Trấn Yểm Tô Lịch - Chương 15: Hố Móng Sụt Lún Nghiêm Trọng
Mưa phùn rây thành từng vệt mỏng dính vào kính chắn gió xe máy khi Nguyễn Minh Tuấn rẽ vào con ngõ nhỏ dẫn vào khu tập thể Văn Chương, mạn sau Văn Miếu…
Nội dung chương
Mưa phùn rây thành từng vệt mỏng dính vào kính chắn gió xe máy khi Nguyễn Minh Tuấn rẽ vào con ngõ nhỏ dẫn vào khu tập thể Văn Chương, mạn sau Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Đường ngõ Hà Nội ngày giáp Tết ẩm sì, bốc lên mùi cống rãnh ứ đọng và mùi vôi vữa mục ruỗng từ những bức tường gạch thời bao cấp. Những tầng nhà cơi nới bằng khung sắt chuồng cọp vươn ra khoảng không xám xịt, dây phơi quần áo đung đưa dưới mưa nhỏ giọt tỏng tòng tong xuống nền xi măng nứt nẻ.
Tuấn dựng chân chống xe, hai bắp chân run rẩy sau chặng đường dài chạy từ công trường ven sông Tô Lịch về đây. Dưới lớp áo khoác dày, mồ hôi lạnh túa ra dính bết vào sống lưng. Cơn sốt đêm qua chưa hoàn toàn hạ nhiệt, hốc mắt anh cay xè, thái dương giật thon thót từng hồi theo nhịp tim. Cổ tay trái giấu kín dưới ống tay áo len vẫn âm ỉ bỏng rát, nơi vệt bớt chữ Triện nổi cộm lên mặt da như một vết sẹo sắt nung.
Anh ấn tay vào ngực áo khoác, cảm nhận góc cứng cáp của cuốn sổ tay kỹ thuật bìa da. Những nét can vội bằng ngòi chì 2B nằm trọn vẹn trong đó.
Tuấn bước lên cầu thang hẹp dẫn lên tầng ba. Cầu thang tối om, thoang thoảng mùi thuốc bắc ẩm ướt và mùi tro trấu kho cá của các hộ dân. Đến căn phòng số 304, anh dừng lại trước cánh cửa gỗ lim sơn màu cánh gián đã bong tróc từng mảng lớn, bên trên treo một tấm biển đồng nhỏ khắc bốn chữ: "Trần Khắc Toàn - Nghiên cứu Hán Nôm".
Tuấn thở hắt ra một hơi dài, đưa ngón tay gõ nhẹ ba tiếng lên mặt gỗ.
"Ai đấy?" Giọng một ông lão khàn đặc vang ra từ bên trong, kèm theo tiếng ho khúc khắc và tiếng sột soạt của giấy bản.
"Thưa thầy Toàn, cháu là Tuấn, bạn cùng lớp cao học của Huy bên Viện Địa chất. Tuần trước Huy có gọi điện xin phép thầy cho cháu qua nhờ thầy thẩm định một đoạn minh văn cổ." Tuấn cất tiếng, cố ghìm bớt sự run rẩy nơi đáy họng.
Cánh cửa cọt kẹt mở hé.
Sau khe cửa là gương mặt gầy guộc của một cụ già ngoài bảy mươi tuổi, đôi mắt đục mờ sau cặp kính lão dày cộp gọng đồi mồi. Ông mặc chiếc áo len cổ lọ màu tro xám, trên vai khoác chiếc khăn dạ cũ. Đôi mắt ông quét từ đỉnh đầu xuống đôi giày dính đầy bùn đất của Tuấn, rồi dừng lại ở quầng thâm thâm tím dưới bọng mắt anh.
"Tuấn bên công trình hố móng Tô Lịch phải không?" Thầy Toàn mở rộng cửa, lách người sang một bên. "Huy nó dặn tôi rồi. Vào đi, khép cửa lại kẻo gió bấc nó lùa sái khớp."
Căn phòng tập thể rộng chừng ba mươi mét vuông, kê kín những giá sách gỗ mộc chạm trần. Sách chữ Hán đóng gáy chỉ dù, những tập rập bia đá bọc giấy xuyến chỉ xám xếp chồng lên nhau thành từng lớp dày cộp. Một chiếc bàn trà thấp kê cạnh cửa sổ nhìn ra ngọn cây bàng khẳng khiu trơ trụi lá. Không khí trong phòng đượm mùi trầm hương ngan ngát, át đi cái ẩm mốc đặc trưng của mùa đông miền Bắc.
Tuấn khẽ cởi giày, bước chân rụt rè đến bên chiếc phản gỗ.
"Ngồi xuống đi, uống ngụm trà nóng cho ấm người." Thầy Toàn rót một chén trà mạn vàng óng, hơi nước bốc lên nghi ngút đưa hương sen thoang thoảng. "Nghe thằng Huy bảo cậu làm trắc địa công trình ven sông, gặp phải vấn đề về niên đại tầng đất?"
Tuấn bưng chén trà bằng hai tay, hơi nóng phả vào lòng bàn tay tê dại khiến anh tỉnh táo đôi chút. Anh đặt chén trà xuống bàn, không vòng vo thêm nữa:
"Thưa thầy, cháu không đến hỏi về tầng đất. Đêm qua, ở độ sâu mười lăm mét dưới lòng móng ven sông Tô Lịch, đơn vị thi công của cháu đào trúng một vật kim loại cổ. Trên thân vật đó có khắc bốn dải văn tự thời phong kiến. Cháu biết thầy là chuyên gia đầu ngành về minh văn thời Bắc thuộc và Lý Trần, nên cháu mạo muội can lại bốn mặt chữ này mang đến nhờ thầy giải mã."
Thầy Toàn khẽ nhíu đôi mày bạc, vẻ mặt lộ rõ nét thận trọng:
"Độ sâu mười lăm mét ven sông Tô Lịch? Đoạn nào?"
"Đoạn gần ngã ba sông, đối diện đường Hoàng Quốc Việt kéo dài." Tuấn đáp.
Vừa nghe đến đó, bàn tay đang cầm chén trà của ông lão hơi khựng lại. Nước trà sánh nhẹ ra mép chén sứ men lam. Ông nhìn sâu vào mắt Tuấn, ánh nhìn sắc lạnh khác hẳn vẻ lòa xòa ban nãy:
"Hiện vật đâu? Cậu mang theo nó à?"
"Dạ không." Tuấn lập tức chối, bàn tay bất giác siết chặt gấu áo. "Vật đó nặng và dính bùn đất công trường, chủ đầu tư đang niêm phong tạm ở lán chỉ huy. Cháu chỉ kịp can lại mặt chữ bằng giấy xốp kỹ thuật trước khi bàn giao."
Thầy Toàn thở dài một hơi, đặt chén trà xuống đĩa lót bằng gốm:
"Mở ra xem nào."
Tuấn rút cuốn sổ tay từ ngực áo, cẩn thận lật đến trang cuối cùng rồi xé rời bốn tờ giấy can mỏng đặt thẳng thớm lên mặt bàn gỗ. Từng vệt chì 2B hiện rõ trên nền giấy trắng ngà, ghi lại tỉ mỉ những nét khắc chữ Triện uốn lượn như thân rắn giãy giụa, những móc câu sắc nhọn và dải chỉ đỏ quấn quanh thân cọc sắt được anh phác họa lại bằng mực đỏ.
Thầy Toàn với tay lấy chiếc kính lúp cán đồng trên giá sách, kéo chiếc đèn bàn chụp sắt lại gần. Ánh đèn vàng rọi thẳng xuống bốn bản can.
Căn phòng tập thể chìm vào sự im lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng gió mùa rít qua khe cửa sổ gỗ lỏng lẻo và tiếng thở đều đặn, nặng nề của vị giáo sư già.
Tuấn ngồi thẳng lưng, hai bàn tay nắm chặt đầu gối đến trắng bệch các khớp ngón. Mắt anh dán chặt vào từng biến đổi trên khuôn mặt thầy Toàn.
Ban đầu, đôi mắt đục của ông lão chỉ lướt qua các nét chữ với vẻ tò mò thuần túy của một nhà khảo cổ học. Nhưng chỉ sau mười giây, lưng ông đột ngột thẳng đơ. Cặp lông mày hoa râm nhíu chặt lại thành một búi gút sâu hoắm giữa trán. Bàn tay cầm kính lúp của ông bắt đầu run rẩy, mặt kính va vào vành đèn kim loại phát ra những tiếng leng keng khe khẽ.
"Cái này..." Thầy Toàn lẩm bẩm, giọng nói lạc hẳn đi. "Cậu can từ vật gì? Chiều dài bao nhiêu? Hình dáng thế nào?"
"Một thanh sắt hình thoi dài gần hai gang tay, bốn cạnh vát nhọn, đuôi phình to như chuôi kiếm, rỉ sét đen kịt." Tuấn nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc. "Xung quanh thân cọc có quấn ba vòng chỉ đỏ nhuộm chu sa, đan chéo theo hình mắt lưới."
Xoảng!
Chiếc kính lúp tuột khỏi tay thầy Toàn, rơi thẳng xuống mặt bàn gỗ, đập vào mép chén trà làm nước trà đổ lênh láng ra mặt bàn.
Nước trà vàng sậm thấm nhanh vào mép tờ giấy can, làm nhòe đi một góc nét chì của mặt chữ thứ nhất. Nhưng ông lão hoàn toàn không để ý đến điều đó. Khuôn mặt già nua của ông tái ngắt không còn một giọt máu, đôi môi mỏng run rẩy kịch liệt như vừa nhìn thấy một con rắn độc trườn ra từ kẽ nứt sàn nhà.
"Thầy... thầy đọc được chữ trên đó không ạ?" Tuấn run giọng hỏi, nỗi bất an dâng nghẹn lên lồng ngực.
Thầy Toàn ngước mắt nhìn Tuấn, trong ánh mắt đó chứa đựng nỗi kinh hoàng tột độ xen lẫn sự giận dữ:
"Cậu có biết mình vừa chạm tay vào thứ gì không hả cậu kỹ sư?"
Tuấn lắc đầu, ngón tay bấu chặt vào đùi:
"Cháu... cháu chỉ nghĩ đó là cọc móng hoặc di vật trấn trạch thời xưa..."
"Trấn trạch cái gì! Cọc móng cái gì!" Thầy Toàn đập mạnh bàn tay gầy trơ xương xuống mặt bàn, giọng run lên vì phẫn nộ. "Đây là Cửu U Trấn Long Đinh! Vật yểm cấm kỵ thời Đường Ý Tông! Là thủ bút và thuật pháp của Đô hộ kinh lược sứ Cao Biền!"
Tiếng quát của ông lão vang lên chát chúa giữa căn phòng vắng.
Hai tai Tuấn lùng bùng. Cái tên Cao Biền dội vào đầu anh như một cú sét đánh ngang tai, kéo theo toàn bộ những ký ức kinh hoàng từ giấc mộng huyết thủy đêm qua. Hình bóng người đàn ông mặc trường bào đỏ viền chỉ vàng đứng trên mũi thuyền gỗ, bàn tay giơ cao thanh sắt găm thẳng xuống đáy xoáy nước đỏ ngầu, tất cả trùng khớp đến rợn người.
Thầy Toàn run rẩy đưa ngón tay chỉ vào từng tờ giấy can, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng:
"Bốn mặt này không phải kinh Phật, cũng chẳng phải câu chúc lành. Mặt thứ nhất khắc bốn chữ: 'Thần Sách Quân Chế', ấn chứng binh phù của đội cấm quân hộ vệ triều Đường. Mặt thứ hai: 'Càn Phù Tứ Niên', năm thứ tư niên hiệu Càn Phù đời vua Đường Ý Tông, đúng vào thời điểm Cao Biền cho đắp La Thành, đào sông dẫn nước để cắt đứt long mạch đất phương Nam!"
Ông lão hít một hơi sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo len dày:
"Mặt thứ ba là đạo bùa nghịch hành bát quái, dùng máu súc vật và chỉ ngũ sắc để khóa chặt khí huyệt. Còn mặt thứ tư... mặt thứ tư chính là bài minh thư trấn yểm gồm mười sáu chữ Triện: 'Trấn tỏa nghịch long - Vĩnh cố hoàng đồ - Động tắc huyết dũng - Trầm luân vạn kiếp'!"
Tuấn lẩm bẩm nhắc lại từng từ, mỗi âm tiết thốt ra đều khiến sống lưng anh lạnh toát:
"Động tắc huyết dũng... Trầm luân vạn kiếp..."
"Nghĩa là ghìm chặt nghịch long, giữ yên bờ cõi hoàng triều; nếu lay động cọc sắt thì máu sẽ trào ra đỏ sông, muôn đời chìm trong tai kiếp!" Thầy Toàn nắm chặt lấy cổ tay Tuấn, những ngón tay gầy guộc siết mạnh đến mức móng tay găm vào da thịt anh. "Sông Tô Lịch vốn là một chi lưu huyết mạch ôm lấy thành Đại La xưa, nối thẳng vào hồ Tây và sông Hồng. Năm xưa khi đắp thành, Cao Biền nhìn thấy thế đất nơi đây có hình rồng uốn lượn, long khí bốc lên ngùn ngụt, e sợ phương Nam sẽ xuất hiện chân mệnh thiên tử lật đổ bắc triều. Hắn đã dùng thuật phong thủy tà đạo mượn phù chú và sắt thép cắm hàng trăm chiếc Trấn Long Đinh xuống các huyệt đạo trọng yếu dọc triền sông, hòng đóng đinh con rồng ấy dưới đáy bùn vĩnh viễn!"
Ông lão thở dốc, đôi mắt trợn tròn nhìn chằm chằm vào khoảng không vô định ngoài khung cửa sổ:
"Hơn một ngàn năm qua, sông Tô Lịch bị nghẽn mạch, trở thành dòng sông tù đọng ô uế cũng chính vì những cái đinh oan nghiệt này chưa được nhổ hết! Cọc sắt nằm yên dưới đáy bùn sâu mười lăm mét là để giữ cho hai luồng âm dương không xung đột. Cọc sắt còn cắm, long mạch dù bị ghìm nghẹt thở nhưng thế đất vẫn giữ được sự cân bằng tạm bợ. Nhưng nếu rút nó lên..."
Thầy Toàn ngưng bặt, bàn tay ông buông thõng khỏi cổ tay Tuấn.
"Rút lên thì sao hở thầy?" Tuấn lắp bắp hỏi, mồ hôi trên trán rỏ từng giọt xuống mặt bàn.
"Rút đinh ra, nghịch long thức giấc, oán khí tích tụ ngàn năm của những kẻ bị hiến tế dưới chân thành La Thành sẽ theo dòng nước đen mà tràn lên mặt đất!" Giọng thầy Toàn chuyển sang thì thào run rẩy. "Đó là đại họa long mạch! Khí huyệt bị vỡ tung, bùn độc dưới đáy sông sẽ sủi bọt, lòng đất sụt lún, nước sông sẽ đòi lại từng thước đất mà con người đã xâm phạm! Toàn bộ khu vực ven sông Tô Lịch trong bán kính vài cây số sẽ biến thành đầm lầy chết chóc!"
Ông lão đột ngột chồm người tới, hai mắt đỏ ngầu nhìn thẳng vào Tuấn:
"Cậu nói thật cho tôi biết! Thanh Trấn Long Đinh đó... nó vẫn còn cắm dưới đáy móng đúng không? Các cậu chỉ đào thấy phần chuôi rồi dừng lại đúng không?"
Tuấn chết lặng. Cổ họng anh như có một khối chì đè nghẹn, không thể thốt ra thành lời.
Anh nhớ lại khoảnh khắc gầu máy xúc của bác Sáu cào trúng vật cứng trong đêm mưa. Anh nhớ lại lúc mình tự tay lau sạch bùn đất trên cọc sắt, rồi vì lòng tham và sự tò mò mù quáng mà giấu nó vào ba lô mang về nhà. Thanh đinh ấy lúc này không còn nằm dưới đáy hố móng mười lăm mét nữa. Nó đang nằm trong ngăn tủ sắt tại căn hộ chung cư của anh, cách đây chưa đầy ba cây số.
"Cậu Tuấn..." Thầy Toàn nhận ra sự im lặng bất thường của anh, sắc mặt ông từ kinh hãi chuyển sang tuyệt vọng cùng cực. "Cậu... các cậu đã rút nó lên rồi sao?"
"Cháu..." Tuấn run rẩy lùi người lại, hai vai so lại vì sợ hãi. "Lúc gầu xúc múc lên... nó đã bị bứng bật khỏi tầng đất sét rồi..."
"Đồ điên!" Thầy Toàn đập bàn đứng phắt dậy, toàn thân run lên bần bật. "Trời đất ơi! Các cậu rước đại họa vào người rồi! Ai cho phép các cậu nhổ cây đinh phong ấn ngàn năm của người ta lên? Cậu có biết mình vừa mở cánh cửa địa ngục dưới đáy sông Tô Lịch ra không?"
"Cháu không biết! Cháu thực sự không biết nó là vật yểm của Cao Biền!" Tuấn ôm lấy đầu, giọng nghẹn ngào trong cơn hoảng loạn tột độ. "Cháu chỉ là kỹ sư trắc địa, cháu chỉ nghĩ nó là cổ vật..."
"Cổ vật cái gì! Đó là vật câu mạng!" Thầy Toàn thở hồng hộc, chỉ tay thẳng vào mặt Tuấn. "Một khi Trấn Long Đinh rời khỏi huyệt vị, long mạch phát cuồng sẽ tìm kẻ đầu tiên chạm tay vào thanh sắt để đoạt mạng đền tội! Trên người cậu... trên người cậu đã xuất hiện dấu vết gì chưa?"
Lời nói của ông lão như một mũi tên xé toạc sự phòng thủ cuối cùng của Tuấn.
Không kìm được nữa, anh run rẩy kéo mạnh ống tay áo len bên tay trái lên.
Dưới ánh đèn bàn vàng vọt, vệt bớt màu đỏ thẫm hình chữ Triện hiện rõ mồn một trên da thịt anh. Nó không còn mờ nhạt như vài ngày trước, mà các nét chữ đã gồ hẳn lên như một vệt máu đông, những mạch máu nhỏ li ti xung quanh căng phồng, đập thình thịch từng nhịp theo tiếng tim đập. Mùi tanh nồng của bùn sông phảng phất bốc ra từ chính cổ tay anh.
Thầy Toàn lùi lại hai bước, ngã ngồi xuống chiếc ghế dựa bằng mây, hai mắt dại đi:
"Huyết ấn... Oán khí đã nhập cốt... Cậu bị Cao Biền chọn làm vật dẫn để thế mạng dưới đáy móng rồi..."
Không gian căn phòng rơi vào một hố sâu im lìm đến nghẹt thở.
Bên ngoài, mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn, quất ràn rạt vào những song sắt chuồng cọp rỉ sét. Tiếng chuông chùa xa xa vọng lại từng hồi đục ngầu qua làn sương mù đặc quánh.
"Thầy ơi..." Tuấn quỳ sụp xuống sàn gỗ, hai bàn tay chắp lại trước ngực, giọng van nài run rẩy. "Cháu xin thầy... có cách nào cứu cháu không? Có cách nào hóa giải được thứ này không? Cháu mang trả lại nó xuống hố móng có được không thầy?"
Thầy Toàn nhắm nghiền mắt lại, lắc đầu trong đau đớn:
"Muộn rồi... Trả lại ư? Long huyệt đã bị rách toạc, oán khí ngàn năm đã thoát ra ngoài thì làm sao cắm lại dễ dàng như cắm một que củi? Muốn cắm lại Trấn Long Đinh, phải tìm đúng chân huyệt tâm mạch, phải chọn đúng giờ khắc âm dương giao hòa, và phải có người am hiểu trận pháp đứng ra dẫn giải. Nhưng quan trọng hơn cả..."
Ông mở mắt ra, nhìn Tuấn bằng ánh mắt xót thương vô hạn:
"Nghịch long dưới đáy sông đã ngửi thấy mùi máu của cậu. Nó sẽ không để yên cho cậu mang cây đinh quay trở lại đâu. Nó sẽ lôi bằng được kẻ đã cướp mất phong ấn xuống đáy bùn để chôn cùng..."
Reng! Reng! Reng!
Tiếng chuông điện thoại chói gắt bất thần xé toạc bầu không khí ngột ngạt trong phòng.
Chiếc điện thoại thông minh trong túi quần Tuấn rung lên bần bật, màn hình nhấp nháy điên cuồng kèm theo âm thanh báo động khẩn cấp.
Tuấn giật bắn mình, luống cuống móc chiếc điện thoại ra. Trên màn hình hiển thị tên người gọi: Kỹ sư Hùng.
Tuấn run rẩy bấm nút nghe, áp ống nghe vào tai:
"Alo... anh Hùng..."
"Tuấn! Cậu đang ở đâu đấy? Chạy ngay đi!" Tiếng Hùng gào thét thất thanh qua đầu dây bên kia, lẫn trong tiếng còi hú inh ỏi của xe cứu hộ và tiếng gầm rú của máy móc cơ giới.
Âm thanh bên phía công trường hỗn loạn đến mức nghẹt thở. Tiếng kim loại bị xé rách, tiếng bê tông nứt toác ầm ầm và tiếng người la hét hoảng loạn vang lên hỗn tạp.
"Có chuyện gì thế anh Hùng? Hố móng làm sao?" Tuấn đứng bật dậy, tim đập thình thịch liên hồi.
"Vỡ trận rồi! Toàn bộ hố móng phân khu ba sập hoàn toàn rồi!" Giọng Hùng vỡ vụn ra vì kinh hãi cực độ, tiếng thở dốc nghẹn ngào trong nước mắt. "Dưới đáy móng... dưới độ sâu mười lăm mét chỗ cậu đào hôm qua, đất bỗng nhiên nứt toác ra một cái rãnh rộng cả chục mét! Nước đen và bùn sình đang sôi sùng sục trào ngược lên như vòi rồng!"
"Cái gì?" Tuấn thốt lên, chân tay bủn rủn.
"Nó nuốt chửng rồi! Dòng bùn đen đặc quánh trào lên nuốt chửng cả chiếc máy ép cọc hàng chục tấn trong nháy mắt!" Hùng gào lên trong điện thoại, tiếng gió rít qua micro ràn rạt. "Bác Sáu... bác Sáu vừa cố lái chiếc máy xúc thoát ra khỏi bờ taluy thì mép đất sạt lở! Chiếc xe bị dòng bùn cuốn phăng xuống đáy vực rồi! Không ai cứu kịp cả! Nước sông Tô Lịch đang tràn vào hố móng, cả công trường sắp bị xóa sổ rồi Tuấn ơi!"
Tút... tút... tút...
Tín hiệu bên kia đột ngột bị cắt đứt hoàn toàn, chỉ còn lại những tiếng tút dài lạnh lẽo vang lên bên tai.
Tuấn buông thõng cánh tay, chiếc điện thoại trượt khỏi lòng bàn tay rơi bịch xuống tấm thảm cói mục.
Bên ngoài cửa sổ, bầu trời Hà Nội bỗng nhiên tối sầm lại giữa ban ngày. Những đám mây đen kịt từ phía triền sông Tô Lịch cuồn cuộn kéo về, che khuất hoàn toàn chút ánh sáng leo lét của buổi sớm mùa đông. Một tiếng sấm trầm đục rền vang từ sâu trong lòng đất, làm rung chuyển cả khung cửa kính căn phòng tập thể cũ kỹ.