VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 7: Cuộc Họp Ở Chính Điện
Nam gần như không ngủ. Trang giấy cháy sém đặt ngay trước mặt anh tới sáng, mùi giấy khét quẩn trong gian như một sợi dây kéo dài từ đêm sang ngày. Con…
Nội dung chương
Nam gần như không ngủ. Trang giấy cháy sém đặt ngay trước mặt anh tới sáng, mùi giấy khét quẩn trong gian như một sợi dây kéo dài từ đêm sang ngày. Con số 7 mới hiện ở mép cháy đứng lẻ loi, không rõ là số cuối năm, số thứ tự tên, hay dấu chỉ vị trí.
Anh thử ghép lại.
12.8.72.
1.11.72.
4.3.73.
...7.
Nếu theo thứ tự thời gian, con số 7 có thể kéo mốc cuối về năm 1977. Nếu theo thứ tự hồ sơ, nó có thể là dòng thứ bảy trong danh sách người chết. Cả hai khả năng đều đủ khiến ngực anh thắt lại.
Bảy giờ sáng, điện thoại rung liên tục. Số bác Hưng.
Nam bắt máy.
– Mười giờ, họp họ ở từ đường. Cậu có mặt.
– Họp việc sửa nhà à.
– Họp việc cậu.
Bên kia cúp ngay.
Nam rửa mặt, thay áo sạch rồi gom toàn bộ bản chép vào túi chống ẩm. Anh tách riêng một bản chép mốc ngày, cuộn lại bỏ vào ống tre cháy xém, giấu lên hộc xà hành lang phải. Bản còn lại để trong túi áo trong, sát ngực.
Khi anh kéo cổng vào lúc chín giờ rưỡi, sân đã có mấy người trong họ đứng tụm năm tụm ba. Họ nói chuyện nhỏ, mắt liếc về phía Nam rồi quay đi rất nhanh. Cô Sương đứng ở bậc hiên, mặt tái.
– Đừng đôi co quá.
Cô nói khẽ.
– Họ định làm gì cháu.
– Có thể gạch tên cháu khỏi việc trùng tu.
– Chỉ vậy thôi à.
Cô không trả lời.
Đúng mười giờ, bác Hưng bước vào chính điện. Áo sơ mi trắng ủi phẳng, tóc chải gọn, tay cầm cuốn sổ họ bìa xanh. Bác đứng trước bàn thờ tổ, quay xuống, giọng vang rõ.
– Hôm nay họp khẩn để xử lý việc Nam tự ý phá kết cấu nhà thờ, tự ý mở hốc xà, tự ý dựng chuyện gây hoang mang.
Một người bác trung niên ngồi hàng đầu gật gù.
– Có thấy nó tháo trần, đục khoét suốt đêm.
Nam đứng thẳng giữa sân, không ngồi.
– Cháu tháo chỗ mối ăn. Hốc xà có vật chứng.
Hưng nhìn thẳng vào anh.
– Vật chứng nào.
– Cuốn sổ cháy bác lấy đêm trước.
Không khí lặng hẳn. Vài người nhìn nhau rồi nhìn xuống.
Hưng nhếch môi.
– Không có cuốn sổ nào.
Nam rút từ túi áo trong bản chép, giơ lên.
– Vậy cháu đọc cái này trước họ.
Anh chưa kịp mở giấy, Hưng đã gằn giọng.
– Cậu cất xuống.
– Nếu không có gì giấu, nghe cũng được.
Hưng bước khỏi bậc hiên, xuống một bậc gần Nam hơn.
– Cậu lấy đâu ra thứ giấy đó.
– Từ ký ức của cháu và giấy trong ống tre ở hốc xà.
Một cụ già ngồi gần cửa quay sang thì thầm với người bên cạnh.
– Ống tre nào.
Nam nghe thấy, nói luôn.
– Ống tre có mốc ngày 12.8.72, 1.11.72, 4.3.73.
Đến mốc cuối, giọng bác Hưng bật cao.
– Im ngay.
Tiếng quát khiến mấy đứa trẻ ngoài sân giật mình. Cô Sương bước xuống một bước, định chen vào thì Hưng giơ tay chặn.
– Ngồi yên.
Nam mở tờ chép, đọc chậm từng dòng.
– Tên người. Giờ. Địa điểm. Ghi chú đã xử. Dòng còn lại có chữ giấu dưới xà trái, khóa bằng mộng nghịch.
Không ai cắt ngang, nhưng sự im lặng trong chính điện đặc lại như đổ thêm chì.
Hưng nhìn quanh một vòng rồi nói, giọng đã hạ xuống nhưng lạnh hơn.
– Cậu nghe cho rõ. Từ hôm nay cậu không còn tư cách nhận việc ở từ đường. Cậu giao lại chìa khóa, rời khỏi đây trước chiều.
Nam giữ tờ giấy, không lùi.
– Còn chuyện án cũ.
– Không có án cũ.
– Vậy bác dám để cháu mở gian trái trước mặt cả họ.
Hưng cười mỏng.
– Không ai mở gian đó.
– Vì sợ gì.
– Vì lệ tổ.
– Lệ nào. Lệ giữ im lặng à.
Đúng lúc đó, trong sân vang lên tiếng ai hít mạnh. Hưng quay phắt sang phía phát ra tiếng, rồi nhìn lại Nam.
– Cậu đang vượt quá giới hạn.
– Giới hạn của ai.
– Giới hạn của họ Đoàn.
Hưng mở cuốn sổ họ bìa xanh, lật đến trang giữa.
– Nếu cậu tiếp tục bịa đặt và xúc phạm tiên tổ, tôi sẽ đề nghị tạm gạch tên cậu khỏi danh sách nội tộc. Cậu nghe rõ chưa.
Câu nói vừa dứt, cô Sương buột miệng.
– Anh Hưng.
Hưng không nhìn cô.
– Tôi nói theo gia quy.
Nam thấy máu dồn lên mặt rồi rút đi ngay, để lại cảm giác lạnh ở hai bàn tay.
– Bác lấy gia quy để khóa miệng người sống. Cha cháu mà còn sống chắc cũng bị bác gạch tên như cháu thôi.
Gương mặt Hưng giật nhẹ, rất nhanh.
– Đừng lôi cha cậu vào.
– Chính bà Tịnh nói đêm 12.8.72 cha cháu chạy đi xin dầu đèn.
Một người đàn ông ở góc hiên đứng bật dậy.
– Ai cho mày nhắc ngày đó.
Nam quay sang người đó.
– Chú nhớ ngày đó à.
Người đàn ông cứng người rồi ngồi phịch xuống.
Hưng đóng sổ họ đánh cạch.
– Họp kết thúc. Tất cả về.
Không ai đứng dậy ngay. Mấy người già nhìn nhau, lưỡng lự như muốn hỏi thêm nhưng không dám. Hưng quét mắt một lượt, lần này giọng chắc hơn.
– Về.
Đám đông tản dần. Tiếng dép kéo trên nền gạch loẹt xoẹt kéo dài như tiếng nước rút. Cô Sương đi sát qua Nam, nhét vào tay anh một mảnh giấy nhỏ.
– Ra sau bếp đọc.
Nam ra sau chái, mở mảnh giấy. Chỉ có một dòng: chiều nay bác Hưng gọi người thay khóa.
Anh vò mảnh giấy, bỏ vào túi, quay ra sân thì thấy Hưng vẫn đứng một mình trước bàn thờ tổ. Cánh cửa chính mở toang, nắng chiếu lên áo bác trắng gắt.
Nam đi thẳng tới.
– Bác dọa gạch tên cháu cũng được. Nhưng bác không xóa được ngày tháng.
Hưng không quay lại ngay.
– Cậu tưởng cậu nắm được gì từ vài con số rách.
– Đủ để mở lại đường.
Hưng quay lại, mắt đỏ gân.
– Đường đó dẫn tới mồ. Không dẫn tới công lý.
– Ai quyết định.
– Người còn sống.
Nam cười nhạt.
– Hay người còn quyền.
Hưng nhìn chằm chằm Nam thật lâu, rồi móc túi lấy một phong bì dày, ném lên bàn.
– Lấy tiền đi. Gấp đôi công sửa. Rời khỏi làng tuần này.
Nam không nhìn phong bì.
– Bác nghĩ cháu làm vì tiền.
– Tôi nghĩ cậu còn trẻ, còn ngu, và còn sống.
– Nếu bác muốn cháu sống thì đừng khóa cửa.
Hưng cúi người nhặt phong bì, nhét lại túi áo.
– Tối nay cậu sẽ không vào được từ đường nữa.
Bác quay đi, bước ra sân. Đến thềm, bác dừng lại một nhịp rồi nói thêm, lưng vẫn quay.
– Từ giờ, cậu không còn là người trong chuyện này.
Nam đáp ngay.
– Cháu là người ở trong nhà này từ lúc bác gọi về.
Hưng không đáp, đi thẳng ra cổng.
Buổi chiều, đúng như mảnh giấy báo, hai người thợ khóa lạ tới thay ổ cổng. Họ làm nhanh, không hỏi gì. Nam ngồi ngay hiên nhìn từng vòng vít, từng nhát khoan ăn vào gỗ cũ. Đến khi họ xong, bộ khóa mới sáng loáng treo trên cổng, trông lạc lõng như đồ mới cắm vào vết thương cũ.
Sau khi thợ đi, Nam gọi cho bà Tịnh.
– Họ thay khóa.
– Tôi đoán được.
– Bà còn cách vào nào khác không.
– Có. Nhưng cậu vào được chưa chắc cậu ra được.
– Cháu cần đọc thêm.
– Tối nay đừng vào. Để họ tưởng cậu đã lùi.
Nam cắn môi.
– Lùi bao lâu.
– Một đêm.
Anh miễn cưỡng gật dù biết bà không nhìn thấy qua điện thoại.
Tối đó Nam sang ngủ tạm nhà cô Sương theo lời bà Tịnh. Nhà cô cách từ đường một bức tường gạch thấp. Từ cửa sổ buồng sau có thể nhìn nghiêng qua mái ngói nhà thờ.
Mười một giờ, trời oi gắt bất thường. Không mưa, không gió. Nam ngồi bên cửa sổ, sổ tay mở trên gối, chờ tín hiệu quen thuộc. Nhưng đêm nay không có tiếng bào. Chỉ có tiếng dế và tiếng quạt trần lạch cạch.
Mười hai giờ hơn, một bóng người đi ngang sân từ đường, cầm đèn pin. Nam nheo mắt nhìn. Dáng đi đó là Hưng.
Hưng dừng trước cửa chính, mở khóa mới, đi vào trong. Mười phút sau bác bước ra, tay không cầm gì thêm. Bác khóa cửa lại rồi đi về hướng ngõ.
Nam với lấy áo khoác, định chạy theo thì cô Sương ở giường bên gọi khẽ.
– Đừng đi.
– Bác ấy vừa vào trong.
– Anh Hưng đêm nào cũng vào mấy hôm nay.
Nam quay lại.
– Sao cô không nói.
– Nói thì được gì. Tôi chỉ biết mỗi lần anh ấy về, áo có mùi khói bếp.
Nam nhìn qua cửa sổ lần nữa. Bóng Hưng đã ra tới cổng ngoài, chỗ có bóng đèn đường hắt xuống từ cột điện đầu ngõ. Ánh vàng nhạt quét qua lưng áo sơ mi trắng của bác.
Nam bỗng đứng bật dậy, tim nhảy mạnh.
Giữa lưng áo Hưng, hơi lệch về bên trái, có một dấu bàn tay đen in rõ năm ngón. Dấu đen loang mép, dày như bồ hóng mới quệt vào, không giống vết bẩn cũ.
Hưng đi thêm vài bước rồi dừng lại ngay dưới cột đèn, như cảm giác có ai nhìn. Bác quay đầu chậm rãi về phía căn buồng của cô Sương. Nam kịp né người vào bóng tối sau rèm.
Qua khe rèm, anh vẫn thấy rõ dấu tay đen trên áo Hưng. Nó còn ướt, phản ánh đèn đường bằng một lớp bóng mỏng như dầu.
Không tiếng bào, không tiếng đục, nhưng dấu tay đó nói rõ hơn mọi âm thanh từ trước tới nay: đêm nay bác Hưng đã chạm vào thứ có tro mới, và thứ đó vừa đặt tay lên lưng bác.