VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 2: Mộng Gỗ Không Khép
Nam không nhớ mình đã đứng trước cánh cửa gian thờ khóa bao lâu. Đèn dầu trong tay rung nhẹ theo nhịp thở gấp, làm cái bóng của anh chập chờn trên tường…
Nội dung chương
Nam không nhớ mình đã đứng trước cánh cửa gian thờ khóa bao lâu. Đèn dầu trong tay rung nhẹ theo nhịp thở gấp, làm cái bóng của anh chập chờn trên tường gạch như bóng người khác. Tiếng đục bên trong vừa dứt thì cả khu từ đường chìm vào im lặng đặc quánh. Không tiếng côn trùng, không tiếng gió. Chỉ còn tiếng tim anh dội trong tai, thô và nặng.
Anh lùi thêm một bước, soi đèn sát ổ khóa. Chốt đồng vẫn đóng kín, đầu chìa nằm ngang đúng vị trí như lúc chiều. Sợi xích quấn hai vòng qua tay nắm không hề xê dịch. Nam cúi xuống nhìn đường khe dưới chân cửa. Mạt gỗ vẫn nằm đó thành một dải mỏng, vàng nhạt và vụn đều như vừa được bào bằng lưỡi bén.
Nam đưa đầu ngón tay quệt nhẹ đống mạt rồi đưa lên mũi. Mùi gỗ mới cắt còn hăng, trộn với mùi ẩm mốc bám lâu năm trong gian thờ đóng kín. Cảm giác đó khiến gáy anh lạnh đi. Anh dựng đèn dầu xuống nền, móc điện thoại gọi cho cô Sương. Chuông đổ ba hồi rồi tắt. Gọi lại lần nữa, vẫn không ai bắt máy.
Tiếng gà đầu xóm bất chợt gáy khàn một tiếng. Ngay lúc đó, từ trong gian thờ không còn bất cứ âm thanh nào nữa, như thể người vừa làm việc đã biết giờ mà dừng tay.
Nam cắn môi dưới, đứng dậy, kéo xích kiểm tra lần cuối. Chốt vẫn cứng. Anh đem đèn dầu về gian chính, đóng cửa ngoài rồi ngồi nguyên trên ghế gỗ chờ trời sáng. Trên bàn, cây thước Lỗ Ban nằm nghiêng, vệt đỏ mỏng trên thân thước dưới ánh đèn dầu như một sợi máu khô. Nam không động vào nó. Anh chỉ nhìn, mắt cay vì thiếu ngủ, đến khi ngọn đèn tắt phụt vì cạn dầu.
Trời vừa hửng, cô Sương đã hớt hải vào sân. Vừa thấy Nam, cô dừng lại, bàn tay ôm ngực.
– Đêm qua cháu có nghe gì không.
Nam nhìn thẳng vào cô.
– Có. Rất rõ.
Cô cúi xuống đống mạt gỗ trước cửa gian thờ, không chạm tay, chỉ nhìn một lúc lâu rồi thở ra.
– Mấy nhà bên kia cũng bảo có tiếng bào.
– Có ai giữ chìa khóa gian này ngoài bác Hưng.
– Chỉ bác ấy với ông từ giữ lễ. Nhưng ông từ bệnh nằm một chỗ cả tuần nay.
Nam kéo ghế cho cô ngồi.
– Cô gọi bác Hưng qua đây đi.
Cô Sương lắc đầu.
– Đừng gọi lúc này. Bác cháu mà thấy mạt gỗ ở đây, bác chỉ càng khóa kỹ hơn.
Nam nhíu mày.
– Khóa thêm thì càng có chuyện.
– Cháu cứ sửa phần ngoài trước đi. Đừng đứng cửa này ban đêm.
Cô đặt lên bàn một đĩa xôi nóng, đôi đũa tre và bình nước rồi đi ra cổng mà không ngoái lại. Dáng cô đi nhanh hơn mọi ngày, như người muốn rời khỏi một chỗ có mùi khói khó chịu.
Nam ăn vội rồi bắt tay vào việc. Anh quyết định chuyển toàn bộ chú ý về cửa chính, nơi hôm qua đã cho ra những số đo lệch lạ. Làm mộc có một lối thoát khỏi cảm giác bất an, đó là đưa mọi thứ về kích thước cụ thể. Nếu đo ra được, tính ra được, thì xử lý được.
Anh nhớ lần cuối cùng cha còn khỏe, hai cha con sửa cánh cửa kho sau nhà. Cha đã nói, đã cầm đục thì phải sửa cho cửa khép, không để gió lùa vào người trong nhà. Câu đó lúc nào cũng ở sau gáy Nam như một nhát búa dằn nhịp. Bởi vậy, nhìn khe cửa cứ đứng trơ hai đốt ngón tay, anh không thể bỏ qua.
Anh tháo cánh cửa phải trước. Bản lề rỉ cứng, phải dùng thêm dầu và búa cao su mới gỡ được. Cánh cửa đặt xuống nền kêu một tiếng trầm. Nam dựng thước thép, đo theo ba điểm dọc thân cánh. Sai số chấp nhận được. Đến lượt cánh trái, vấn đề lộ rõ. Mép dưới bị bào mòn một dải dài, còn phần đầu mộng phía trong phình nhẹ như từng bị đóng chèn bằng nêm không đúng cữ.
Nam lấy thước Lỗ Ban ra, đặt vào đúng chỗ đầu mộng. Dưới nắng trưa, vệt đỏ trên thân thước chỉ là một vết nâu khó nhìn. Nhưng các vạch khắc cổ lại trùng kỳ lạ với mép nứt trên mộng, không lệch một ly. Anh ngồi xổm lâu hơn bình thường, ngón cái vuốt dọc đầu mộng như đọc một hàng chữ nổi.
– Ai đóng mày vậy.
Anh lẩm bẩm.
Đầu mộng này không giống kỹ thuật hiện tại của thợ trong làng. Mặt gỗ ăn dao rất sâu, góc khóa mộng bị cố tình làm ngược chiều để khi gài vào sẽ tự căng nứt sau một thời gian. Nó giống bẫy hơn là kết cấu.
Nam dựng lại cánh cửa, thử đóng.
Cộc.
Cánh cửa dừng ở khoảng cách gần hai đốt ngón tay, không khép kín. Anh dùng vai tì thêm lực.
Cộc.
Vẫn dừng đúng ở vị trí cũ.
Anh tháo ra, nạo bớt mộng, thử lại.
Cộc.
Không khép.
Đến lần thứ sáu, mồ hôi chảy thành dòng sau lưng áo, Nam bỏ bào xuống, ngửa cổ uống một hớp nước. Cửa nhà dân, cửa đình, cửa chùa anh làm nhiều năm, chưa có bộ nào cưỡng lại tay thợ theo kiểu này. Nó không chỉ bị kẹt. Nó như một cái khớp đang tự giữ khoảng hở bằng lực riêng của nó.
Đầu giờ chiều, bác Hưng quay lại. Bác đứng ở ngưỡng sân nhìn cánh cửa tháo tung, giọng nén chặt.
– Sao chưa xong.
– Mộng này bị gài bẫy. Càng chỉnh càng bật ra. Ai đó làm ngược hướng.
Bác Hưng bước tới, liếc nhanh cây thước trên bàn rồi nhìn sang nơi cửa gian thờ khóa.
– Tôi đã dặn cậu điều gì.
– Cháu chưa mở gian đó.
– Thì tốt. Cứ sửa phần ngoài thôi.
Nam giữ giọng bình.
– Nếu không xử lý từ trong kết cấu, cửa này không thể khép.
– Không cần khép.
Nam ngẩng phắt lên.
– Không khép thì nước tạt vào gian chính. Gỗ sẽ mục từ chân cột.
Bác Hưng nhếch môi cười mỏng.
– Mục thì thay. Chứ mở bậy một lần là không thay được nữa.
Bác quay đi. Lúc đi ngang bàn, bác khựng lại nửa nhịp trước cây thước Lỗ Ban, bàn tay gần chạm vào rồi rút về ngay. Chi tiết đó nhỏ, nhưng Nam thấy rõ. Anh chờ bác ra đến cổng rồi mới thở mạnh một tiếng.
Nam cúi xuống nhặt mẩu bào rơi ở chân cửa, vê nó giữa hai ngón tay. Cha anh từng dặn, nghề này không chỉ đóng gỗ mà còn giữ nhà cho người sống. Câu dặn cũ bỗng trở thành lý do rõ nhất khiến anh tiếp tục, dù biết càng làm càng lún sâu.
Chiều muộn, bà Tịnh ghé qua. Bà thấp người, tóc bạc cột gọn sau gáy, tay xách một giỏ lá thuốc.
– Nghe nói cậu tháo hết cửa rồi.
– Mộng lỗi. Càng sửa càng bật.
Bà đặt giỏ xuống thềm, nhìn cánh cửa dang dở rất lâu.
– Đầu mộng này không lỗi. Nó bị khóa.
Nam cười khó.
– Khóa bằng kiểu mộc nào.
– Kiểu mộc của người sợ người sống hơn sợ trời đất.
Bà không giải thích thêm, chỉ đưa cho Nam một chai dầu nhỏ.
– Tối đừng dùng đèn pin nhiều. Thắp đèn dầu mà nhìn gỗ. Có thứ chỉ hiện khi lửa thở.
Nam nhận chai dầu, chưa kịp hỏi thì bà đã đi ra cổng, bước chân nhẹ tới mức không nghe tiếng dép.
Mưa đêm lại kéo tới sau bữa tối. Nam khóa cổng, quay vào gian chính. Anh dọn mặt bàn, đặt cây thước giữa hai cánh cửa tháo dở, thắp đèn dầu theo lời bà Tịnh. Ánh sáng vàng rải lên thân thước, vệt đỏ hiện rõ như đêm qua. Nam chạm tay vào vệt đó, da đầu ngón tay nóng ran như vừa áp vào kim loại hơ lửa.
Anh cầm thước đi đến cửa chính, đo lại đầu mộng trái. Khi vạch đỏ trùng vào dấu nứt mỏng trên đầu mộng, tiếng cộc rất nhỏ vang lên từ trong thân cửa, như tiếng khóa lò xo tự bật.
Nam giật mình, giữ nguyên thước, tì vai đẩy cánh cửa.
Cộc.
Không khép.
Anh ngồi xuống, soi đèn sát vào khe mộng. Sâu bên trong có một thanh nêm gỗ đen mỏng như lưỡi dao, cắm chéo theo hướng ngược hoàn toàn với kết cấu bình thường. Muốn rút nó ra phải mở mặt trong của khung, nghĩa là phải đi xuyên qua bức vách nối thẳng sang gian thờ khóa.
Nam nhắm mắt vài giây, rồi bật dậy kéo dụng cụ. Anh tháo nẹp chân tường, gỡ tấm ván ốp dưới khung cửa. Tay đục gõ đều, từng lớp sơn cũ bung ra thành mảnh. Khi tấm ốp cuối cùng rời khỏi khung, một khoảng rỗng hẹp lộ ra. Trong khoảng rỗng đó, thanh nêm đen cắm sâu như cái móc câu găm vào tim gỗ.
Nam luồn đầu kìm vào, kéo.
Không nhúc nhích.
Anh đổi sang búa đột, gõ nhẹ hai nhịp để nhả lực rồi kéo lại. Thanh nêm rít lên một tiếng mỏng, bật ra nửa phân rồi kẹt cứng. Ngay lúc đó, từ phía gian thờ bên trái vang lên một tiếng bào dài.
Xoẹt.
Nam quay ngoắt đầu. Tiếng bào dừng.
Anh cắn răng, kéo mạnh thêm. Thanh nêm bật hẳn ra, rơi xuống nền gạch kêu cạch. Cùng lúc, cánh cửa chính tự trôi về phía trước nửa tấc như có người đẩy từ trong. Nam đứng đờ người, mắt nhìn khe cửa vừa khép thêm được một đoạn.
Anh thử đẩy nhẹ.
Cánh cửa tiến thêm một chút rồi dừng đúng khoảng hở cũ, vẫn không kín.
Nam cúi nhặt thanh nêm đen. Trên mặt nêm có khắc một ký hiệu nhỏ, giống nét khắc trên thước nhưng bị mài mòn gần hết. Anh đặt nêm lên bàn, định ghi chú thì mùi khét đột ngột tạt vào mũi. Chẳng phải mùi tinh dầu thắp sáng thông thường, mà là thứ mùi khói tro ẩm mốc, nặng nề và đắng nghét, như mùi bếp lò đã tắt lâu ngày bị tưới nước.
Mùi đó chui ra từ khe cửa chính chưa khép.
Nam hạ người sát đất, soi đèn vào khe. Bên kia không có lửa, chỉ bóng tối đặc. Nhưng từ bóng tối ấy, hơi khói mỏng màu xám lùa ra từng sợi, bám vào ánh đèn rồi tan chậm trên nền gạch.
Một giọt nước đen đặc nhỏ xuống từ mép khung, rơi ngay lên cổ tay anh.
Nam giật tay lại. Giọt nước bết dính như tro hòa dầu.
Từ sân ngoài, tiếng gió nổi lên bất ngờ, quất cánh cổng kêu rầm. Trong gian chính, ngọn đèn dầu tắt phụt, để lại mùi bấc cháy khét và khoảng tối nuốt chửng toàn bộ khung cửa dang dở.
Trong bóng tối, khe cửa không khép kín vẫn thở ra mùi khói và tro ẩm, đều đặn như một cái miệng đang chờ mở rộng hơn.