ gỗ. Con không dám mở niêm, nhưng mùi nước sông nồng lắm. Nó cứ rỉ ra từng giọt dưới đáy hộp, dù tối qua eng đã dán bùa kỹ rồi.
Khánh nhíu mày. Hắn đứng dậy, bước đến mở hé cửa. Bồi đang đứng đó, hai tay bưng khay cháo nóng, mắt nhìn hắn đầy lo lắng. Khánh nhìn xuống khay cháo rồi nhìn ra phía gian tiệm ngoài, nơi chiếc hộp gỗ thông đựng chiếc nón lá vẫn nằm im lìm trên chiếc bàn dài. Dưới chân bàn, một vệt nước màu hồng nhạt đã đọng thành một vũng nhỏ trên nền gạch tàu màu đỏ sẫm.
- Mi tuyệt đối không được chạm tay trần vào cái hộp nớ nghe chưa?
Khánh dặn, giọng nghiêm khắc.
- Kể cả o Bảy hay ai bảo dọn cũng không được đụng vào. Cứ để nguyên khay cháo đó cho tau.
Bồi gật đầu lia lịa rồi lui ra ngoài sân. Khánh đóng cửa lại, nhìn bát cháo bốc hơi nghi ngút nhưng không hề có cảm giác thèm ăn. Đầu óc hắn lúc này chỉ tràn ngập những hình ảnh hỗn độn về một đêm mưa tầm tã năm 1945, tiếng nước sông réo bên tai và một cái tên được hét lên trước khi mặt nước khép lại.
Đến khoảng chín giờ sáng, Trần Quang đến tiệm. Gương mặt gã bạn thân của Khánh phờ phạc, hai mắt trũng sâu vì thiếu ngủ. Quang đặt một tập tài liệu dày cộp bọc trong túi nilon chống nước lên bàn gỗ, thở hắt ra một hơi dài.
- Nước sông Hương dâng sát mép bến Bao Vinh rồi.
Quang nói, tự tay rót một chén trà nguội uống cạn.
- Tau vừa chạy từ kho lưu trữ của sở về. Đây là bản chụp sổ hộ tịch năm một chín hai ba và danh sách những người mất tích trong biến động tháng Tám năm một chín bốn lăm ở vùng Hương Trà.
Khánh kéo ghế ngồi xuống đối diện Quang. Hắn mở tập tài liệu ra, những trang giấy photocopy hiện lên những dòng chữ Hán và chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, nét mực nhòe nhoẹt do thời gian nhưng vẫn đọc được.
- Mi xem đi.
Quang chỉ ngón tay vào một dòng được đánh dấu bằng bút chì.
- Năm một chín hai ba, tại làng cổ bên sông, có một đứa trẻ tên Nguyễn Vĩnh Tích được khai sinh. Ngày tháng năm sinh còn đọc rõ trên bản ghi. Còn đây là danh sách những người mất tích được lập vào cuối năm một chín bốn lăm.
Khánh nhìn vào dòng chữ chỉ tay của Quang. Cái tên "Nguyễn Vĩnh Tích" hiện lên rõ ràng, bên cạnh ghi chú: "Mất tích ngày mười chín tháng Tám năm một chín bốn lăm."
- Đúng ngày mười chín tháng Tám.
Khánh lẩm nhẩm, ngón tay hắn chạm vào mặt giấy ráp.
- Hưởng dương hai mươi hai tuổi.
- Để chắc chắn, tau đã đối chiếu thông tin trong sổ hộ tịch với danh sách mất tích và chữ huyết trên vành nón mà Phan Khanh chụp lại tối qua.
Quang lấy ra một tấm ảnh chụp cận cảnh vành nón lá có những nét chữ viết bằng máu đã khô.
- Sổ hộ tịch và giấy trình báo mất tích đều ghi đúng tên Nguyễn Vĩnh Tích, sinh năm một chín hai ba. Tên trên vành nón cũng ghi đủ như vậy, không có dị bản.
Khánh không nói gì. Hắn đứng dậy bước đến bàn thờ, lấy chiếc đĩa sứ đựng mẩu giấy bản cháy dở tối qua đem đặt cạnh tập tài liệu của Quang. Hắn lấy một chén nước sông Hương đã được lọc qua cát sỏi, dùng một chiếc cọ nhỏ thấm nước rồi nhỏ một giọt lên bản chụp sổ hộ tịch, một giọt khác nhỏ lên vết chữ huyết trên mẩu giấy bản.
Mực trên bản chụp photocopy của Quang không hề có phản ứng gì, nước chỉ thấm ướt giấy rồi loang ra. Nhưng giọt nước sông vừa chạm vào vệt chữ huyết trên mẩu giấy bản cũ, những nét chữ màu đỏ sẫm bỗng co cụm lại. Chúng không tan vào nước mà tự động di chuyển, uốn lượn rồi đọng lại thành một vòng tròn đỏ thắm quanh đúng dòng chữ ghi ngày 19/08 trên bản danh sách mất tích của Quang.
- Cái ni...
Quang nuốt nước bọt, lùi lại nửa bước.
- Máu của người chết cách đây tám mươi mốt năm vẫn còn nhận biết được ngày mất của mình sao?
- Không phải máu nhận biết.
Khánh nói, giọng lạnh lùng.
- Là cái oán khí của người chết nằm dưới đáy sông đang chỉ đường cho chúng ta. Tích muốn chúng ta biết anh ấy đã chết như thế nào và vào ngày nào.
Đúng lúc đó, Bồi từ ngoài hiên chạy vào, mặt cắt không còn giọt máu. Thằng bé níu lấy tay áo Khánh, giọng run rẩy:
- Eng Khánh... Con mới đi ngang qua cái hộp đựng nón. Con nghe thấy... nghe thấy có tiếng người nói ở trỏng.
Khánh quay sang nhìn Bồi:
- Mi nghe thấy cái chi?
Bồi áp hai bàn tay vào tai, cố nhớ lại:
- Có tiếng một cô gái đọc đi đọc lại mấy con số: "Mười chín, mười chín, mười chín tháng Tám". Giọng cô ấy nhỏ lắm, như tiếng gió luồn qua khe lá. Rồi sau đó... sau đó có tiếng một người đàn ông thở dốc, giống như người ta bị hụt hơi dưới nước vậy. Tiếng "ùng ục" ghê lắm eng ơi.
- Mi có nghe thấy tiếng trẻ con hay tiếng ai khác chen vào không?
Khánh hỏi dồn.
Bồi lắc đầu mạnh:
- Dạ không. Chỉ có hai tiếng đó thôi. Một tiếng đọc ngày tháng, một tiếng ngạt nước. Không có tiếng ai khác hết.
Khánh thở hắt ra. Hắn quay sang nhìn Cô Bảy lúc này vừa bước ra từ gian nhà trong. O Bảy hôm nay mặc bộ đồ bà ba màu nâu sẫm, mái tóc bạc được búi gọn gàng sau gáy. Trên cổ tay o, vết sẹo hình chữ X nổi lên đỏ hồng dưới ánh sáng ban ngày. O nhìn Khánh, rồi nhìn cái hộp gỗ thông vẫn đang rỉ nước đỏ dưới sàn.
- Mi muốn biết rõ hơn không, Khánh?
Cô Bảy hỏi, giọng o trầm và có chút gì đó nặng nề.
- O có cách chi sao?
Khánh hỏi.
Cô Bảy đi đến góc tủ thờ, lấy ra một xấp giấy vàng mã đã ngả màu vàng úa. O nhúng một tờ giấy vàng vào bát nước sông Hương đặt trên bàn thờ, chờ cho tờ giấy thấm đẫm nước sông rồi vắt nhẹ cho ráo. O bước đến bên chiếc hộp gỗ thông, đặt tờ giấy vàng ướt lên trên nắp hộp, ngay vị trí dán lá bùa niêm phong.
- Đặt tay lên đây.
Cô Bảy chỉ vào tờ giấy vàng.
- Chỉ chạm qua lớp giấy ni thôi. Nhớ kỹ, thấy cái chi cũng phải giật tay ra ngay lập tức. Đừng có tham lam mà đi sâu vào cái ký ức của người chết, hồn mi sẽ bị kéo xuống đáy sông đó.
Khánh điều hòa nhịp thở. Hắn bước tới, đưa bàn tay phải ra. Các ngón tay hắn hơi run, nhưng khi lòng bàn tay chạm vào mặt tờ giấy vàng ướt lạnh, một luồng khí buốt giá lập tức chạy dọc từ lòng bàn tay lên đến bả vai.
Một mảnh cảm giác ngắn ngủi nhưng cực kỳ rõ nét ập vào đầu hắn.
Khánh thấy mình đang đứng trên bùn nhão. Bùn lạnh ngắt và nhớp nháp kẹp lấy các ngón chân. Cổ tay phải của hắn đau nhói như bị một gọng kìm bằng sắt siết chặt, da thịt bị cọ xát đến mức rách bươm. Trước mắt hắn là một khoảng tối mênh mông của dòng sông Hương trong đêm dông, phía xa xa là những ánh đèn chao đảo, mờ ảo của Cồn Hến.
- Dìm nó xuống!
Một giọng nói lạnh lùng, âm u vang lên bên tai hắn.
Ngay sau đó là cảm giác ngột thở dội ngược lên lồng ngực. Nước sông lạnh ngắt tràn vào mũi, vào miệng, xé rách phổi hắn. Khánh vùng vẫy, nhưng cơ thể hắn tê dại, không thể phản kháng. Hắn cảm nhận được cái lạnh buốt của đáy sông đang nuốt chửng lấy mình.
- Khánh! Giật tay ra!
Tiếng Cô Bảy hét lớn bên tai.
Khánh giật phắt tay lại như vừa chạm vào lửa bỏng. Hắn lùi lại mấy bước, suýt nữa ngã nhào vào chiếc ghế mây phía sau. Lồng ngực hắn phập phồng dữ dội, hắn thở dốc, hai tay ôm lấy cổ họng như thể nước sông vẫn đang chặn đứng đường thở của mình.
Cùng lúc đó, vết bớt hình cá đỏ trên vai hắn nóng rực lên. Cơn nóng rát lan nhanh từ bả vai xuống gần xương ức, khiến Khánh đau đớn khuỵu một gối xuống sàn nhà. Hắn cắn chặt răng để không bật ra tiếng rên rỉ.
Cô Bảy nhanh nhẹn bước tới, tay cầm một chiếc khăn vải đã thấm đẫm nước sông Hương mát lạnh. O ép mạnh chiếc khăn lên ngực Khánh, ngay vị trí vết bớt đang hành hạ hắn. Mùi nước sông thanh mát cùng với hơi lạnh từ chiếc khăn dần dần dập tắt cơn bỏng rát dưới da thịt hắn.
- Tau đã dặn mi rồi.
Cô Bảy nói, giọng o run lên vì giận dữ pha lẫn lo âu.
- Cái hồn của Tích oán khí quá nặng. Mi chưa đủ sức để gánh cái ký ức đó đâu. Hôm nay cấm mi không được chạm vào chiếc nón hay bất cứ thứ chi liên quan đến cái chết của anh ta nữa. Nghe rõ chưa?
Khánh gật đầu yếu ớt, tựa lưng vào chân bàn gỗ để đứng dậy. Hắn dùng tay lau mồ hôi lạnh đang chảy ròng ròng trên trán.
Đúng lúc đó, Phan Khanh bước vào tiệm. Vị đại úy cảnh sát hình sự vẫn mặc bộ thường phục giản dị, gương mặt nghiêm nghị và ánh mắt sắc sảo lướt nhanh qua vũng nước đỏ dưới chân bàn rồi dừng lại ở tập tài liệu trên bàn.
- Tôi đã cho người kiểm tra lại danh sách mất tích năm một chín bốn lăm trong kho lưu trữ của tỉnh.
Phan Khanh nói, giọng anh trầm và dứt khoát. Anh dùng từ "tôi" để giữ khoảng cách công việc rõ ràng với Khánh.
- Bản chụp của anh Quang mang đến là hoàn toàn chính xác. Hồ sơ gốc vẫn còn lưu giữ dưới dạng vi phim. Nguyễn Vĩnh Tích thực sự đã mất tích vào ngày mười chín tháng Tám năm đó. Về mặt pháp lý, vụ án này đã quá thời hạn điều tra từ lâu, nhưng về mặt tà vật... tôi đề nghị chúng ta phải niêm phong bản chụp này lại như một chứng cứ liên quan.
Phan Khanh bước tới, lấy ra một chiếc túi bọc chuyên dụng của ngành cảnh sát, cẩn thận bỏ bản chụp danh sách mất tích vào trong rồi dán băng keo niêm phong lại. Anh nhìn Khánh, nói tiếp:
- Anh Khánh, tôi biết anh đang cố tìm ra sự thật. Nhưng hãy cẩn thận. Những thứ thuộc về năm một chín bốn lăm không đơn giản chỉ là một vụ án mạng thông thường. Nó liên quan đến cả một giai đoạn biến động lịch sử của vùng đất này.
Khánh im lặng nhìn Phan Khanh làm việc. Hắn biết Phan Khanh nói đúng. Cái chết của Tích không chỉ là một vụ mưu sát bình thường dưới sông Hương, mà nó là điểm khởi đầu cho một chuỗi giao ước kéo dài suốt hơn tám mươi năm qua, trói buộc nhiều thế hệ của Thoải Phủ.
Chiều muộn hôm đó, mưa đã ngớt nhưng trời vẫn âm u. Khánh một mình đi bộ ra bờ sông Hương, đoạn nhìn thẳng sang Cồn Hến. Nước sông dâng cao, đục ngầu phù sa và cuốn theo những đám rong đen trôi dạt vào bờ. Gió từ cửa biển Thuận An thổi ngược lên mang theo vị mặn mòi và mùi bùn đất nồng nặc.
Khánh đứng trên bờ đá, nhìn những con sóng vỗ vào chân bến đò. Hắn tự nói rõ ràng từng dữ kiện trong đầu mình, như một cách để định hình lại lý trí:
- Nguyễn Vĩnh Tích. Sinh năm một chín hai ba. Chết ngày mười chín tháng Tám năm một chín bốn lăm. Hưởng dương hai mươi hai tuổi. Anh ấy đã chết ở khu vực Cồn Hến này, dưới tay Âm Vũ.
Khánh nhắm mắt lại. Hắn không gọi đó là cái chết của chính mình. Hắn biết rõ mình là Nguyễn Vĩnh Khánh, sinh ra và lớn lên ở thời hiện đại, có cuộc sống riêng, có những người bạn như Quang, như Phan Khanh. Nhưng hắn cũng không thể phủ nhận sợi dây liên kết bằng máu đang hiện hữu trên vai mình. Linh hồn của Tích đang nằm trong thân xác hắn, và cái chết oan khuất của người thanh niên hai mươi hai tuổi năm xưa đang đòi hỏi một câu trả lời thỏa đáng.
Khánh quay trở về tiệm Vong Ký khi trời đã sập tối. Gian tiệm lúc này vắng lặng, chỉ có Ông Tư đang ngồi im lặng trên chiếc ghế mây bên cạnh bàn thờ. Chiếc gậy gỗ của ông cụ đặt tựa vào thành ghế, đôi bàn tay gầy guộc đan chéo vào nhau đặt trên đùi.
Khánh không đi vào gian trong mà bước thẳng đến trước mặt Ông Tư. Hắn thọc tay vào túi áo, lấy ra một phong thư cũ kỹ đã ngả màu vàng ố. Đây chính là phong thư gửi cho "Chưởng môn Nguyễn Chính" mà hắn và Quang đã tìm thấy dưới lớp lót của chiếc hộp đựng ấn ngọc Bảo Đại từ vài ngày trước.
Khánh đặt phong thư lên mặt bàn gỗ, ngay trước tầm mắt của Ông Tư.
- Chú Tư.
Khánh nói, giọng hắn bình thản nhưng chứa đựng một áp lực vô hình.
- Phong thư này gửi cho Chưởng môn Nguyễn Chính vào năm một chín bốn bốn. Cháu nghĩ đã đến lúc chú phải mở nó ra trước mặt cháu rồi. Chúng ta không thể cứ giả vờ như không có chuyện gì xảy ra nữa.
Ông Tư nhìn chằm chằm vào phong thư trên bàn. Dưới ánh đèn dầu leo lét, cái tên "Nguyễn Chính" viết bằng mực tàu đen nhánh như đang hiện rõ hơn bao giờ hết. Đôi mắt đục ngầu của ông cụ khẽ động đậy, những nếp nhăn trên trán xô lại vào nhau.
Ông Tư từ từ đặt chiếc gậy mây sang một bên. Ông ngước nhìn Khánh, giọng nói khàn khàn và trầm đục vang lên trong gian tiệm tối:
- Mi muốn biết Nguyễn Chính là ai thì lấy nước sông với giấy vàng ra đây.