Yểm Thắng Sư - Chương 19: Sổ Đinh Cũ
Con đường dẫn ra xóm ngoài làng Vũ Đại chạy men theo một nhánh sông cụt, nước chuyển màu đen kịt vì rác thải từ khu công trường san lấp phía thượng lưu…
Nội dung chương
Con đường dẫn ra xóm ngoài làng Vũ Đại chạy men theo một nhánh sông cụt, nước chuyển màu đen kịt vì rác thải từ khu công trường san lấp phía thượng lưu đổ về. Mưa phùn bắt đầu nặng hạt, cuốn theo mùi bùn thối và vôi vữa ẩm ướt tạt thẳng vào mặt hai người. Nhẫn đi trước, bước chân hơi khập khiễng do vết thương dưới gan bàn chân trái vẫn âm ỉ nhức nhối. Ngón tay trỏ bàn tay phải của anh, nơi bị sợi chỉ đỏ cứa vào đêm trước, giờ đã được băng bó bằng một lớp gạc trắng nhưng thỉnh thoảng vẫn rỉ ra vài vệt máu hồng nhạt.
Hà Linh kéo cao cổ áo khoác, bước nhanh để bắt kịp Nhẫn. Cô đưa mắt nhìn quanh những ngôi nhà cấp bốn mái ngói xám xịt nằm lọt thỏm giữa những vườn chuối rậm rạp.
- Ông Lâm sống ở căn nhà cuối ngõ kia Hà Linh vừa nói vừa chỉ tay về phía một ngôi nhà có tường bao quanh bằng gạch xỉ xám ngoét - Tôi phải nhờ một người quen cũ ở phòng lưu trữ huyện mới tìm ra địa chỉ của ông ấy. Ông Lâm từng làm thư ký ủy ban xã suốt từ những năm tám mươi cho đến khi về hưu. Từ ngày nghỉ việc, ông ấy dọn hẳn ra xóm ngoài này sống ẩn dật, hầu như không bao giờ bước chân vào đình làng hay tham gia các việc chung của họ Vũ nữa.
Nhẫn không đáp, anh chỉ gật đầu nhẹ. Vết mực tổ ở gan bàn chân anh đang nhói lên từng nhịp trùng với tiếng máy xúc gầm rú từ phía công trường xa xa. Anh cảm nhận được mạch đất dưới chân mình đang có những chuyển biến bất thường sau khi anh dùng máu tạm khóa khí khẩu dưới bếp nhà dì Sương. Mạch âm bị nghẽn lại giống như một dòng nước bị chặn đập, đang cuồng nộ tìm kiếm một kẽ hở khác để thoát ra ngoài.
Cánh cổng sắt hoen gỉ của nhà ông Lâm khép hờ. Nhẫn đẩy nhẹ, tiếng bản lề khô dầu rít lên chói tai. Một con chó vàng gầy trơ xương nằm dưới hiên nhà khẽ ngước mắt nhìn khách lạ, nó không sủa mà chỉ lầm lũi cụp đuôi chui vào gầm phản gỗ.
Ông Lâm bước ra từ gian nhà trong. Đó là một ông cụ ngoài bảy mươi tuổi, dáng người gầy gò, mặc chiếc áo len sợi màu lông chuột đã sờn rách ở hai bên khuỷu tay. Đôi mắt ông trũng sâu sau cặp kính lão dày cộp, toát lên vẻ mệt mỏi và cảnh giác. Khi nhìn thấy Nhẫn, ông cụ khựng lại một nhịp, ánh mắt dừng lại rất lâu trên bàn tay băng bó của anh.
- Các cháu tìm ai? Giọng ông Lâm khàn khàn, nhỏ nhẹ như tiếng gió rít qua khe cửa.
- Chào bác, cháu là Hà Linh, người hôm qua đã gọi điện cho bác qua giới thiệu của anh Bình ở phòng lưu trữ huyện Hà Linh bước lên trước, giọng ôn hòa - Còn đây là anh Nhẫn, cháu nội của ông Vũ Đức Cẩn.
Nghe đến cái tên Vũ Đức Cẩn, nét mặt ông Lâm co rúm lại. Ông nhìn quanh sân nhà như sợ hãi có ai đó đang rình rập, rồi vội vàng vẫy tay bảo hai người vào nhà:
- Vào đi, vào nhà rồi nói chuyện. Ngoài trời gió lạnh lắm.
Căn nhà của ông Lâm bày biện đơn sơ, sực mùi giấy cũ và dầu gió. Trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ đặt giữa nhà là một khay trà bằng sứ đã ố vàng. Ông Lâm rót nước mời hai người, bàn tay ông run rẩy khiến nước chè tràn cả ra ngoài khay.
- Bác biết cháu nội ông Cẩn sẽ có ngày tìm đến đây - Ông Lâm thở dài, đặt ấm trà xuống - Khi nghe tin ông Cẩn nằm mộ quỳ, bác đã biết đại trận của làng có biến. Những chuyện đó bác không muốn dính dáng vào nữa, nhưng anh Bình đã mở lời, lại nghĩ đến tình nghĩa ngày xưa với ông nội cháu, bác mới đồng ý cho các cháu xem tài liệu.
- Cháu cảm ơn bác Nhẫn nói, giọng anh trầm thấp Cháu chỉ muốn tìm hiểu về những người đã bị xóa tên khỏi làng qua các thời kỳ. Ông nội cháu trước khi mất có để lại một số manh mối, tất cả đều dẫn đến những năm cụ thể như 1723, 1889, 1947 và 1972.
Ông Lâm im lặng một lúc lâu. Ông đưa tay lên tháo cặp kính lão ra, dùng vạt áo lau đi lau lại tròng kính rồi lại đeo vào. Sau đó, ông đứng dậy đi vào gian buồng trong. Tiếng chìa khóa lách cách mở tủ sắt vang lên khô khốc. Vài phút sau, ông quay trở ra, trên tay nâng niu một cuốn sổ khổ lớn, bìa bọc bằng vải chàm đã phai màu thành một thứ sắc xanh xám loang lổ.
Mùi mốc ẩm đặc trưng của giấy bản cổ lập tức lan tỏa trong không gian hẹp của căn phòng. Ông Lâm đặt cuốn sổ lên bàn, cẩn thận lật từng trang giấy mỏng, ngả màu vàng đục như da người già.
- Đây là bản sao Sổ Đinh của làng Vũ Đại Ông Lâm nói, ngón tay gầy guộc chỉ vào những dòng chữ viết bằng mực tàu - Bản chính bằng chữ Nho được cất giữ nghiêm ngặt trong hòm đồng dưới đình làng, do người họ Trần và các cụ trưởng họ Vũ quản lý. Những năm tám mươi, khi nhà nước yêu cầu rà soát lại nhân khẩu để làm sổ hộ khẩu mới, bác đã được giao nhiệm vụ dịch nghĩa và sao chép lại cuốn sổ này sang chữ quốc ngữ. Bác đã âm thầm chép thêm một bản lưu lại cho riêng mình.
Nhẫn cúi đầu nhìn vào trang sách. Nét chữ viết tay của ông Lâm thời trẻ rất thẳng hàng, rõ ràng. Cuốn sổ ghi chép chi tiết từ tên họ, ngày sinh, ngày mất, cho đến các ghi chú về việc chuyển đi hoặc đi phu, đi lính của từng nhân đinh trong làng qua nhiều thế kỷ.
Tuy nhiên, khi lật đến những trang ghi chép về các mốc năm mà Nhẫn đang tìm kiếm, anh lập tức phát hiện ra những điểm bất thường.
Trên mặt giấy bản, có nhiều dòng chữ bị cạo trắng hoàn toàn bằng dao lam, để lại những vệt giấy xơ xác, mỏng dính. Ở một số chỗ khác, người ta không cạo chữ mà dùng một loại mực đen đặc, ngửi có mùi hắc của hắc ín, quét đè lên nhiều lớp khiến phần chữ bên dưới hoàn toàn bị chôn vùi trong bóng tối.
- Tại sao những chỗ này lại bị xóa? Hà Linh hỏi, cô chỉ vào một khoảng trắng bị cạo nham nhở ở trang ghi chép năm 1947.
- Không phải tự nhiên mà xóa - Ông Lâm hạ thấp giọng, mắt vẫn nhìn ra phía cửa sổ - Khi bác sao chép cuốn sổ này từ bản gốc trong đình, những chỗ đó vốn đã bị bôi đen hoặc đục lỗ trên giấy bản cổ rồi. Có những dòng chữ bị cạo sạch đến mức không còn để lại một dấu vết nào của nét mực cũ. Bác chỉ chép lại đúng hiện trạng của bản gốc mà thôi. Các cháu nhìn kỹ đi, những năm bị cạo này đều trùng khớp với những biến động lớn của làng.
Nhẫn đưa ngón tay trỏ đang băng bó vuốt nhẹ lên một vết cạo trên trang sổ ghi năm 1889. Cảm giác nhám của sợi giấy xơ ra dưới ngón tay khiến gan bàn chân anh lại nhói lên một cơn đau buốt. Anh nhận ra các năm bị xóa tên này hoàn toàn trùng khớp với các mốc thời gian khắc trên ba mảnh đồng mà anh đã tìm thấy ở giếng Cây Dâu, đình làng và dưới chân bàn thờ Táo quân nhà dì Sương.
Lật tiếp vài trang nữa, Nhẫn dừng lại ở phần ghi chép của năm 1972.
Ở giữa trang giấy, có một dòng chữ ghi tên: 'Vũ Thị Huệ'.
Dòng chữ này không bị cạo trắng, cũng không bị bôi đen bằng mực hắc ín. Nhưng bên cạnh tên của bà, phần ghi chú vốn ghi 'chết bệnh khô' đã bị ai đó dùng bút mực đỏ gạch chéo một đường sắc lẹm. Phía trên đường gạch chéo đó, có một nét chữ viết tay nguệch ngoạc viết đè lên: 'đi khỏi làng'.
- Vũ Thị Huệ... Nhẫn thì thầm cái tên này. Anh nhớ lại vệt nước đen rỉ ra trên bức tường gạch xỉ nhà dì Sương đêm qua, vệt nước đã tự đọng lại thành chữ 'Huệ'.
- Người phụ nữ này bác có nhớ - Ông Lâm tặc lưỡi, nét mặt thoáng hiện lên vẻ u uất - Hồi đó bác mới vào làm thư ký xã. Cô Huệ là Người đẹp nhất xóm trong, nhưng rồi tự nhiên mất tích trong một đêm mưa bão năm 1972. Kẻ nhà họ Vũ bảo cô ấy bị bệnh khô rồi chết, đem chôn vội ở bãi tha ma ven sông. Nhưng khi bác làm sổ sách, ông nội cháu - cụ Cẩn - đã đến gặp bác và yêu cầu ghi vào sổ là 'đi khỏi làng'. Cụ bảo ghi như thế để giữ lại một con đường sống cho cô ấy. Bác không hiểu ý cụ là gì, nhưng vài ngày sau, ông trưởng họ Vũ thời đó đã đến, tự tay dùng bút mực đỏ gạch phăng dòng chữ đó đi.
- Đi khỏi làng" thực chất là bị đưa đi làm vật hiến tế cho trận yểm, đúng không bác? Hà Linh đột ngột hỏi, giọng cô run run.
Ông Lâm không trả lời trực tiếp câu hỏi của Hà Linh. Ông cụ cúi đầu, tránh ánh mắt của hai người trẻ tuổi:
- Ngày xưa có những người bị 'đưa đi khỏi sổ'. Một khi tên của họ bị xóa hoặc bị gạch khỏi Sổ Đinh, họ coi như không còn tồn tại trên đời này nữa. Người làng không được phép cúng giỗ công khai, không được dựng bài vị trong nhà thờ họ. Họ trở thành những bóng ma không tên không tuổi, bị gạt ra ngoài lề của dòng họ và làng xóm. Người ta làm thế để cắt đứt mọi duyên nợ của người chết với mảnh đất này, tránh việc oán khí của họ quay lại làm động mạch đất.
Nhẫn im lặng lắng nghe. Anh cảm thấy một luồng khí lạnh từ cuốn sổ cũ đang thấm qua đầu ngón tay, lan dần lên cánh tay rồi chạy thẳng vào ngực. Những cái tên bị cạo trắng kia chính là những chiếc bấc đèn đã cháy hết trong đại trận Rùa Ngửa. Khi một người bị chọn làm vật hiến tế để trấn giữ một mắt trận, tên của họ phải bị xóa sạch khỏi thế giới người sống để phong ấn hoàn toàn phần hồn của họ dưới lòng đất.
Hà Linh tiếp tục lật những trang sổ về trước. Khi đến trang ghi chép năm 1943, cô đột ngột dừng lại.
Đó là một trang giấy bị cạo sạch gần như toàn bộ phần ghi chép của một hộ gia đình họ Đinh. Vết cạo sâu đến mức làm rách một khoảng nhỏ trên giấy bản. Người ta đã dùng dao lam cạo đi tên của người đàn ông đứng hộ, người mẹ và hai người con trai. Chỉ còn sót lại duy nhất một dòng chữ nhỏ ở góc dưới cùng, ghi tên của một bé gái:
... Thị ...
Phần họ và tên chính của bé gái đã bị xóa mất, chỉ còn lại chữ lót 'Thị' nằm trơ trọi giữa khoảng giấy xơ xác. Bên cạnh đó là dòng ghi chú ngắn ngủi bằng mực tàu đã phai: 'Mất tích trong nạn đói'.
Hà Linh nhìn chằm chằm vào dòng chữ đó. Ngón tay cô run lên bần bật, gương mặt cô trở nên nhợt nhạt dưới ánh sáng tù mù của gian phòng.
- Linh, cô sao thế? Nhẫn nhận ra sự bất thường của cô, anh hỏi nhỏ.
Hà Linh hít một hơi đất ẩm, cố gắng giữ cho giọng mình không bị lạc đi:
- Mẹ tôi... bà ấy không bao giờ biết rõ về gốc gác của cha mẹ bên ngoại. Bà ngoại tôi ngày xưa chạy loạn từ vùng này lên mạn ngược trong nạn đói năm 1945. Mẹ tôi chỉ nghe bà ngoại kể lại rằng gia đình bà ngày xưa ở làng Vũ Đại mang họ Đinh, nhưng cả nhà đã chết hoặc mất tích hết trong một đêm tối tăm trước nạn đói. Bà ngoại tôi lúc đó còn rất nhỏ, được một người quen đưa đi khỏi làng nên mới sống sót. Tên của bà ngoại tôi... cũng có chữ lót là Thị.
Nhẫn nhìn Hà Linh, rồi nhìn lại dòng họ Đinh bị cạo sạch trên trang sổ. Một mối liên kết vô hình nhưng lạnh lẽo đang dần hiện rõ. Mẹ của Hà Linh từng bị đưa vào một mắt trận, và giờ đây, nguồn gốc của bà ngoại cô lại liên quan trực tiếp đến một gia đình họ Đinh bị xóa tên khỏi Sổ Đinh của làng Vũ Đại năm 1943.
- Bác Lâm, bác có nhớ gì về gia đình họ Đinh bị xóa tên này không? Nhẫn quay sang hỏi ông Lâm.
Ông Lâm lắc đầu, nét mặt đầy vẻ bất lực:
- Chuyện từ năm 1943, lúc đó bác còn chưa sinh ra. Nhưng bác nghe các cụ đời trước kể lại, năm đó làng Vũ Đại xảy ra một vụ dịch bệnh lạ, người chết la liệt. Có một gia đình họ Đinh bị cả làng cô lập vì cho rằng họ mang mầm bệnh. Sau đó, cả nhà họ biến mất trong một đêm. Có người bảo họ đã trốn đi cư trú nơi khác, có người lại bảo họ đã bị đưa xuống giếng Cây Dâu để tế thần sông nhằm dập tắt dịch bệnh. Từ đó về sau, không ai được phép nhắc đến tên của gia đình đó nữa.
Nhẫn rút chiếc điện thoại trong túi ra:
- Cháu xin phép chụp lại những trang sổ này để về nghiên cứu kỹ hơn.
- Cháu cứ chụp đi Ông Lâm gật đầu Nhưng bác nói trước, những thứ đã bị xóa bằng thuật yểm thì mắt người có thể thấy lờ mờ, chứ máy móc chưa chắc đã ghi lại được đâu. Ngày xưa ông nội cháu cũng từng thử chụp lại bản chính trong đình bằng máy ảnh cơ cũ của Đức, nhưng phim rửa ra chỉ là một màu đen kịt.
Nhẫn không nói gì, anh đưa điện thoại lên, căn chỉnh góc sáng rồi bấm chụp liên tiếp các trang sổ có dòng chữ bị cạo trắng của các năm 1889, 1943, 1947 và 1972.
Khi anh bấm xem lại các bức ảnh vừa chụp trong bộ nhớ điện thoại, một cảm giác kỳ lạ ập đến.
Trên màn hình điện thoại, các dòng chữ xung quanh vẫn hiện lên rất sắc nét, rõ ràng đến từng xơ giấy. Nhưng đúng tại vị trí của những vết cạo trắng và những vệt mực đen đè lên tên người, bức ảnh lại bị nhòe đi một cách bất thường. Những vệt nhòe màu xám đục như có một lớp sương mù dày đặc đang bao phủ lấy phần chữ bị xóa, khiến anh không thể nào đọc được dù đã cố gắng phóng to hết cỡ.
Nhẫn thử chụp lại lần nữa, thay đổi góc độ và bật đèn flash, nhưng kết quả vẫn hoàn toàn như cũ. Những cái tên bị xóa vẫn cứng đầu ẩn mình sau lớp sương mù kỹ thuật số.
- Đã bảo mà - Ông Lâm thở dài, giọng ông có phần cam chịu Những người đã bị đưa đi khỏi sổ, tên của họ đã bị khóa lại bằng thuật yểm rồi. Muốn mở được những cái tên đó, phải có bản chính Sổ Đinh nằm trong đình làng và phải biết cách giải yểm. Nhưng bản chính đó giờ do Trần Lãm giữ chìa khóa hòm đồng, không ai tiếp cận được đâu.
Nhẫn cất điện thoại vào túi. Anh đứng dậy, cúi đầu chào ông Lâm:
- Cháu cảm ơn bác đã giúp đỡ. Những thông tin này rất quan trọng với cháu.
- Các cháu đi đi - Ông Lâm tiễn hai người ra cửa, giọng ông run run Bác chỉ khuyên cháu một câu, Nhẫn ạ. Ông nội cháu đã dùng cả mạng sống để nằm mộ quỳ khóa mạch âm lại. Cháu là hậu duệ cuối cùng của họ Vũ có giọt mực tổ, nếu cháu cố tình bới móc những cái tên đã bị chôn giấu này lên, đại trận sẽ tìm đến cháu trước tiên. Hãy cẩn thận với Trần Lãm, ông ta không đơn giản chỉ là muốn bảo vệ công trường ngoài kia đâu.
Nhẫn và Hà Linh bước ra khỏi cánh cổng sắt hoen gỉ. Trời lúc này đã sẩm tối, sương mù từ sông Hồng tràn vào mỗi lúc một dày, nuốt chửng những ngôi nhà cấp bốn của xóm ngoài vào trong một màn đêm ẩm ướt và lạnh lẽo.
Hai người lầm lũi đi bộ dọc theo con đường đê hướng về phía đình làng. Tiếng sóng vỗ vào bờ sông nghe rì rầm như tiếng thì thầm của hàng trăm con người dưới lòng đất sâu.
Khi đi ngang qua quán nước chè chén dưới gốc đa cổ thụ cạnh cổng đình, Nhẫn nhận ra một bóng người quen thuộc đang ngồi im lặng dưới mái hiên lá cọ xơ xác.
Đó là Cố Huyền. Bà lão ngồi một mình trước chiếc bàn gỗ nhỏ, trên bàn chỉ có một ngọn đèn dầu hỏa cháy leo lét và một vài chiếc chén sành sứt mẻ. Đôi mắt đục ngầu của bà nhìn đăm đăm vào màn sương mù trước mặt, như thể bà đang nhìn thấy những thứ mà người thường không thể thấy.
Nhẫn và Hà Linh bước vào quán nước. Cố Huyền không ngước lên nhìn, bà chỉ khẽ đẩy hai chiếc chén sành về phía hai người:
- Uống chén nước vối cho ấm người rồi hãy đi.
Nhẫn ngồi xuống chiếc ghế băng gỗ dài, anh đặt bàn tay băng bó lên mặt bàn:
- Cố, cháu vừa xem bản sao Sổ Đinh ở nhà ông Lâm xóm ngoài.
Cố Huyền khẽ gật đầu, ngón tay nhăn nheo của bà gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ theo một nhịp điệu đều đặn:
- Cuốn sổ của thằng Lâm chỉ là bản sao giữ được cái vỏ chữ thôi. Tên người ta ghi trên giấy thường thì dễ xóa, nhưng cái tên thật của họ, phần hồn của họ đã bị khóa chặt vào đại trận rồi. Bản chính dưới đình làng mới là thứ giữ sinh khí của những người bị hiến tế. Mỗi cái tên bị cạo trong sổ của thằng Lâm tương ứng với một mắt xích của trận Rùa Ngửa.
- Tại sao họ phải cạo tên? Hà Linh hỏi, giọng cô vẫn chưa hết xúc động sau khi nhìn thấy dòng họ Đinh - Một cái tên bị cạo khỏi sổ không làm người đó biến mất.
Cố Huyền đưa mắt nhìn Hà Linh, ánh nhìn của bà lão như xuyên thấu qua lớp sương mù đang bao phủ lấy cô gái trẻ:
- Cháu nói đúng, người ta không biến mất. Nhưng khi tên của họ bị xóa khỏi Sổ Đinh, họ không còn là người của làng nữa. Họ trở thành những cái bấc không tên. Khi bấc cháy hết, dầu cạn, đại trận sẽ tự động tìm kiếm những cái tên mới để thay thế. Họ Đinh nhà ngoại cháu năm 1943 đã bị dùng làm bấc đèn để gánh cái hạn dịch bệnh cho cả làng. Nếu không có người đưa bà ngoại cháu đi khỏi làng năm đó, dòng họ Đinh của cháu đã tuyệt diệt từ lâu rồi.
Nhẫn cảm thấy gan bàn chân trái của mình lại nhói lên một cơn đau dữ dội. Anh đưa tay xuống bóp chặt lấy cổ chân để ngăn cơn run rẩy.
- Cố nói vậy nghĩa là sao? Nhẫn hỏi, giọng anh lạnh đi.
- Nghĩa là đại trận đang đói dầu Cố Huyền nói, giọng bà nhỏ dần như tiếng gió thổi qua kẽ lá đa - Mạch đất dưới nhà dì Sương của cháu bị khóa lại, nhưng đó chỉ là tạm thời. Trần Lãm đang muốn mở rộng công trường để đào bới những mắt trận cũ lên. Nếu hắn tìm thấy hầm ngầm thứ hai, đại trận sẽ sụp đổ hoàn toàn. Khi đó, tất cả những cái tên bị cạo trong Sổ Đinh sẽ quay lại đòi nợ máu của làng này. Người họ Vũ sẽ phải gánh chịu đầu tiên.
Cố Huyền đứng dậy, bà thu dọn những chiếc chén sành trên bàn, thổi tắt ngọn đèn dầu hỏa rồi lặng lẽ bước đi vào trong màn sương mù dày đặc hướng về phía miếu cổ. Bóng dáng gầy gò của bà nhanh chóng bị nuốt chửng bởi bóng tối của đêm đen.
Nhẫn và Hà Linh ngồi lại trong quán nước hoang vắng dưới gốc đa. Tiếng gió rít qua những tán lá đa cổ thụ nghe như tiếng khóc than của những linh hồn không tên dưới lòng đất sâu.
Nhẫn rút điện thoại ra một lần nữa. Anh mở lại bức ảnh chụp trang sổ đinh ghi tên Vũ Thị Huệ năm 1972. Bức ảnh vẫn nhòe mờ ở phần ghi chú 'đi khỏi làng' bị gạch chéo.
- Anh thọc tay vào túi áo, lấy ra mảnh đồng thứ ba - mảnh đồng mang tên Huệ mà anh đã tìm thấy dưới chân bàn thờ Táo quân nhà dì Sương. Mảnh đồng đen xỉn, lạnh ngắt nằm gọn trong lòng bàn tay anh.
Nhẫn đặt mảnh đồng sát vào màn hình điện thoại, ngay phía trên vệt nhòe của bức ảnh chụp.
Một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.
Dưới tác động của mảnh đồng, vệt nhòe màu xám đục trên màn hình điện thoại đột ngột co cụm lại rồi tan biến đi. Từ trong khoảng trắng bị cạo của trang sổ đinh kỹ thuật số, các nét chữ quốc ngữ viết tay của ông Lâm bắt đầu hiện lên lờ mờ nhưng đủ để đọc được.
Đó không phải là dòng chữ 'đi khỏi làng' hay 'chết bệnh khô'.
Dưới lớp mực đỏ bị gạch chéo, nét chữ cũ của ông Lâm hiện lên một chữ duy nhất, chỉ rõ nơi người phụ nữ này bị đưa đến:
đình.