VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 5: Cuốn Sổ Cháy Dở
Nam ngủ gục ngay trên chiếu trải ở hành lang sau khi trời sáng. Cơ thể anh nặng như gỗ ướt, tay vẫn còn ê ở vai vì cú hụt trên giàn đêm trước. Đến gần…
Nội dung chương
Nam ngủ gục ngay trên chiếu trải ở hành lang sau khi trời sáng. Cơ thể anh nặng như gỗ ướt, tay vẫn còn ê ở vai vì cú hụt trên giàn đêm trước. Đến gần trưa anh mới tỉnh bởi tiếng búa từ nhà hàng xóm vọng sang. Nắng rọi qua khe ngói thành những vệt sáng mỏng trên nền gạch, cắt ngang cây thước Lỗ Ban đặt cạnh gối.
Anh ngồi dậy, mở sổ ghi chép. Dòng cuối của đêm qua run hơn bình thường: dấu khắc ngược trên xà trùng thước, có lỗ chốt kim loại ở tâm. Phía dưới là một dòng khác anh viết khi nửa tỉnh nửa mê: mở chốt sai giờ sẽ chết cửa.
Nam bật cười khan với chính chữ mình rồi gấp sổ lại. Từ đầu công việc tới giờ, anh đã đi quá xa khỏi hợp đồng sửa nhà. Nhưng càng muốn dừng, anh càng thấy mọi thứ đang buộc mình đi tiếp bằng những cách rất cụ thể: thanh nêm, mùi tro, bài vị lệch, dấu khắc trùng thước. Với người làm nghề tay, chuỗi chi tiết này không thể coi là ngẫu nhiên.
Anh nhìn sang cây thước đặt cạnh gối, nhớ bàn tay chai của cha từng nắm cổ tay mình để chỉnh góc đục. Cha chưa bao giờ cho phép anh bỏ dở một mộng đang làm. Ý nghĩ đó đè lên vai Nam nặng hơn cả dây an toàn đêm trước, nhưng cũng giữ anh đứng thẳng.
Đầu giờ chiều, bà Tịnh ghé vào như đã biết Nam còn ở đó. Bà mang theo một gói cơm nắm và bình nước lá vối.
– Cậu chưa đi à.
– Chưa mở được chốt, cháu chưa đi.
Bà đặt đồ ăn xuống, nhìn lên mảng trần tháo dở.
– Đêm qua bác Hưng vào đây.
– Bà biết nhanh thật.
– Tiếng cổng nhà thờ này mở lúc nửa đêm thì cả xóm biết.
Nam kéo ghế cho bà ngồi rồi trải tờ giấy vẽ sơ đồ xà ra bàn.
– Chốt kim loại nằm ở tâm dấu khắc. Cháu cần biết rút bằng cách nào.
Bà Tịnh chỉ ngón tay vào trục vách trái.
– Chốt đó không rút thẳng. Phải xoay theo chiều ngược nét khắc.
– Nếu xoay sai.
– Khóa phụ sẽ ăn vào.
– Khóa phụ ở đâu.
– Ở dưới chân bàn thờ tổ.
Nam khựng lại.
– Vậy ra mọi thứ đều nối với nhau.
– Tôi đã nói rồi.
Nam nhìn bà.
– Nếu mở được chốt, thứ trong xà là gì.
– Có thể là vật chứng. Có thể là lời thú. Có thể là thứ tệ hơn.
– Tệ hơn là sao.
Bà Tịnh nhìn thẳng vào anh, mắt đục nhưng sắc.
– Là tên người cậu không muốn đọc.
Nam im lặng rất lâu. Ngoài sân, nắng chuyển chậm trên nền gạch. Tiếng chim sẻ lích chích ngoài hàng cau nghe xa xăm như phát từ một nơi khác.
– Đêm nay cháu mở.
Bà đứng dậy, gật đầu.
– Mở lúc gần cuối canh tư, khi tiếng bào vừa dứt một nhịp. Không mở đúng lúc, cậu chỉ kéo ra khói.
– Bà đi cùng cháu không.
– Tôi không thuộc họ cậu. Tôi đứng ngoài cổng.
Bà đi ra, trước khi bước qua bậc hiên còn nói thêm.
– Nhớ mang khăn ướt che mũi. Hốc xà đóng lâu sẽ xông mùi tro rất nặng.
Chiều đến, Nam tranh thủ lắp tạm một thanh chống vào phần trần đã tháo để an toàn. Anh chuẩn bị sẵn dụng cụ cho đêm: kìm mũi nhọn, dùi thép, cờ lê mỏ lết nhỏ, dây buộc cổ tay, khăn ướt, túi vải đựng hiện vật. Chiếc thước Lỗ Ban được anh để riêng trong hộp gỗ, như một vật tham chiếu hơn là dụng cụ đo.
Tám giờ tối, bác Hưng gọi điện. Giọng bác qua loa ngoài lạnh và ngắn.
– Tôi đã nói cậu rời đi.
– Cháu chưa xong việc.
– Mai họp họ, tôi tuyên bố dừng thi công.
– Bác tuyên bố sau cũng được. Đêm nay cháu vẫn làm.
Bên kia im vài giây rồi cúp máy.
Nam đặt điện thoại xuống, nhìn màn hình đen bóng phản chiếu khuôn mặt gầy rộc sau mấy đêm thiếu ngủ. Anh rửa tay, thay áo dài tay, quấn khăn mỏng trước cổ rồi đi thắp đèn dầu.
Mười hai giờ rưỡi, mùi tro ẩm bắt đầu dày lên trong chính điện, bám thành lớp mỏng ở sống mũi như bụi than.
Xoẹt.
Nam đã quen với âm đó nhưng cơ lưng vẫn cứng theo phản xạ. Anh leo lên giàn giáo, buộc dây an toàn, đặt đèn dầu vào móc treo, che bớt gió bằng tấm tôn mỏng. Từ vị trí này anh thấy rõ dấu khắc ngược trên xà vừa nổi lên dưới lớp than còn sót lại đêm trước.
Xoẹt.
Tiếng bào kéo dài thêm một lượt rồi dừng.
Nam chờ.
Năm giây.
Mười giây.
Cộc.
Một tiếng đục ngắn từ trong vách trái bật ra.
Nam thở chậm, đưa mũi dùi vào lỗ tâm dấu khắc, cảm nhận đầu kim loại bên dưới. Anh xoay nhẹ theo chiều thuận.
Kẹt cứng.
Anh dừng lại, đổi chiều ngược nét khắc như bà Tịnh dặn. Đầu dùi đi được một góc rất nhỏ, rồi nghe một tiếng tách khô từ trong xà.
Nam giữ nguyên lực, xoay thêm.
Tách.
Một tiếng nữa. Bên dưới, tiếng kéo gỗ bỗng dồn dập rồi hụt nhịp, chen cùng những tiếng thở khò khè nặng như có ai đứng sát vách.
Nam siết răng, xoay thêm một nhịp cuối.
Tách.
Lỗ tâm dấu khắc bật lên, để lộ đầu chốt đồng mảnh. Anh dùng kìm mũi nhọn kẹp chốt kéo ra từ từ. Chốt dài gần gang tay, trên thân có ba gờ khóa hình răng cá. Đầu chốt vừa rời khỏi xà, ngay cạnh đó một đường nứt mảnh mở ra dọc theo thớ gỗ.
Nam dùng mũi đục lách vào khe, bẩy nhẹ. Một nắp gỗ hẹp bật lên, để lộ hốc xà bí mật tối đen bên trong.
Mùi tro ẩm xộc thẳng vào mặt, nặng đến mức anh phải quay đi ho hai tiếng. Khăn ướt che mũi giúp đỡ phần nào. Nam đưa đèn dầu lại gần miệng hốc. Bên trong có một bọc vải dầu cũ cột bằng dây mây đã mủn, cạnh đó là một ống tre đen cháy xém.
Anh thò tay vào, lấy bọc vải ra trước. Vải chạm tay là rã vụn từng mảng. Bên trong là một cuốn sổ đóng gáy chỉ, bìa gỗ mỏng cháy sém nửa bên phải. Mép giấy giòn như bánh đa nướng, động mạnh là vỡ.
Nam đặt cuốn sổ lên tấm ván phẳng, thở thật nhẹ, mở trang đầu bằng hai đầu ngón tay.
Nét chữ mực nâu, kiểu chữ cũ, nắn nót.
Ngày... tháng... năm...
Nội dung đầu trang là ghi chép vật liệu sửa từ đường, các cột, xà, nêm, số lượng đục bào. Trang thứ hai vẫn là ghi chép công trình. Đến trang thứ ba, chữ bắt đầu đổi giọng, không còn liệt kê vật liệu mà liệt kê tên người, giờ, địa điểm, và một dòng ngắn ở cột bên: đã xử.
Nam toát mồ hôi lạnh, lật tiếp.
Trang tiếp theo cháy mất nửa. Phần còn lại hiện một cái tên họ Nguyễn, tên đệm mờ, tên cuối còn lại chữ "An". Bên dưới là dòng nhỏ hơn: giấu dưới xà trái, khóa bằng mộng nghịch.
Tay Nam run nhẹ. Anh lật thêm. Ở mép cháy đen của trang sau có một nửa chữ ký quen thuộc, chỉ còn nhìn rõ phần họ Đo...
Tiếng đục từ gian thờ khóa bất ngờ nện ba nhát liên tiếp, mạnh đến mức giàn giáo rung hẳn.
Cộc. Cộc. Cộc.
Đèn dầu lắc mạnh, bóng tối quét qua mặt giấy. Nam vội gấp sổ lại, nhét vào túi vải, rút thêm ống tre cháy xém trong hốc xà. Anh vừa chạm vào ống tre thì nghe tiếng ổ khóa cổng ngoài mở đánh cách.
Có người vào.
Nam tắt đèn theo phản xạ, giữ nguyên tư thế trên giàn. Dưới sân, ánh đèn pin trắng quét một vòng rồi dừng ngay chân giàn.
– Xuống.
Giọng bác Hưng.
Nam chậm rãi bật đèn dầu lại, đeo túi vải qua vai rồi tụt thang. Chân vừa chạm đất, bác Hưng đã tiến một bước, mắt quét lên chỗ trần mở.
– Cậu đã làm gì.
– Mở một hốc xà.
– Cậu lấy gì từ đó.
– Một cuốn sổ.
Mắt bác Hưng tối lại.
– Đưa đây.
Nam lắc đầu.
– Cháu cần đọc hết.
– Đưa đây.
Giọng bác bật cao hơn một nấc, bàn tay chìa ra.
Nam lùi nửa bước, giữ túi sát ngực.
– Nếu không có gì phải giấu, bác để cháu đọc.
Bác Hưng tiến thẳng tới, nhanh hơn tuổi của bác cho thấy. Hai người chạm vai, túi vải bị giật mạnh. Nam giữ một đầu quai, bác giữ đầu kia. Chiếc túi kéo căng, chỉ khâu răng rắc.
– Buông ra.
Nam quát.
– Cậu không hiểu mình đang động vào cái gì. Tối trước tôi đưa chìa chính là để thử cậu.
Bác gằn từng tiếng.
– Cháu hiểu hơn bác nghĩ.
Một nhịp giằng nữa. Quai túi đứt. Cuốn sổ cháy dở văng ra nền gạch, trượt tới gần chân bàn thờ. Hai người cùng cúi xuống. Bác Hưng chụp được trước, ôm sổ vào ngực, lùi lại hai bước.
Nam xông tới thì bác đã giơ tay cản.
– Đủ rồi.
Bác thở gấp, nhưng giọng đã trở về lạnh ngắt.
– Từ phút này cậu dừng thi công. Sáng mai giao lại chìa khóa, dọn đồ rời khỏi từ đường.
Nam đứng khựng giữa chính điện, mồ hôi lạnh chảy dọc lưng.
– Bác không có quyền cướp chứng cứ.
– Tôi là trưởng họ.
– Và bác vừa xác nhận trong sổ có thứ cần giấu.
Bác Hưng siết chặt cuốn sổ, mắt không rời Nam.
– Cậu muốn yên thì đi. Cậu muốn chết thì mở tiếp.
Bác quay người bước nhanh ra cổng, ôm cuốn sổ cháy dở sát ngực như ôm một đứa trẻ bị sốt. Cổng khép lại một tiếng rầm. Tiếng khóa ngoài xoay ba vòng rõ ràng.
Trong gian chính, Nam đứng im hồi lâu. Trên nền còn sót vài mảnh giấy cháy rơi ra khi giằng co. Anh nhặt lên, ghép thử dưới ánh đèn dầu. Trên một mảnh có đúng ba chữ còn đọc được.
... dưới xà trái ...
Từ phía gian thờ khóa, mùi tro ẩm lại tràn ra và cánh khóa rung lách cách ba nhịp, như có bàn tay khô nào đó vừa chạm thử từ bên trong.
Nam nắm chặt mảnh giấy cháy trong tay, mắt nhìn cánh cửa bên trái, và hiểu rằng sau đêm này anh không còn đường quay về vị trí một người thợ chỉ biết đo và đóng nữa.