VỆT MỰC TRÊN THƯỚC LỖ BAN - Chương 6: Bản Chép Cứu

Nam ngồi nguyên trên bậc hiên đến lúc trời nhạt màu. Cổng ngoài vẫn khóa ba vòng như đêm trước. Từ chính điện, mùi tro ẩm chưa tan hết bám vào vòm mũi,…

Nội dung chương

Nam ngồi nguyên trên bậc hiên đến lúc trời nhạt màu. Cổng ngoài vẫn khóa ba vòng như đêm trước. Từ chính điện, mùi tro ẩm chưa tan hết bám vào vòm mũi, nhắc anh từng giây rằng chuyện vừa xảy ra không phải ác mộng.

Mảnh giấy cháy còn ba chữ dưới xà trái nằm giữa lòng bàn tay anh. Anh lật qua lật lại mảnh giấy mỏng giòn, cố nhìn ra dấu mực còn sót ở mép cháy đen. Không thêm được chữ nào. Chỉ có những đốm nâu li ti như tàn nhang rải dọc theo sợi giấy.

Khi tiếng chổi tre ngoài ngõ kéo xào xạc, ổ khóa cổng xoay cạch một tiếng rồi mở. Cô Sương ló đầu vào, thấy Nam ngồi bệt trên hiên thì giật mình.

– Bác Hưng khóa cổng à.

Nam gật.

– Khóa để cháu không đuổi theo.

Cô Sương khép cổng lại sau lưng, hạ giọng.

– Đêm qua bác ôm cái gì chạy qua sân nhà tôi. Mặt bác trắng như người sốt.

Nam đứng lên, xoa gáy cho đỡ tê rồi chỉ lên trần.

– Bác đem đi cuốn sổ cháy lấy trong hốc xà.

Cô Sương im vài giây, rồi nói rất nhỏ.

– Nếu đã bị lấy mất, cháu dừng đi.

– Cháu đã đọc được một phần.

– Một phần cũng đủ khiến người ta chết.

Nam nhặt chiếc túi vải rách quai trên bàn, giũ bụi gỗ ra. Trong túi còn ống tre cháy xém, chốt đồng răng cá và vài mẩu dây mây mủn. Anh đưa ống tre cho cô Sương xem.

– Cái này còn trong hốc, bác Hưng không lấy được.

Cô lắc đầu, lùi nửa bước.

– Tôi không dám cầm.

Nam gật, cất ống tre vào túi.

– Vậy để cháu tự xử lý.

Anh ăn vội bát cơm nguội với nước mắm rồi trải đồ nghề ra bàn. Việc đầu tiên là làm bản chép cứu từ ký ức trước khi các chi tiết mờ đi. Nam lấy sổ mới, kẻ bốn cột như cấu trúc anh thấy trong cuốn sổ cháy: tên, giờ, địa điểm, ghi chú. Dòng đầu tiên anh viết rất chậm.

Nguyễn ... An.

Anh dừng bút, nhắm mắt, ép mình nhớ lại hình nét trang giấy cháy đêm qua. Cột bên phải có hai chữ đã xử. Dưới dòng tên ấy là câu giấu dưới xà trái, khóa bằng mộng nghịch. Anh chép lại y nguyên, rồi khoanh tròn.

Nam viết thêm phần đầu sổ anh còn nhớ: ghi chép vật liệu sửa từ đường, số lượng xà, nêm, cột, ngày nhập gỗ. Những mục đó tưởng vô nghĩa, nhưng người làm nghề biết rằng vật liệu luôn đi trước bí mật. Muốn giấu thứ gì trong xà, phải có gỗ lên đúng ngày. Muốn khóa thứ gì bằng mộng nghịch, phải có thợ đủ tay nghề và đủ gan.

Đến giữa buổi, anh mở ống tre ra kiểm tra. Nắp ống bít chặt bằng nhựa cây cũ, cạy rất lâu mới bật được. Bên trong không phải bùa như anh lo. Có một cuộn giấy dó mỏng cuốn quanh que tre nhỏ, giấy ố vàng, mép sém khói. Nam kéo ra thật chậm. Trên giấy là các con số kiểu cũ viết bằng mực nâu đã bạc.

12.8.72.

1.11.72.

4.3.73.

Bên cạnh mỗi mốc là ký hiệu ngắn giống dấu răng cá. Dòng cuối bị lem, chỉ đọc được nửa năm: 19...

Nam chạm ngón tay lên dòng 12.8.72. Bụng anh lạnh đi. Nếu mốc này đúng, án cũ không phải chuyện đời ông cố xa xăm mù mịt như lời người làng, mà là chuyện có ngày có tháng rất cụ thể.

Anh chụp ảnh cuộn giấy dưới nhiều góc sáng rồi chạy sang nhà cô Sương mượn chiếc kính lúp. Cô không hỏi thêm, chỉ mang kính ra và dúi thêm cho anh một gói cơm nắm.

– Ăn đi rồi làm.

Nam ngồi ở hiên chính điện, kê kính lúp sát giấy dó. Dưới độ phóng đại, bên cạnh mốc 1.11.72 có thêm chữ viết tắt như ĐT, còn mốc 4.3.73 có chữ GT. Anh thử liên kết: ĐT có thể là đình trái, GT có thể là gian trái. Nếu vậy, các mốc không chỉ là ngày. Chúng là nhật ký chuyển vị trí giấu vật.

Đầu giờ chiều, Nam mang cuộn giấy và bản chép sang đình tìm bà Tịnh. Bà đang chẻ thuốc nam ngoài sân.

– Tôi đoán cậu sẽ qua.

Nam đặt giấy lên chiếu, chỉ từng dòng.

– Bà nhìn giúp cháu. Chữ tắt này nghĩa gì.

Bà đeo kính lão, nhìn rất lâu rồi thở ra.

– ĐT là đồng tây. GT là gian trái.

– Đồng tây là gì.

– Bãi mả cũ phía tây làng, nay thành ruộng dưa. Hồi chiến tranh, người ta lấp nhanh những người chết chưa kịp gọi tên.

Nam im lặng.

– Vậy mốc 12.8.72.

– Là đêm mưa lớn. Tôi nhớ vì đêm đó đình đổ một mảng tường.

Nam ngẩng lên.

– Bà nhớ chính xác vậy.

– Vì cũng đêm đó có người chạy tới đình xin dầu đèn. Tay dính toàn bồ hóng. Người đó là cha cậu.

Nam như bị ai đập thẳng vào ngực. Anh nắm mép chiếu.

– Cha cháu.

Bà Tịnh gật chậm.

– Ông ấy còn trẻ. Mặt bị cào rớm máu. Ông nói phải giữ đèn sáng tới sáng, không được để tắt.

Nam thấy cổ họng khô rát.

– Cha cháu tham gia chuyện này.

– Tham gia hay bị kéo vào, cậu phải tự tìm.

Bà chỉ lên bản chép.

– Cậu đang làm đúng một việc. Giữ lại chữ trước khi nó biến mất.

Nam hỏi thêm về chữ ký nửa họ Đo anh thấy trong sổ. Bà Tịnh không trả lời thẳng. Bà chỉ nói chữ ký đời trước trong họ thường bắt đầu bằng nét móc ngược giống dấu trên thước Lỗ Ban, còn đời sau đổi sang nét thẳng. Manh mối mỏng, nhưng đủ để Nam khoanh vùng thời điểm.

Chiều muộn, anh quay lại từ đường, khóa cổng, kéo bàn vào giữa chính điện. Anh quyết định lập hai bản chép: một bản đầy đủ giữ trong người, một bản tách mốc năm giấu riêng ở mái hiên. Nếu bị lấy một bản, anh vẫn còn đường lần lại.

Anh viết tới trang thứ bảy thì nghe tiếng xe máy dừng trước cổng. Bác Hưng gọi vọng vào.

– Ra đây.

Nam để bút xuống, đi ra sân.

Bác Hưng đứng ngoài cổng, không vào, tay cầm ô đen dù trời không mưa.

– Tôi đã nói cậu dừng.

– Cháu đang dọn phần dang dở.

– Dọn xong thì đi.

Nam nhìn thẳng.

– Cuốn sổ đâu.

Mặt bác Hưng cứng lại.

– Không có cuốn nào.

– Nếu không có, bác đã không khóa cổng.

Bác Hưng bước sát song cổng, giọng hạ thấp.

– Cậu nghĩ cậu viết lại được bao nhiêu. Nửa trang cậu đọc được không đủ chống cả một họ.

– Cháu không chống họ. Cháu chống việc giấu xác.

Bác Hưng nhìn Nam chằm chằm rồi bật cười rất khẽ.

– Cậu đang nói chữ của người chết để xử người sống.

– Người sống đã xử người chết trước.

Hai người đứng im vài giây. Cuối cùng bác Hưng dựng lại cổ áo, quay xe đi. Trước khi nổ máy, bác quay đầu nói một câu.

– Đừng để bút cháy vào tay.

Tiếng xe xa dần. Nam đứng dưới hiên, mưa bụi bắt đầu rơi mỏng trên sân gạch. Câu vừa rồi của Hưng nghe như dọa nạt, nhưng cũng giống một kinh nghiệm thật.

Đêm đó điện có lại. Nam không bật đèn tuýp, chỉ để đèn dầu và một bóng bàn mờ ở góc sân. Anh trải bản chép lần hai, dùng bút mực nâu để giữ gần kiểu chữ gốc. Viết đến dòng Nguyễn ... An, mực ở ngòi bút bỗng khô dù bình còn nửa. Anh lắc nhẹ, mực lại chảy.

Viết đến mốc 12.8.72, ngọn đèn dầu rụt lửa một nhịp rồi bùng lên. Nam liếc quanh. Không gió.

Anh tiếp tục, thêm dòng giấu dưới xà trái, khóa bằng mộng nghịch. Vừa đặt dấu chấm cuối, mép trang giấy trước mặt co lại như gặp nhiệt. Nam chồm tới, tưởng tàn bấc rơi vào. Không có tàn nào. Nhưng trên góc phải trang giấy đã hiện một vệt nâu sẫm, lan nhanh thành đường cháy mỏng.

Anh giật trang giấy ra khỏi sổ, dập bằng khăn ướt.

Không có lửa.

Vệt cháy vẫn bò thêm một đoạn rồi dừng, để lại mép giấy quăn cứng và mùi giấy khét.

Nam nhìn chằm chằm trang giấy trong tay, sống lưng lạnh buốt. Anh nhấc đèn dầu soi kỹ mặt bàn, kiểm tra bấc, kiểm tra chân đèn, kiểm tra cả tay áo. Không có nguồn lửa nào chạm vào giấy.

Anh thử với tờ khác. Viết tên vật liệu bình thường, không sao. Viết mốc 4.3.73, không sao. Viết lại chữ An ở cuối dòng, góc tờ giấy nóng lên dưới ngón tay như có ai đặt than hồng vào phía bên kia mặt giấy.

Nam buông bút, đứng bật dậy.

Từ hành lang trái, không có tiếng bào, chỉ có tiếng gỗ nứt rất nhỏ như móng tay cào lên mặt ván. Ngắn, đều, ba nhịp một.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Anh quay sang nhìn cánh cửa gian thờ khóa. Cửa vẫn im, ổ khóa đồng xỉn màu vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Nhưng mặt ổ khóa ánh lên một dải đỏ mỏng, giống hệt màu vệt trên cây thước.

Nam hạ mắt nhìn lại trang bản chép vừa dập khăn. Ở mép cháy, giữa lớp giấy quăn đen, hiện ra thêm một nét mực mà trước đó không có.

Một con số 7.

Anh đứng chết lặng. Trang giấy tự cháy sém dù không có lửa, và trong vết cháy vừa sinh ra thêm một mảnh ngày tháng bị giấu.

Chương khác

Xem thêm