VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 4: Dấu Khắc Ngược
Nam không mở khóa gian thờ trong đêm đó. Anh đứng yên đến khi tiếng gà thứ hai gáy, tiếng bào bên trong mới tắt hẳn. Đèn dầu lụi dần còn một chấm lửa đỏ…
Nội dung chương
Nam không mở khóa gian thờ trong đêm đó. Anh đứng yên đến khi tiếng gà thứ hai gáy, tiếng bào bên trong mới tắt hẳn. Đèn dầu lụi dần còn một chấm lửa đỏ ở đầu bấc. Anh quay lại bàn, đặt chìa khóa đồng xuống, ghi thêm một dòng vào sổ: âm thanh chấm dứt sau tiếng gà đầu xóm, trùng quy luật hai đêm liên tiếp.
Sáng hôm sau trời hửng nắng gắt. Ánh sáng đập xuống mái ngói làm mùi rêu bốc lên ngai ngái. Nam rửa mặt bên giếng, nước lạnh quất vào mắt giúp đầu óc tỉnh hơn sau một đêm gần như trắng. Cô Sương đem qua nồi canh rau tập tàng, vừa đặt xuống đã hỏi nhỏ.
– Đêm qua lại có tiếng à.
Nam gật.
– Có. Em đo được bài vị tự lệch một ly.
Cô Sương siết tay vào thành bàn.
– Đừng nói câu đó trước mặt bác Hưng.
– Vì sao.
– Vì bác cháu ghét nhất chữ tự.
Nam cầm bát canh, nhìn cô.
– Nếu không phải tự thì là ai.
Cô đáp rất nhanh, như đã chuẩn bị sẵn.
– Là nhà cũ co ngót.
Nam không cười nữa.
– Cô nói y như cháu hôm trước.
Cô Sương im lặng, mắt rơi xuống những vết chai trên tay Nam. Một lát sau cô rút trong túi áo ra mảnh giấy gấp đôi, đặt vào lòng bàn tay anh.
– Tôi chép cho cậu chỗ xà hay mối ăn. Coi như lý do để cậu trèo lên trần, khỏi ai bắt bẻ.
Nam mở mảnh giấy. Sơ đồ nguệch ngoạc nhưng rõ, đánh dấu ba điểm nghi có khoang rỗng trên trần gian chính và một điểm ngay sát vách gian thờ trái.
– Cô nhìn từ khi nào.
– Năm kia thay bóng đèn. Tôi thấy ván trần chỗ đó võng. Không nói vì sợ rách chuyện.
– Rách chuyện nào.
Cô đứng dậy, giọng mệt.
– Chuyện mà càng nói càng có người chết.
Cô đi nhanh qua cổng. Nam gấp mảnh giấy lại, nhét vào túi, lòng bàn tay nóng ran nơi vừa cầm.
Anh bắt đầu buổi làm việc bằng phần an toàn, thay nẹp mái và kiểm tra hệ xà phụ ở hành lang. Đến gần trưa, anh dựng giàn giáo tre trong gian chính, cột dây cố định, đeo đai lưng rồi trèo lên độ cao ngang trần. Ván trần cũ màu nâu đen vì khói nhang, nhiều tấm cong bụng. Nam dùng dùi gõ từng điểm theo sơ đồ cô Sương đưa.
Cộc đục.
Cộc đặc.
Cộc rỗng.
Âm thứ ba làm anh dừng tay. Điểm rỗng nằm đúng vị trí sát vách trái, nơi chia gian chính với gian thờ khóa.
Nam đánh dấu bằng phấn, dùng mũi đục mảnh cạy nhẹ một góc ván. Ván kháng lực bất thường, như bị ghim thêm đinh ở mặt trong. Anh đổi sang búa nhỏ, gõ vòng quanh mép ván theo nhịp đều. Mười phút sau, tấm ván bật ra, bụi cũ rơi lả tả xuống cổ áo.
Phía trên là khoảng rỗng hẹp, chỉ vừa luồn một cánh tay. Nam đưa đèn pin vào soi. Bên trong có một thanh xà phụ chạy ngang, bề mặt nhẵn như từng được chà kỹ nhiều lần. Trên mặt xà lấm tấm những vệt đen như khói, và ở chính giữa là một khối gỗ nhỏ đóng chèn hình nêm.
Nam nheo mắt. Khối nêm đó giống hệt thanh nêm đen anh đã rút ở cửa chính.
Anh thò tay vào thử kéo. Không nhúc nhích. Tay vừa chạm vào khối nêm, từ dưới sân vang lên tiếng bác Hưng.
– Cậu đang làm gì trên đó.
Nam ló đầu ra mép giàn.
– Kiểm tra mối.
Bác Hưng đứng dưới, tay chống hông, mắt nhìn chằm chằm tấm ván đã tháo.
– Ai cho cậu tháo trần.
– Trần võng, mối ăn. Không tháo thì mai sập.
– Lắp lại ngay.
Nam giữ giọng bình.
– Phải xử lý nêm khóa trong xà trước.
Sắc mặt bác Hưng đổi ngay.
– Không có nêm nào hết. Cậu nghe ai bày.
– Cháu nhìn thấy.
Bác Hưng tiến sát chân giàn, ngẩng lên, giọng thấp mà gắt.
– Tôi trả công cậu để sửa nhà, không phải để đào mộ chữ.
Nam thả dây an toàn xuống thêm một nấc, đáp lại.
– Vậy bác tìm người khác. Người khác sẽ không leo lên đây lúc giữa trưa nắng để cứu cái mái này khỏi gãy.
Hai người nhìn nhau một hồi dài. Cuối cùng bác Hưng quay phắt đi, ném lại một câu.
– Làm gì thì làm. Đừng động tới gian trái.
Cổng khép rầm. Nam đứng trên giàn thêm vài giây cho nhịp tim hạ xuống rồi tiếp tục việc. Anh nhớ rõ đêm cha mất, linh cữu đặt ở sân sau, còn cửa từ đường thì đóng im không ai đụng vào. Cảm giác bị chặn ngay trước cửa từ ngày đó vẫn còn nguyên. Chính cảm giác ấy làm anh không thể bỏ cuộc ở nửa đường.
Anh cạy thêm một mảng ván để có góc thao tác rộng hơn. Khoảng rỗng hiện rõ cấu trúc xà phụ nối thẳng qua vách sang gian thờ khóa. Điều đó lý giải phần nào vì sao cửa chính bị khóa mộng ngược. Đây không phải lỗi cục bộ. Đây là một hệ khóa liên hoàn.
Đầu giờ chiều, bà Tịnh tới. Bà không vào thẳng gian mà đứng ở hiên nhìn lên giàn.
– Thấy cái cậu cần thấy chưa.
Nam tụt xuống, đưa cho bà xem ảnh khối nêm và vị trí xà.
– Thấy rồi. Nhưng chưa rút được.
Bà chỉ vào màn hình.
– Cậu đừng rút cái này ban ngày.
– Vì sao.
– Vì nó không phải khóa chính. Cậu kéo sai cái, khóa khác siết lại.
Nam vuốt trán.
– Vậy khóa chính ở đâu.
Bà nhìn sang vách gian trái.
– Ở xà ngang cao nhất, ngay trên trục bài vị tổ.
– Muốn lên đó phải tháo thêm trần.
– Thì tháo.
Nam nhìn bà.
– Bà nói nghe nhẹ như thay cái đinh.
– Chuyện nặng hay nhẹ không do miệng nói, do người gánh.
Bà đặt xuống bàn một túi vải nhỏ.
– Trong này có bột than và dầu húng. Tối bôi mỏng lên chỗ gỗ cậu nghi có dấu khắc. Dấu cũ gặp dầu sẽ nổi nét.
Nam mở túi, mùi húng cay nồng xộc lên.
– Dấu gì.
– Dấu người ta cố ý giấu.
Bà đi khỏi từ đường lúc nắng còn gay. Nam nhìn theo một lúc rồi quay vào làm tiếp. Anh tháo thêm ba tấm ván, dựng đèn treo để soi sâu vào xà ngang cao nhất. Đến cuối chiều, tay áo anh dính đầy bụi đen, cổ họng rát như nuốt cát, nhưng anh đã mở được đường nhìn trọn dải xà từ gian chính sang mép gian thờ trái.
Có một đoạn xà ngay giữa trục bài vị tổ nhẵn khác thường, sạch bụi hơn chỗ xung quanh. Vết sạch đó dài chừng một gang tay, đúng tầm người có thể chạm từ cửa kỹ thuật trên trần.
Nam không động vào ngay. Anh thu dọn, ăn tạm ổ bánh mì khô, chờ trời tối hẳn.
Đêm tới cùng cơn gió nóng từ đồng thổi vào. Điện chập chờn rồi tắt, đúng như hai đêm trước. Nam dựng đèn dầu trên giàn, quét một lớp dầu húng thật mỏng lên đoạn xà nhẵn rồi rắc nhẹ bột than theo lời bà Tịnh. Than bám loang thành vệt xám. Anh chờ. Gió lùa qua khe ngói làm ngọn đèn nghiêng qua nghiêng lại.
Khoảng năm phút sau, trên nền than xám bắt đầu hiện ra những nét chìm rất mảnh. Ban đầu là một đường chéo, rồi một vòng móc ngược, rồi thêm hai vạch ngắn cắt nhau. Càng nhìn càng rõ đó là một ký hiệu hoàn chỉnh được khắc ngược chiều đọc bình thường, như thể người khắc đứng từ bên kia xà mà viết qua.
Nam nín thở. Anh lấy khăn lau nhẹ phần than thừa để lộ nét khắc. Dấu này có cấu trúc gần giống ký hiệu trên thanh nêm đen. Và nó giống vệt ký hiệu mòn ở thân thước Lỗ Ban đến rợn người.
Ngay khoảnh khắc đó, tiếng bào từ gian thờ khóa nổi lên dưới chân anh, gần đến mức tưởng như ngay sau lưng.
Xoẹt.
Nam giật mình, tay trượt khỏi mép xà. Cả người anh hụt nửa nhịp, dây an toàn kéo ngược lại làm lưng đau buốt. Đèn dầu lắc mạnh, dầu trào ra một ít lên ván trần.
Từ khe vách trái, một luồng hơi lạnh mang mùi tro ẩm phụt thẳng lên mặt anh. Kèm theo đó là tiếng cộc cộc cộc dồn lên từ trong vách, như có ai dùng đầu đục gõ thẳng vào mặt xà ngay nơi Nam vừa lộ dấu khắc.
Nam kẹp chặt đùi vào giàn, ép thở chậm, đưa đèn lên soi lần nữa. Dấu khắc ngược trên xà lúc này đã nổi hoàn toàn. Ở tâm ký hiệu có một lỗ khoan nhỏ, sâu và đen, trông như ổ chờ của chốt khóa.
Anh rút cây dùi thép mảnh, ấn thử vào lỗ.
Dùi chạm phải vật cứng bằng kim loại.
Nam rút tay lại ngay. Mồ hôi chảy dọc thái dương vào cổ áo. Anh hiểu mình đã chạm tới một khóa cơ thật, không còn là suy đoán.
Tiếng bào bên dưới ngừng đột ngột. Im lặng vừa rơi xuống thì từ sân có tiếng ổ khóa cổng lách cách mở.
Nam tắt đèn theo phản xạ, nín thở nhìn xuống.
Bác Hưng bước vào, tay cầm đèn pin sáng trắng quét khắp sân rồi dừng ngay vị trí giàn giáo. Ánh đèn chói hắt thẳng lên mặt Nam. Bác nhìn thấy anh trên cao, và thấy cả vùng ván trần đã tháo rộng.
– Xuống ngay.
Giọng bác cứng, thấp.
Nam không xuống.
– Cháu tìm được một dấu khắc trên xà.
– Tôi bảo xuống.
– Dấu này trùng với thước ông nội cháu.
Mặt bác Hưng thoáng co lại, rất nhanh.
– Ai cho cậu động vào đồ của ông ấy.
– Bác biết dấu này là gì.
Bác không trả lời, chỉ rọi đèn sát vào vách trái rồi quay sang Nam.
– Nếu cậu còn muốn sống yên ở cái làng này, lắp trần lại, ném cái thước đi, sáng mai rời khỏi đây.
Nam bám chặt thanh giàn.
– Còn cửa gian thờ.
– Cửa đó không dành cho cậu.
Bác Hưng quay lưng đi ra cổng, bước chân gấp hơn lúc vào. Cổng vừa khép, từ gian thờ khóa vang lên một tiếng đục thật mạnh làm cả vách rung nhẹ. Bụi từ mép trần rơi xuống như mưa mịn.
Nam thở mạnh, châm lại đèn dầu, cúi sát đoạn xà vừa lộ dấu. Anh lấy cây thước Lỗ Ban từ túi áo, áp phần ký hiệu mòn trên thân thước vào bên cạnh dấu khắc ngược.
Hai hình trùng nhau gần như tuyệt đối.
Trong ánh lửa vàng, một thước một xà, hai dấu khắc cùng chung một bàn tay, cách nhau mấy chục năm mà vẫn khớp như vừa làm trong cùng một đêm.