Yểm Thắng Sư - Chương 18: Trần Lãm
Trụ sở ủy ban nhân dân thôn nằm ở ngay ngã ba đầu làng, sát bên cạnh con đường nhựa mới trải dẫn ra khu công trường san lấp. Đó là một ngôi nhà hai tầng…
Nội dung chương
Trụ sở ủy ban nhân dân thôn nằm ở ngay ngã ba đầu làng, sát bên cạnh con đường nhựa mới trải dẫn ra khu công trường san lấp. Đó là một ngôi nhà hai tầng xây từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, tường vôi màu vàng chanh nay đã bong tróc từng mảng lớn. Để lộ ra những hàng gạch đỏ cớm mốc thếch vì hơi ẩm từ mương nước thải bốc lên. Sân trụ sở láng xi măng xám xịt, loang lổ những vũng nước mưa đọng từ đêm qua, vài chiếc xe máy cũ dựng nghiêng ngả dưới gốc cây bàng rụng gần hết lá.
Vũ Thiện Nhẫn đi bộ dọc theo lối nhỏ ven mương để lên trụ sở. Tiếng máy xúc từ phía công trường san lấp vọng lại từng đợt đều đặn, trầm đục như tiếng sấm nghẹn dưới lòng đất. Gan bàn chân trái của anh vẫn còn cảm giác tê dại, mỗi lần đặt chân xuống nền xi măng lạnh, vết bớt đen lại nhói lên một nhịp nhẹ. Anh bước lên cầu thang bê tông hẹp dẫn lên tầng hai, nơi văn phòng của trưởng thôn Trần Lãm tọa lạc.
Trần Lãm đang ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ ép đã rộp mép. Trên bàn đặt một bộ ấm chén bằng sứ Hải Dương vẽ hoa văn cúc trúc đã mờ, bên cạnh là chiếc điếu cày bằng tre lên nước nâu bóng. Thấy Nhẫn bước vào, ông ta không đứng dậy, chỉ dùng ngón tay gõ gõ lên mặt bàn, ra hiệu cho anh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện.
- Ngồi đi. Làm hớp nước chè cho ấm người. Thời tiết cái tiết lập đông này độc lắm.
Trần Lãm rót nước từ chiếc phích Rạng Đông ra chén sứ. Dòng nước chè đặc sánh, màu vàng sậm như nước sông mùa lũ, bốc khói nghi ngút. Ông ta đẩy chén nước về phía Nhẫn, cặp mắt ti hí ẩn sau đôi lông mày rậm rì quan sát nét mặt của người đối diện.
- Dì Sương nhà cháu đã đỡ hơn chưa? Đêm qua tôi nghe mấy đứa tuần đinh báo lại là nhà dưới đó có động. Tôi bận việc trên xã nên sáng nay mới gọi cháu lên đây được.
Nhẫn không chạm vào chén nước chè. Anh đặt hai bàn tay lên đầu gối, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt chữ điền đầy thịt của Trần Lãm:
- Dì tôi tạm thời cắt cơn co giật rồi. Cảm ơn chú đã hỏi thăm. Chú gọi tôi lên đây chắc có việc khác.
Trần Lãm cười nhạt, nụ cười làm những nếp nhăn nơi khóe mắt ông ta xô lại với nhau. Ông ta với lấy chiếc điếu cày, châm một vê thuốc lào bằng chiếc bật lửa ga màu xanh. Tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, giòn giã rồi tắt ngấm. Lãm ngửa cổ phả ra một luồng khói xám đục, mùi thuốc lào nồng hắc lập tức lấp đầy căn phòng nhỏ hẹp.
- Cháu là người học hành đàng hoàng dưới phố, lại là kỹ sư xây dựng. Tôi nghĩ cháu phải hiểu luật pháp hơn những người dân cày ở cái làng này chứ nhỉ? - Lãm gác chiếc điếu cày vào góc bàn, giọng ông ta trầm xuống, mang theo sức nặng của kẻ bề trên - Việc cháu tự ý đập phá gạch nền ở hậu cung đình làng hôm kia, rồi lại xuống giếng Cây Dâu mò mẫm lung tung, người trong ban khánh tiết đã báo cáo lên tôi. Đó là di tích lịch sử cấp tỉnh đã được khoanh vùng bảo vệ. Cháu làm thế là vi phạm pháp luật, gây hoang mang dư luận trong thôn.
Nhẫn vẫn giữ vẻ mặt bình thản:
- Tôi chỉ tìm lại những thứ thuộc về gia đình tôi. Ông nội tôi trước khi mất có để lại lời dặn. Hơn nữa, cái nền gạch ở đình làng bị sụt lún từ trước, tôi là kỹ sư, tôi thấy móng nhà có dấu hiệu chuyển vị nên kiểm tra. Chú Lãm bảo vệ di tích, vậy chú có biết dưới nền đình có một căn hầm khóa đồng không?
Trần Lãm biến sắc trong một nhịp thở rất ngắn, nhưng ông ta nhanh chóng lấy lại vẻ mặt lạnh lùng thường ngày. Ông ta gõ nhẹ ngón tay xuống mặt bàn:
- Đình làng Vũ Đại trải qua bao nhiêu đời, trùng tu sửa chữa không biết bao nhiêu lần. Chuyện có những đoạn móng cũ, hầm chứa đồ tế tự từ thời phong kiến để lại là bình thường. Cháu không có thẩm quyền khảo sát. Việc cháu đang làm là cản trở dự án san lấp mặt bằng của công ty phía ngoài. Họ đã được tỉnh cấp phép, mặt bằng sạch phải được bàn giao đúng tiến độ. Cháu cứ đào bới thế này, chủ đầu tư họ kiện ngược lại xã, lúc đó ai chịu trách nhiệm?
- Tôi muốn xem hồ sơ lưu trữ về những đợt trùng tu đình làng và giếng Cây Dâu - Nhẫn cắt ngang lời Trần Lãm - Đặc biệt là các đợt sửa chữa vào năm 1947, 1972 và đợt gần nhất cách đây ba mươi năm. Chú làm trưởng thôn lâu năm, chắc chắn ban quản lý thôn vẫn còn giữ các biên bản nghiệm thu hoặc nhật ký công trình cũ.
Trần Lãm lắc đầu, ông ta rót thêm nước nóng vào ấm trà:
- Giấy tờ cũ từ thời hợp tác xã nông nghiệp ngày xưa thất lạc hết rồi. Trận lụt lịch sử năm 1996 nước ngập đến tận mái nhà kho ủy ban cũ, tài liệu mục nát hết, có giữ được cái nào đâu. Giờ chỉ còn sổ sách từ năm 2000 trở lại đây thôi. Cháu hỏi những chuyện từ đời tám hoánh ấy làm gì? Đất cát yên ổn thì cứ để nó yên ổn đi.
Tiếng bước chân vội vã từ ngoài hành lang cắt ngang cuộc đối thoại. Hà Linh bước vào phòng, trên tay cô ôm một tập hồ sơ bọc trong túi nilon màu xanh. Tóc cô hơi bết lại vì nước mưa phùn, gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm không ngủ nhưng ánh mắt vẫn đầy kiên nghị. Cô đặt tập hồ sơ lên bàn, ngay trước mặt Trần Lãm.
- Chú Lãm nói giấy tờ cũ mất hết. Nhưng hồ sơ địa chính và bản đồ quy hoạch chi tiết của huyện thì vẫn còn lưu trữ trên phòng Tài nguyên Môi trường.
Hà Linh vừa nói vừa rút ra một tờ bản đồ photo khổ A3.
- Đây là bản đồ thực địa năm 1985 của làng Vũ Đại. Chú nhìn kỹ tọa độ này xem. Khu vực công trường đang san lấp hiện tại, nơi công ty phía ngoài đang đổ đất cát cao như núi kia, trên bản đồ cũ được ghi rõ là 'nghĩa địa phụ'. Đây là nơi chôn cất những người chết trong nạn đói năm 1945 và những người chết không người nhận trong chiến tranh. Tại sao trong hồ sơ hiện tại nộp lên huyện để xin cấp phép dự án, khu đất này lại được ghi là 'đất trống, đất nông nghiệp xen kẹt'?
Trần Lãm không thèm nhìn vào tờ bản đồ. Ông ta tự tay rót cho mình một chén nước chè mới, chậm rãi nhấp một ngụm rồi bảo:
- Cô nhà báo này hay nhỉ. Đất đai qua mỗi thời kỳ có sự thay đổi quy hoạch là chuyện bình thường của nhà nước. Nghĩa địa cũ không có người nhang khói, để hoang hóa mấy chục năm, xã người ta gom lại quy tập về nghĩa trang tập trung phía cuối làng từ lâu rồi. Giờ đất đó chuyển đổi mục đích sử dụng để phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm cho con em trong làng. Các người cứ bới móc những chuyện mồ mả cũ ra để làm gì? Muốn làng này mãi nghèo xơ xác đi à?
- Quy tập nghĩa trang? Hà Linh cười lạnh - Nếu đã quy tập, tại sao công nhân lái máy xúc ở công trường vẫn đào lên được những hũ sành chứa xương cốt chưa phân hủy hết? Tại sao họ phải lén lút chuyển đi trong đêm? Tôi đã chụp lại được hình ảnh những hũ sành đó trước khi họ cho xe tải chở đi đổ trộm ở bãi rác ngoài đê. Chú Lãm, chú đang bao che cho chủ đầu tư làm ẩu để giữ tiến độ dự án, hay chú đang sợ người ta phát hiện ra những bộ xương dưới đó không phải là xương từ thời chiến tranh?
Bầu không khí trong căn phòng nhỏ bỗng chốc trở nên ngột ngạt. Tiếng mưa rơi ngoài hiên lúc này có vẻ to hơn, đập vào những ô cửa kính bám bụi tạo nên những âm thanh lách tách khô khốc.
Trần Lãm đặt mạnh chén nước xuống bàn. Nước chè bắn ra ngoài, thấm vào tờ bản đồ photo của Hà Linh làm nhòe đi một góc mực đen. Ông ta không còn giữ vẻ ôn hòa hành chính nữa, khuôn mặt thịt giần giật, giọng nói đổi sang tông trầm đục đầy đe dọa:
- Các người trẻ tuổi bây giờ chỉ biết nhìn vào mấy tờ giấy lộn rồi lên giọng dạy đời. Các người đi học đại học dưới Hà Nội, sống phòng điều hòa, biết thế nào là cái đất Vũ Đại này? Làng này sống được, con cháu các người có tiền xây nhà cao cửa rộng, có đường nhựa mà đi, tất cả là nhờ cái gì? Là nhờ người đi trước biết giữ yên những chuyện cần phải yên! Đất Vũ Đại này nặng lắm, nếu không có người đứng ra gánh, không có những trận yểm để giữ mạch đất, thì cả cái làng này đã thành bãi tha ma hoang phế từ lâu rồi!
Nhẫn chăm chú quan sát phản ứng của Trần Lãm. Anh nhận ra sự giận dữ của ông ta không đơn thuần là để bảo vệ dự án san lấp. Có một nỗi sợ hãi sâu kín nào đó đang hiển hiện trong ánh mắt ti hí của người đàn ông này.
- Chú biết chuyện đất nặng từ khi nào? Nhẫn hỏi, giọng anh vẫn lạnh như băng - Gia đình chú dòng họ Trần pháp binh, từ đời cụ nội chú đã làm việc cho họ Vũ chúng tôi để giữ các mắt trận. Chú biết rõ dưới giếng Cây Dâu có gì, dưới đình làng có gì, đúng không?
Trần Lãm im lặng. Ông ta tựa lưng vào ghế, mắt nhìn lên trần nhà vôi đã ngả màu cháo lòng. Tiếng mưa rơi bên ngoài vẫn đều đặn. Sau một lúc lâu im lặng, ông ta mới chậm rãi lên tiếng, giọng kể có phần khàn đặc:
- Cha tôi ngày xưa làm người trông coi đình làng. Ông cụ giữ chìa khóa đình suốt bốn mươi năm, từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Hồi tôi còn là một đứa trẻ mười tuổi, có lần tôi tò mò đi theo cha vào đình vào ban đêm. Tôi thấy cha tôi quỳ trước bàn thờ hậu cung, không phải để thắp hương cúng bái, mà ông cụ đang dùng máu ngón tay trỏ bôi lên cái ổ khóa đồng dưới gầm bệ thờ. Cha tôi bảo, cái khóa đó mà rỉ sét, để mạch âm bên dưới xộc lên, thì cả nhà họ Trần sẽ tuyệt tự, và cả làng Vũ Đại này sẽ gặp tai ương.
Trần Lãm vừa nói vừa thò tay vào túi quần, lôi ra một vật gì đó. Ông ta đặt nó lên mặt bàn gỗ ép.
Đó là một chiếc chìa khóa bằng đồng cũ kỹ, to bằng bàn tay người lớn. Chiếc chìa khóa có hình dáng rất kỳ lạ, phần chuôi khóa được đúc thành hình một con rùa ngoảnh đầu lại. Còn phần răng khóa ngoằn ngoèo với những rãnh khía sâu hoắm, bám đầy những vệt rỉ sét màu xanh lục của đồng cổ. Chất đồng xỉn màu, tỏa ra một mùi hôi nồng của kim loại lâu năm nằm dưới đất ẩm.
Nhẫn nhìn chằm chằm vào chiếc chìa khóa. Anh nhận ra ngay những đường khía trên răng khóa có sự tương đồng kỳ lạ với các ký tự khắc trên ba mảnh đồng mà anh đang giữ. Đây chính là chiếc chìa khóa dùng để mở cánh cửa hầm ngầm dưới hậu cung đình làng, nơi anh đã nhìn thấy chiếc khóa đồng khổng lồ bị xích sắt quấn quanh.
Nhẫn đưa tay định cầm lấy chiếc chìa khóa nhưng Trần Lãm đã nhanh hơn. Ông ta lập tức thu tay lại, giấu chiếc chìa khóa vào trong lòng bàn tay gầy guộc nhưng đầy sức mạnh của mình.
- Chiếc chìa này không dành cho cháu Trần Lãm nói, ánh mắt khóa chặt vào Nhẫn - Cha tôi trước khi chết đã truyền lại cho tôi, kèm theo lời thề độc. Dòng họ Trần chúng tôi tuy không phải là yểm sư lập trận, nhưng chúng tôi là những người canh giữ cửa. Trận Rùa Ngửa này đã nuôi sống làng Vũ Đại bao nhiêu năm qua. Nhờ nó mà đất đai tươi tốt, dân làng làm ăn phát đạt, không bị thiên tai lũ lụt tàn phá. Cháu muốn phá nó đi để tìm lại cái gọi là sự thật cho những người đã chết từ trăm năm trước sao? Cháu có nghĩ đến hàng ngàn người sống hiện tại ở cái làng này không?
Hà Linh đứng bên cạnh, cô không giấu nổi sự phẫn nộ:
- Giữ yên bằng cách hiến tế mạng sống của những người vô tội sao? Mẹ tôi... bà ấy từng bị đưa vào một mắt trận ở làng này. Những cái tên bị xóa khỏi sổ đinh, những người chết trẻ không rõ nguyên nhân, tất cả đều là dầu đèn để nuôi cái trận yểm của các người đúng không?
Trần Lãm nhìn Hà Linh bằng ánh mắt lạnh lùng, không chút dao động:
- Cô nhà báo, cô chỉ là người ngoài. Cô không hiểu được cái giá của sự tồn tại. Ở đời làm gì có cái gì miễn phí? Muốn được mùa màng, muốn tránh được dịch bệnh, thì phải có sự đánh đổi. Tổ tiên họ Vũ của Nhẫn ngày xưa đã chọn con đường đó. Họ tự biến mình thành bấc đèn, biến dân làng thành dầu đèn để giữ cho đất này không bị sụp xuống sông Hồng. Giờ Nhẫn muốn rút bấc ra, thì dầu cũng sẽ cháy rụi, và cả cái làng này sẽ chìm trong bùn đất.
Nhẫn nhìn ra ngoài cửa sổ văn phòng. Từ góc nhìn này, anh có thể thấy một phần mái ngói rêu phong của đình làng nhô lên sau những tán cây nhãn cổ thụ. Dưới gốc cây đa cổ thụ cạnh cổng đình, có một quán nước chè chén nhỏ của người làng.
Cố Huyền đang đứng ở đó. Bà lão mặc bộ quần áo nâu sồng rách nách, đầu đội chiếc nón lá rách vành. Bà đứng im lặng dưới làn mưa phùn, đôi mắt đục ngầu nhìn đăm đăm lên phía cửa sổ văn phòng tầng hai của trụ sở thôn. Khi Trần Lãm lôi chiếc chìa khóa đồng ra, Cố Huyền như cảm nhận được một việc. Bà lặng lẽ quay đầu, bước đi những bước chậm rãi nhưng dứt khoát ra phía con đường đê, không dám bước chân vào trong sân trụ sở ủy ban.
Nhẫn quay lại nhìn Trần Lãm:
- Chú đe dọa tôi?
Trần Lãm cất chiếc chìa khóa đồng vào túi áo trong của chiếc áo khoác đại cán cũ. Ông ta đứng dậy, chống hai tay xuống mặt bàn, ghé sát mặt vào Nhẫn:
- Tôi không đe dọa cháu. Tôi chỉ đang nói cho cháu biết quy luật của làng này. Mạch đất dưới nhà dì Sương của cháu chính là cái van xả khí khẩu của đại trận. Cháu dùng máu của mình để tạm thời khóa cái lỗ dưới bàn thờ Táo quân lại, cháu tưởng thế là cứu được dì Sương sao? Mạch âm bị nghẽn ở đó sẽ dồn nén lại, tìm đường thoát ra ở những điểm yếu khác xung quanh. Nếu cháu còn tiếp tục động vào đình làng, mạch đất sẽ tự động điều chỉnh. Khi đó, người đầu tiên chịu trận sẽ là dì Sương của cháu. Sức khỏe của bà ấy không chịu nổi một đợt bùng phát khí âm thứ hai đâu.
Nhẫn đứng dậy. Anh không nói thêm lời nào, quay người bước ra khỏi phòng làm việc. Hà Linh vội vàng thu dọn tập hồ sơ rồi chạy theo anh.
Khi hai người bước xuống cầu thang bê tông, tiếng máy xúc từ công trường san lấp vẫn vang lên đều đặn. Tiếng động cơ gầm rú xen lẫn tiếng xích sắt nghiến trên nền đất đá nghe như tiếng gầm gừ của một con quái vật khổng lồ đang bị giam cầm dưới lòng đất, chực chờ cơ hội để thoát ra ngoài.
- Nhẫn, anh tin những gì ông ta nói chứ? Hà Linh hỏi khi hai người đi ra đến cổng trụ sở.
- Một nửa Nhẫn trả lời, mắt nhìn theo bóng dáng Cố Huyền đã khuất sau khúc quanh của con đường đê - Trần Lãm biết rất nhiều về cấu trúc của trận yểm, nhưng ông ta đang bảo vệ lợi ích của chính mình và của công ty san lấp ngoài kia. Dự án đó chắc chắn có phần hùn vốn của ông ta. Nếu công trường bị dừng thi công vì phát hiện mộ cổ hay xương người, ông ta sẽ mất trắng.
- Nhưng còn chuyện của dì Sương? - Hà Linh lo lắng - Vết đen trên móng chân của dì ấy...
- Tôi phải về kiểm tra lại Nhẫn nói, bước chân anh nhanh hơn.
Trời lúc này đã về chiều, sương mù từ sông Hồng tràn vào làng mỗi lúc một dày đặc. Những ngôi nhà mái ngói san sát nhau dọc theo con đường làng Vũ Đại chìm dần trong màn sương xám xịt, ẩm ướt. Mùi bùn đất nồng hắc từ phía công trường san lấp theo gió bay vào, trộn lẫn với mùi khói bếp củi tạo nên một thứ không khí ngột ngạt, khó thở.
Khi Nhẫn và Hà Linh về đến cổng ngõ nhà dì Sương, họ nhận ra có một việc không bình thường. Cánh cổng tre vốn được khép hờ nay lại mở toang, đung đưa kẽo kẹt theo từng cơn gió lạnh.
Nhẫn bước nhanh qua cánh cổng. Ngay trên bậu cửa đá dẫn vào gian nhà chính, có một vật gì đó đang nằm im lìm.
Đó là một con gà trống thiến cỡ lớn, lông màu đỏ tía. Con gà đã bị cắt tiết từ bao giờ, cái đầu ngoẹo sang một bên, dòng máu đỏ tươi đã đông cứng lại thành một vệt đen sậm trên nền đá xám. Điều kinh dị là miệng con gà bị nhét đầy một thứ đất đen ẩm ướt, nồng nặc mùi bùn thối của lòng sông. Thứ đất đen này giống hệt như loại đất Nhẫn đã tìm thấy dưới lòng giếng Cây Dâu và trong chiếc hầm ngầm dưới đình làng.
Nhẫn cúi xuống, dùng một cành củi khô gạt nhẹ xác con gà. Dưới thân con gà, trên bậu cửa đá, ai đó đã dùng máu gà vẽ một hình tròn đồng tâm với một dấu gạch chéo ở giữa. Ký tự ấy giống hệt hình vẽ trên mảnh đồng thứ ba mà anh vừa tìm thấy dưới chân bàn thờ Táo quân đêm qua.
Hà Linh đứng phía sau, cô che miệng để ngăn một tiếng thét phát ra từ cổ họng.
Từ trong nhà, tiếng ho khan yếu ớt của dì Sương vọng ra, nghe cô tịch và lạnh lẽo giữa màn sương chiều đang buông xuống mỗi lúc một dày.