TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 164: Ngọn Lửa Đi Ngược Gió

Cô Bảy giật phắt mảnh giấy vàng trên bàn thờ, kẹp giữa hai ngón tay rồi miết thẳng vào ngọn lửa đen đang bò ngược trên mặt gỗ rường. Mảnh giấy vàng mã…

Nội dung chương

Cô Bảy giật phắt mảnh giấy vàng trên bàn thờ, kẹp giữa hai ngón tay rồi miết thẳng vào ngọn lửa đen đang bò ngược trên mặt gỗ rường. Mảnh giấy vàng mã mỏng dính chạm vào vệt muội đen liền phát ra tiếng xèo xèo nhỏ, nhưng không hề bén lửa. Từng hạt muội đen li ti xuyên qua thớ giấy, để lại những lỗ thủng lấm tấm nguội ngắt như bị tàn nhang rơi trúng. Cô Bảy đưa mảnh giấy lên mũi ngửi, chân mày nhíu chặt lại.

Mùi dầu lạc khét lẹt bốc lên từ vệt muội. Mùi này khác hẳn mùi trầm hương hay mùi giấy tiền của tiệm Vong Ký. Nó mang theo cái vị ngai ngái của dầu ép thủ công bị đun quá lửa, lẫn với mùi bùn non phơi nắng lâu ngày.

Quang đứng bên cạnh, tay cầm chiếc kính lúp nhỏ, cúi đầu quan sát vệt muội đen đang co cụm lại trên bàn gỗ rường. Anh khẽ đẩy gọng kính, giọng trầm xuống:

- Muội than thông thường khi gặp nước sẽ loang ra, nhưng thứ này lại kết thành sợi. Nhìn kỹ thì thấy nó đang di chuyển theo một hướng cố định.

Bồi lo lắng nép sau lưng Khánh, hai bàn tay nhỏ xíu bấu chặt lấy vạt áo khoác của anh. Thằng bé thì thào, giọng run run:

- Eng Khánh ơi, con nghe có tiếng lách tách nhỏ lắm. Giống như tiếng bấc đèn dầu đang cháy trong buồng tối rứa tê.

Khánh nhíu mày, cúi xuống nhìn vệt muội đen giờ đã bò sát mép hòm gỗ đựng tà vật. Hắn cằn nhằn:

- Cái tiệm ni dạo ni giống cái chợ quá hè. Hết vụ nón bài thơ của chị Mai Trang bên nghĩa địa Phú Cam, chừ lại tới cái thứ muội đen ngòm ni tự bò vô nhà. Chú Tư thì yếu, o Bảy thì cứ thở ra thở vào lo nghĩ. Tui thiệt tình muốn dọn tiệm đi chỗ khác cho rảnh nợ.

Cô Bảy lắc đầu, đặt mảnh giấy vàng bị thủng lỗ chỗ xuống bàn:

- Mi đừng có nói bậy. Muội ni không thuộc về cái nón của con Trang. Khí của con Trang là khí sông lạnh, còn cái ni có mùi dầu lạc cháy của đèn thờ. Có thứ khác bám vào tiệm từ một vật ngoài kia rồi. Nó mượn hơi hướng của tiệm để tìm đường về đây đó.

Đúng lúc đó, tiếng bước chân thèn thẹt ngoài hiên cắt ngang lời Cô Bảy. Nước mưa từ mái hiên tôn đổ xuống rào rào, kèm theo tiếng thở dốc của một người đàn ông. Cánh cửa rường hé mở, Năm Béo bước vào trong bộ áo mưa cánh dơi màu xanh ướt sũng. Anh ta vừa cởi nón bảo hiểm vừa vuốt nước mưa trên mặt, thở hổn hển:

- Khánh ơi! Có chuyện ni hệ trọng lắm. Tau chạy xe từ bên Bao Vinh qua đây mà suýt té mấy bận vì đường trơn.

Năm Béo lúng túng thò tay vào trong lớp áo mưa, lôi ra một bao ni lông được bọc kỹ nhiều lớp để tránh nước sông thấm vào. Anh ta mở bao, rút ra ba tấm ảnh in trên giấy bóng thường, đưa cho Khánh:

- Mi coi cái ni đi. Thằng cha bán đồ cổ dạo bên Bao Vinh gửi cho tau tối qua. Hắn định bán cho tau cái đèn ni, nhưng tau nhìn thấy ghê quá nên chưa dám xuống tiền.

Khánh nhận lấy ba tấm ảnh. Đó là ảnh chụp một chiếc đèn thờ bằng đồng thau cổ, thân đèn thon dài, chân đế loe rộng. Đèn được đặt trên một chiếc bàn gỗ mục nát, xung quanh là những bức vách đất của một căn phòng trọ tối tăm. Điều kỳ quái nằm ở ngọn lửa đang cháy trên bấc đèn.

Trong tấm ảnh thứ nhất, chiếc rèm cửa phía sau đèn bị gió thổi bay sang bên phải rất mạnh, các nếp vải tung lên rõ rệt. Thế nhưng, ngọn lửa của chiếc đèn lại nghiêng hẳn về bên trái, tức là đi ngược chiều gió.

Tấm ảnh thứ hai chụp cận cảnh hơn. Ngọn lửa đen đỏ lẫn lộn ấy vẫn cong vút về hướng ngược lại với hướng gió lùa.

Đến tấm ảnh thứ ba, ngọn lửa đã biến thành một vệt dài mảnh, nhọn hoắt như một mũi dao chĩa thẳng về phía ống kính máy ảnh.

Khánh chuyền ba tấm ảnh cho Quang. Quang đón lấy, đưa kính lúp lên soi sát vào chân đế của chiếc đèn thờ trong ảnh. Sau một lúc quan sát tỉ mỉ, Quang chỉ ngón tay vào những đường nét mờ nhạt ở phần đế đồng:

- Khánh, mi nhìn chỗ ni đi. Dưới chân đèn có hai hàng sóng nước chạm nổi. Đây là hoa văn đặc trưng của đồ đồng thời Nguyễn, nhưng nhìn kỹ thì thấy những đường sóng này bị đục chồng lên một dấu thờ cũ đã bị xóa đi. Người ta cố tình dùng đục để phá bùa của dân vạn đò ngày xưa.

Khánh khoanh tay, tựa lưng vào cột nhà rường:

- Đục phá bùa? Nghĩa là cái đèn ni từng được dùng để trấn yểm cái chi đó dưới sông, sau có người vớt lên rồi đục bỏ dấu cũ để đem bán?

Quang gật đầu:

- Đúng rứa. Nhưng dấu thờ gốc là chi thì ảnh mờ quá, tau nhìn không ra. Chỉ thấy hai hàng sóng nước mới đục đè lên trông rất cẩu thả. Thường thì dân vạn đò kỵ nhất là việc dùng lại đèn thờ của những nơi có vong dữ. Người bán chiếc đèn ni tên chi, anh Năm?

Năm Béo lắc đầu, vẻ mặt vẫn chưa hết sợ hãi:

- Hắn xưng tên Tuấn, ở trọ trong một cái kiệt nhỏ bên Bao Vinh. Hắn nói cái đèn ni được chuyển ra từ một nơi gọi là Bích Động. Tau định sáng ni qua coi hàng trực tiếp để thương lượng giá cả. Ai dè gọi điện thoại thì thuê bao không liên lạc được. Tau chạy qua tận phòng trọ của hắn thì cửa khóa ngoài. Hỏi quanh, chẳng ai rõ hắn đi mô từ nửa đêm qua. Chỉ còn ba tấm ảnh ni hắn gửi qua Zalo cho tau từ tối qua thôi.

Năm Béo thở dài, đưa tay vuốt ngực:

- May mà tau chưa đưa tiền cọc. Nhìn ngọn lửa đi ngược gió rứa là tau thấy nổi da gà rồi. Có tiền vạn tau cũng không dám rước thứ ni về nhà.

Khánh trầm ngâm một lát rồi nói với Quang:

- Mi dùng điện thoại chụp lại ba tấm ảnh ni, gửi qua cho anh Phan Khanh bên hình sự. Nhờ ảnh tra cứu thông tin của gã thuê phòng trọ bên Bao Vinh coi thử. Tình trạng của tui chừ không tiện tự đi lung tung.

Khánh quay sang dặn dò Năm Béo bằng giọng dứt khoát:

- Anh Năm, nếu cái đèn ni xuất hiện lại ở chợ đồ cổ hay dọc sông, tuyệt đối không được chạm tay vô. Thấy nó ở đâu thì báo liền cho tui. Thứ ni không lành đâu, nó đang tự tìm đường hướng về phía tiệm mình rồi đó.

Năm Béo gật đầu lia lịa:

- Tau biết rồi. Có cho thêm tiền tau cũng tránh xa. Thôi tau về kẻo mưa lớn lại tắc đường Đập Đá.

Năm Béo vội vàng mặc lại áo mưa rồi ra xe. Tiếng máy xe máy nổ giòn rồi nhỏ dần trong tiếng mưa đổ mỗi lúc một nặng hạt ngoài phố cổ Bao Vinh.

Khánh quay trở lại bàn gỗ. Vệt muội đen lúc nãy đã biến mất hoàn toàn trên mặt gỗ rường, không để lại một dấu vết nào ngoài mùi dầu lạc cháy vẫn còn thoang thoảng trong không khí ẩm mốc của tiệm.

Bỗng nhiên, Bồi từ gian nhà dưới chạy lên, mặt mày tái mét. Nó kéo vạt áo Khánh, giọng hốt hoảng:

- Eng Khánh ơi! Chậu đồng của chú Tư... chậu đồng vẫn khô rang dưới bếp. Quá giờ ngâm chân lâu rồi mà con không thấy chú xuống.

Khánh giật mình. Hằng ngày, vào giờ Dần, khi trời còn chưa rạng, Ông Tư phải ngâm chân bằng nước sông Hương đủ bốn mươi chín phút để duy trì sinh khí cho thân xác đã suy kiệt. Đây là nghi thức bắt buộc mà ông không bao giờ bỏ qua, dù trời mưa hay nắng. Hôm nay đã gần tám giờ sáng; thời điểm làm lễ trước bình minh đã trôi qua mấy tiếng.

Khánh vội vàng chạy xuống gian bếp phía sau tiệm.

Gian bếp tối tăm, chỉ có chút ánh sáng xám xịt từ ô cửa sổ nhỏ trên cao rọi xuống. Ông Tư đang ngồi trên chiếc ghế gỗ cũ kỹ tựa lưng vào vách đất. Chân trái của ông buông thõng trên nền đất ẩm, hoàn toàn bất động và có vẻ co quắp lại. Trên tay ông cầm một chiếc khăn vải thô đã thấm đẫm máu mũi đỏ tươi. Máu vẫn tiếp tục rỉ ra từ hai lỗ mũi, nhỏ xuống ngực chiếc áo chàm màu xanh sẫm.

Khánh bước tới, quỳ xuống bên cạnh chiếc ghế:

- Chú Tư! Răng lại ra nông nỗi ni? Nước sông đâu sao chú không ngâm?

Ông Tư ngước đôi mắt đục mờ nhìn Khánh, hơi thở của ông đứt quãng, khàn đặc:

- Đêm qua... lớp chắn quanh tiệm bị động. Có thứ âm khí từ phía sông thổi vào mạnh quá. Tau phải dốc chút tàn lực giữ cửa cho tụi mi ngủ yên. Sáng ra... cái chân trái ni không nhấc nổi nữa, không có sức ra bến xách nước.

Khánh nhìn chiếc chậu đồng trống rỗng đặt bên góc bếp, lòng hắn dâng lên một nỗi xót xa xen lẫn tức giận. Hắn đứng phắt dậy, giật lấy chiếc xô nhôm bên cạnh chậu nước:

- Chú ngồi yên đó. Con đi lấy nước.

Khánh xách xô chạy thẳng ra bến đò Bao Vinh. Cơn mưa mùa hè trút xuống đầu hắn, làm ướt sũng mái tóc và vai áo. Nước sông Hương buổi sáng hôm nay đục ngầu phù sa, cuộn sóng nhẹ dưới những hạt mưa bong bóng phập phồng. Khánh cúi người múc đầy xô nước sông lạnh ngắt. Sức nặng của xô nước làm hai vai hắn mỏi nhừ, nhưng hắn không dám dừng lại nghỉ một nhịp nào, cố sức xách xô nước chạy ngược về tiệm.

Vào đến bếp, Khánh đổ nước sông vào ấm nhôm lớn, đặt lên bếp lò củi còn âm ấm từ tối qua. Hắn nhóm lửa, đun cho nước vừa đủ ấm rồi đổ vào chiếc chậu đồng đặt ngay dưới chân Ông Tư.

Khánh quỳ xuống nền đất ẩm ướt của gian bếp. Hắn cẩn thận nâng bàn chân trái lạnh ngắt, cứng đờ như khúc củi khô của Ông Tư đặt vào trong lòng chậu nước ấm.

Ngay khi dòng nước sông Hương ngập qua mắt cá chân ông, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Dòng máu mũi đang chảy ròng ròng của Ông Tư bắt đầu ngưng lại. Sắc mặt xám xịt của ông dần có chút huyết sắc, nhịp thở cũng bớt dồn dập hơn.

Thế nhưng, khi Khánh nhìn kỹ vào bàn chân của Ông Tư dưới làn nước ấm, hắn không khỏi rùng mình. Lớp da trên mu bàn chân và các kẽ ngón chân của ông bắt đầu nứt ra thành những vệt trắng dã, khô khốc như bùn đất lòng sông gặp nắng hạn. Những vết nứt không hề chảy máu, chỉ có những sợi tơ màu xám nhạt như rong rêu bám sâu vào thớ thịt, khẽ lay động theo làn nước ấm trong chậu đồng.

Cô Bảy từ trên nhà đi xuống, đứng tựa vào khung cửa bếp nhìn cảnh tượng đó. Bà khẽ thở dài, giọng nói nhuốm màu mệt mỏi:

- Cái giá phải trả cho tám mươi mốt năm giữ xác đó con. Giao ước của Thoải Phủ không cho không ai cái chi. Mỗi ngày trôi qua là một ngày cái xác ni đòi nợ. Chú mi dùng Hương Thuật để trì hoãn cái chết từ năm bốn lăm đến chừ, nhưng nợ dồn nợ, thân xác ni sắp chịu hết nổi rồi. Chỉ cần gián đoạn một buổi ngâm chân là âm khí trong xác sẽ tự động trỗi dậy ăn mòn da thịt.

Ông Tư nhìn xuống bàn chân đang nứt nẻ của mình trong chậu nước, rồi ngước mắt nhìn Khánh. Giọng ông khàn khàn nhưng chứa đầy sự nghiêm nghị:

- Khánh... mi đừng vì thấy tau rứa mà chịu thỏa hiệp với cuốn sổ. Đừng biến việc chăm sóc tau thành cái cớ để mi chấp nhận cái tên Tích. Đứa sống là mi, mi phải sống cho ra sống bằng cái tên của mi. Việc của tau là việc của người đã chết từ lâu rồi.

Khánh lau mồ hôi pha lẫn nước mưa trên trán, đứng dậy dọn dẹp xô chậu bên cạnh bếp lò. Hắn không nhìn thẳng vào mắt Ông Tư, chỉ đáp bằng giọng cộc lốc:

- Chú đừng có nghĩ nhiều. Con chăm chú vì chú là người sống chung mái nhà với con mấy năm ni, hằng ngày chú nấu cơm cho con ăn, chỉ dạy con làm việc ở tiệm. Con làm việc ni với tư cách là Nguyễn Vĩnh Khánh trả nghĩa cho người đi trước, chứ không phải vì con là Tích hay con muốn gánh nợ thay ai. Chú cứ lo ngâm chân cho đủ bốn mươi chín phút đi.

Cô Bảy bước lại gần bếp lò, đặt bàn tay ấm áp lên vai Khánh:

- Để o canh cho chú mi ngâm chân. Mi lên nhà trên nghỉ ngơi đi, người ngợm ướt sũng hết cả rồi, khéo lại cảm lạnh.

Khánh gật đầu, lẳng lặng đi lên gian nhà ngoài. Hắn thay bộ quần áo ướt ra, dùng khăn khô lau đầu rồi ngồi thẫn thờ bên chiếc bàn gỗ rường. Quang vẫn đang ngồi đó, chăm chú đối chiếu những ghi chép trong cuốn sổ tay lịch sử của mình với ba tấm ảnh chụp chiếc đèn thờ mà Năm Béo để lại.

Quang ngước lên nhìn Khánh, khẽ thở dài:

- Tình hình ông Tư có vẻ ngày càng tệ đi hả Khánh?

Khánh chống tay lên cằm, mắt nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài đường phố:

- Ừm. Thân xác chú ấy giống như một cái bình đất đã nứt nẻ nhiều đường, chừ chỉ cần một chấn động nhỏ là có thể vỡ tan tành bất cứ lúc nào. Tui chỉ sợ cái ngày Cửa Âm Hương mở ra vào rằm tháng Bảy ni, chú ấy sẽ không trụ nổi.

Quang im lặng một lát rồi đẩy cuốn sổ tay về phía Khánh:

- Tau vừa tra cứu lại thư tịch cổ về địa danh Bích Động. Ở Huế không có địa danh nào tên là Bích Động cả. Chỉ có một ngôi chùa cổ tên là Bích Động tự ngoài Bắc, nhưng chiếc đèn này rõ ràng mang hoa văn của dân vạn đò sông Hương. Có khả năng "Bích Động" ở đây không phải là tên đất, mà là tên của một cái động cát hoặc một bến sông ngầm dưới lòng sông Hương mà dân chài cổ hay gọi tránh đi.

Khánh định trả lời thì chiếc điện thoại đặt trên bàn bỗng đổ chuông liên hồi. Màn hình hiển thị tên Phan Khanh.

Khánh nhanh chóng bắt máy, bật loa ngoài:

- Anh Khanh, tui nghe đây. Có tin tức chi về gã bán đèn chưa?

Đầu dây bên kia, Phan Khanh nói rất gấp. Tiếng còi xe và tiếng mưa rơi lộp độp vào kính ô tô chen vào lời anh:

- Anh Khánh, tôi vừa cho người đến kiểm tra phòng trọ của gã tên Tuấn bên Bao Vinh theo địa chỉ anh gửi. Căn phòng hoàn toàn trống rỗng. Chủ nhà trọ nói gã đã dọn sạch đồ đạc và rời đi từ nửa đêm qua, không để lại bất kỳ giấy tờ tùy thân nào ngoài cái tên giả.

Phan Khanh dừng lại một nhịp, hơi thở của anh có phần dồn dập hơn bình thường:

- Nhưng có một chuyện kỳ lạ vừa xảy ra ở văn phòng của tôi.

Khánh nhíu mày, người hơi đổ về phía trước:

- Chuyện chi rứa anh Khanh?

Phan Khanh cố giữ giọng bình tĩnh của một cảnh sát hình sự. Tuy vậy, anh vẫn không giấu được sự kinh ngạc:

- Tấm ảnh chụp chiếc đèn thờ mà anh Quang gửi qua Zalo, tôi vừa cho trợ lý in ra giấy để kẹp vào hồ sơ theo dõi đối tượng nghi vấn. Khi nãy tôi đặt tập hồ sơ trên bàn làm việc để đi pha trà. Khi quay lại, tôi ngửi thấy mùi khét. Góc tấm ảnh in bằng giấy thường, ngay chỗ có hình ngọn lửa của chiếc đèn thờ, tự dưng bốc khói rồi cháy sém đi một khoảng tròn. Tôi khẳng định trên bàn không hề có bật lửa, tàn thuốc hay bất kỳ nguồn nhiệt nào.

Khánh lạnh toát cả sống lưng. Hắn vội vàng quay sang nhìn tấm ảnh in mà Năm Béo mang tới đang đặt trên mặt bàn gỗ rường.

Tấm ảnh vẫn nằm im lìm dưới ánh sáng mờ nhạt của ngọn đèn dầu trên bàn thờ. Thế nhưng, ngay trước mắt Khánh và Quang, góc tấm ảnh bắt đầu chuyển sang màu vàng ố, rồi đen dần lại như có một đốm lửa vô hình đang châm vào từ phía sau. Một làn khói mỏng màu xám nhạt, mang theo mùi dầu lạc cháy khét lẹt bốc lên nghi ngút.

Khánh vội vàng dùng ngón tay miết mạnh vào đốm cháy sém để dập lửa. Mặt giấy nóng ran làm da ngón tay hắn đỏ ửng lên.

Khi làn khói tan đi, Khánh và Quang cùng nhìn vào tấm ảnh và lập tức đứng chết lặng.

Góc tấm ảnh nơi có hình ngọn lửa của chiếc đèn thờ đã bị cháy sém một khoảng tròn màu đen than. Nhưng điều đáng sợ hơn cả là ngọn lửa đen trong ảnh - vốn nghiêng sang bên trái ngược chiều gió trong ba tấm ảnh trước đó - nay đã quay thẳng góc, hướng trực diện về phía người đang cầm tấm ảnh nhìn vào.

Ngay dưới chân đèn bằng đồng, nơi có hai hàng sóng nước chạm nổi, xuất hiện hai dấu tay đen ngòm, nhỏ như tay một đứa trẻ lên ba. Chúng chồng khít lên nhau, bám chặt lấy chân đèn như đang cố trồi khỏi mặt nước.

Chương khác

Xem thêm