Yểm Thắng Sư - Chương 15: Ba Mảnh Đồng

Tiếng xích sắt va vào khoen cửa đình kêu loảng xoảng, dội lại từ những bức tường gạch vồ xám xịt. Trần Lãm đứng trên bậc thềm cao, hai tay chắp sau lưng,…

Nội dung chương

Tiếng xích sắt va vào khoen cửa đình kêu loảng xoảng, dội lại từ những bức tường gạch vồ xám xịt. Trần Lãm đứng trên bậc thềm cao, hai tay chắp sau lưng, bóng ông ta đổ dài dưới ánh đèn bão chập chờn. Hai người tuần đinh lực lưỡng đứng hai bên, tay lăm lăm khúc gậy tre đực bóng loáng.

- Nhẫn, đưa cô nhà báo ra ngoài Trần Lãm nói, giọng khàn đặc nhưng đanh thép - Chuyện dưới hầm này, từ giờ đến sáng tôi sẽ báo cáo ban khánh tiết và các cụ trong họ Vũ. Đất đình là đất chung, không phận sự cấm được bén mảng.

Nhẫn không cãi nửa lời. Anh nắm lấy cổ tay Hà Linh kéo nhẹ, ra hiệu cho cô lùi lại. Hà Linh còn muốn nói gì đó, môi cô mấp máy nhưng nhìn thấy ánh mắt lạnh lùng của Nhẫn, cô đành im lặng. Hai người bước qua ngưỡng cửa gỗ lim cao quá đầu gối, đi ra ngoài sân đình. Cơn mưa đêm làng Vũ Đại vẫn rả rích trút xuống những tán cây đa cổ thụ, nước mưa chảy tràn qua các máng xối bằng đất nung, kêu lên những tiếng lộp bộp đơn điệu.

Khi đã đứng dưới mái hiên ngoài của nhà tả vu, Nhẫn mới buông tay Hà Linh ra. Anh rút từ trong túi áo khoác chiếc điện thoại di động màn hình đã nứt một góc.

- Chụp được gì không? Hà Linh ghé sát tai Nhẫn hỏi nhỏ, hơi thở cô phả ra làn khói trắng nhạt giữa trời đêm lạnh buốt.

Nhẫn không trả lời bằng lời. Anh bật màn hình, mở thư mục ảnh vừa chụp trong hầm ngầm. Dưới ánh sáng yếu ớt của màn hình điện thoại, hai bức ảnh hiện lên rõ nét. Bức thứ nhất chụp mặt đồng rỉ xanh nằm ở góc hầm, nơi có những đường rãnh sâu chạy ngoằn ngoèo như mạch máu. Bức thứ hai là cận cảnh xác ướp khô ngồi trên chiếc ghế lim cổ, những sợi chỉ ngũ sắc khâu chặt hai vành môi xám xịt và năm đồng tiền cổ nhét trong kẽ răng.

- Về nhà tôi đã - Nhẫn cất điện thoại vào túi Ở đây không tiện nói chuyện. Trần Lãm sẽ cho người canh cửa hầm suốt đêm nay.

Hai người đi bộ dọc theo con đường lát gạch nghiêng dẫn về phía nhà ông Cẩn. Mưa thấm qua lớp áo khoác mỏng, mang theo cái lạnh ẩm ướt đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ vào cuối đông. Đường làng không một bóng người, chỉ có tiếng chó sủa dai dẳng từ những ngõ tối sâu hun hút.

***

Trong gian nhà ba gian của ông Cẩn, mùi nhang tàn quyện với mùi gỗ mục tạo nên một bầu không khí u uất. Nhẫn bật chiếc bóng đèn sợi đốt treo giữa nhà. Ánh sáng vàng vọt hắt xuống chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ, nơi đặt những cuốn sổ đinh bìa da đã sờn gáy mà ông nội anh để lại.

Hà Linh đặt chiếc máy ảnh chuyên dụng lên bàn, rút thẻ nhớ cắm vào máy tính xách tay của cô. Cô nhanh chóng truyền file ảnh từ điện thoại của Nhẫn sang để phóng to.

- Nhìn vào đây này Hà Linh chỉ ngón tay lên màn hình máy tính, nơi bức ảnh chụp mặt đồng rỉ xanh dưới hầm đình đang được phóng đại hết cỡ - Những đường rãnh này không phải là hoa văn ngẫu nhiên.

Nhẫn cúi người ghé sát mắt nhìn. Trên mặt miếng đồng tròn bị vỡ mất một góc, những đường rãnh nhỏ được khắc chìm sâu vào thớ kim loại. Khi phóng to, các đường rãnh ấy chia mặt đồng thành những ô vuông nhỏ li ti, trông giống như một bàn cờ thế hoặc một sơ đồ phân lô đất đai. Điều đáng chú ý là bên trong mỗi ô vuông đều có khắc một chữ Hán viết tắt kèm theo một dãy ký hiệu số cổ.

- Đây là ký hiệu số đinh Nhẫn nói, giọng anh trầm xuống - Kiểu ghi chép đinh bộ của các cụ thời xưa. Mỗi ô đại diện cho một suất đinh trong làng.

Anh với tay lấy cuốn sổ đinh cũ của ông Cẩn, lật đến những trang giấy bản đã ngả màu vàng đục. Anh dùng ngón tay trỏ dò theo từng dòng chữ viết bằng mực tàu.

- Trong sổ của ông nội tôi có ghi chép về việc lập trận đình làng năm 1889. Năm đó, làng Vũ Đại có ba mươi hai người chết vì bệnh dịch tả. Nhưng trong sổ đinh này, tên của họ không bị gạch chéo như những người chết thông thường. Bên cạnh tên mỗi người đều có một vòng tròn đỏ và một chữ 'Khóa'.

Hà Linh nhanh chóng đối chiếu các ký hiệu trên mặt đồng với những cái tên trong sổ đinh. Ngón tay cô run nhẹ trên bàn phím:

- Đúng rồi. Nhìn ô này đi, chữ 'Vũ' kèm số mười bảy. Trong sổ của ông anh, suất đinh thứ mười bảy họ Vũ năm 1889 là Vũ Văn Tuyên. Người này mất năm hai mươi mốt tuổi, không có vợ con. Ngôi mộ của ông ta... trong sổ ghi là được táng ở chân cột đình phía đông.

Nhẫn im lặng. Anh đứng dậy, đi về phía chiếc tủ chè gỗ trắc ở góc nhà. Từ trong ngăn kéo bí mật dưới đáy tủ, anh lấy ra hai vật bọc trong những mảnh vải xô úa vàng.

Vật thứ nhất là mảnh đồng rỉ xanh hình bán nguyệt mà anh tìm thấy dưới lòng giếng Huệ. Vật thứ hai là mảnh đồng vỡ nhặt được dưới nền nhà hậu điện của đình làng trong buổi chiều hôm trước.

Nhẫn đặt cả hai mảnh đồng lên bàn gỗ, ngay cạnh màn hình máy tính của Hà Linh. Anh cẩn thận dùng hai đầu ngón tay đẩy hai mảnh đồng lại gần nhau.

Một tiếng 'cạch' nhỏ vang lên khô khốc.

Đường nứt lởm chởm của mảnh đồng giếng Huệ khớp khít hoàn hảo với phần khuyết góc của mảnh đồng nhà hậu điện. Những đường rãnh khắc chìm trên bề mặt hai mảnh đồng nối liền nhau, tạo thành một phần của một vòng tròn lớn hơn.

- Chúng là một Hà Linh thì thầm, mắt cô mở to - Nhưng vẫn chưa đủ. Vòng tròn này vẫn còn thiếu một góc lớn ở phía dưới. Phải còn ít nhất một mảnh nữa mới hoàn chỉnh được mặt đồng này.

- Mảnh thứ ba nằm ở công trường san lấp Nhẫn nói, mắt anh đóng đinh vào khoảng trống còn lại trên bàn.

Hà Linh giật mình, cô nhanh chóng mở thư mục lưu trữ ảnh chụp hiện trường vụ lộ xương người ở khu vực công trường ven làng mà cô đã thực hiện từ tuần trước. Cô lướt qua hàng chục bức ảnh chụp những hố bùn sâu hoắm, những chiếc máy xúc đang dừng hoạt động và những cọc tre đóng dở.

- Đây rồi Hà Linh dừng lại ở một bức ảnh chụp cận cảnh một hố đào sâu khoảng ba mét, nơi những khúc xương đùi người xám xịt nhô ra từ vách đất sét vàng - Lúc chụp bức ảnh này, tôi chỉ chú ý đến phần xương cốt. Nhưng anh nhìn kỹ góc dưới bên trái xem.

Nhẫn ghé sát mặt vào màn hình. Ở góc bức ảnh, chìm sâu trong lớp bùn nhão màu xám đen, có một góc kim loại màu xanh xỉn nhô lên. Nó có dạng dẹt, rìa cạnh nham nhở và có màu sắc hoàn toàn trùng khớp với chất liệu đồng cổ của hai mảnh trên bàn.

- Mảnh đồng thứ ba vẫn còn nằm dưới đó Nhẫn nói - Trưa mai, khi công nhân công trường nghỉ ăn cơm, chúng ta phải ra đó lấy nó về.

- Nhưng công trường hiện tại đang bị người của Trần Lãm canh gác rất nghiêm ngặt - Hà Linh lo lắng Họ lấy cớ bảo vệ hiện trường chờ cơ quan chức năng về làm việc để không cho người ngoài vào.

- Tôi biết lối vào qua ngõ nhà dì Sương Nhẫn lạnh lùng nói - Lối đó đi men theo bờ mương, không đi qua cổng chính của công trường.

***

Trưa ngày hôm sau, trời vẫn mưa lút cút không dứt. Gió đông bắc thổi thông thốc qua những rặng tre xơ xác ven làng, mang theo mùi bùn đất nồng nặc từ phía công trường san lấp.

Đúng mười hai giờ trưa, tiếng máy xúc gầm rú suốt buổi sáng đột ngột im bặt. Nhóm công nhân mặc áo mưa tiện lợi màu xanh đỏ lục tục kéo nhau vào chiếc lán tôn dựng tạm ở đầu công trường để ăn cơm hộp.

Nhẫn và Hà Linh nép mình sau bụi chuối rậm rạp bên bờ mương. Nhẫn mặc một chiếc quần lao động cũ, chân đi ủng cao su cao đến đầu gối. Anh xách theo một chiếc xẻng nhỏ cầm tay thường dùng để xúc đất trồng cây.

- Cô đứng đây canh chừng Nhẫn nói nhỏ - Nếu thấy có người đi về phía này thì huýt sáo ba tiếng.

Hà Linh gật đầu, tay cô nắm chặt chiếc máy ảnh giấu dưới vạt áo mưa.

Nhẫn bước xuống lòng mương cạn, bùn ngập đến nửa bắp chân. Anh nhanh chóng bò lên bờ đất phía công trường, hướng thẳng về phía hố móng sâu nơi phát hiện xương người. Mặt đất công trường sau những ngày mưa liên tiếp đã biến thành một bãi sình lầy nhão nhoét, mỗi bước chân đi đều nghe tiếng 'sùm sụp' nặng nề.

Khi đến gần mép hố móng, Nhẫn dừng lại. Vết bớt đen dưới gan bàn chân trái của anh bỗng nhiên nhói buốt. Cơn đau không dữ dội nhưng âm ỉ, chạy dọc theo sống chân lên tận thắt lưng. Anh biết mình đã đến đúng chỗ.

Nhẫn tụt xuống lòng hố. Vách đất sét màu vàng xám trơn trượt, nước mưa đọng dưới đáy hố thành một vũng nước đục ngầu, nổi váng dầu máy xúc.

Anh dùng chiếc xẻng nhỏ gạt bỏ lớp bùn nhão phía trên vách đất nơi những khúc xương đùi đang lộ ra. Những khúc xương xám xịt, mục nát đến mức chỉ cần chạm nhẹ đầu xẻng vào là vỡ vụn ra thành những mảnh nhỏ như cám. Nhẫn không để ý đến xương cốt, anh dùng mũi xẻng chọc nhẹ vào khoảng đất sét phía dưới.

Cạch.

Mũi sắt chạm phải một vật cứng. Nhẫn quỳ rạp xuống bùn, dùng hai bàn tay trần bới đất. Đất sét lạnh ngắt bám chặt vào móng tay anh, buốt nhói. Sau vài phút cào bới, anh rút lên được một miếng kim loại dẹt, nặng trịch.

Đó là mảnh đồng thứ ba.

Mảnh đồng này có kích thước lớn hơn hai mảnh trước, nhưng bề mặt bị ăn mòn nghiêm trọng hơn do tiếp xúc trực tiếp với hóa chất và bùn đất công trường. Nhẫn vội vàng bỏ mảnh đồng vào túi áo khoác rồi trèo lên khỏi hố móng.

Đúng lúc đó, từ phía lán tôn của công nhân, có tiếng bước chân và tiếng nói chuyện oang oang vọng lại.

- Ai ở dưới hố đấy? Một giọng nói khàn khàn cất lên.

Nhẫn không quay đầu lại. Anh nhanh chóng lao xuống bờ mương, chạy dọc theo hàng tre về phía Hà Linh đang đứng đợi. Hai người nhanh chóng rút lui vào con ngõ nhỏ dẫn về phía xóm Đông, bỏ lại tiếng chửi bới của người bảo vệ công trường phía sau lưng.

***

Trở về nhà ông Cẩn, Nhẫn múc một gáo nước giếng dội sạch lớp bùn đất bám trên mảnh đồng thứ ba. Dưới làn nước giếng trong vắt, những vết rỉ xanh bong ra, lộ ra những nét khắc thô sơ trên mặt đồng.

Mặt đồng này bị khuyết mất một góc lớn, nhưng phần còn lại vẫn đủ để đọc được một số thông tin. Ở rìa ngoài của mảnh đồng có khắc một chữ 'Đinh' bằng nét đục nông sâu không đều, và ngay phía dưới là con số '1943'.

- Chữ Đinh và năm 1943 - Hà Linh vừa lau khô tóc vừa nhìn vào mảnh đồng - Năm 1943 là thời điểm xảy ra nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc. Tại sao lại có mảnh đồng khắc tên họ Đinh ở đây?

Nhẫn đặt mảnh đồng thứ ba vào khoảng trống còn lại trên bàn gỗ.

Ba mảnh đồng giờ đây đã ghép thành một vòng tròn gần như hoàn chỉnh, chỉ còn thiếu một vài mảnh vỡ li ti ở phần tâm. Đường kính của vòng tròn đồng này khoảng hai mươi xăng-ti-mét. Khi ghép lại, những đường rãnh khắc chìm trên ba mảnh nối liền nhau tạo thành một mạng lưới đường đi phức tạp, với tâm điểm là một hình tròn nhỏ có khắc chữ 'Vũ'.

- Đây không phải là bùa rời Một giọng nói già nua, khàn đặc vang lên từ phía cửa buồng.

Cố Huyền bước vào nhà, trên tay bà cầm một rổ nhỏ đựng những lá trầu không và một lọ vôi tôi. Bà cụ không gõ cửa, bước đi nhẹ nhàng như một chiếc bóng. Đôi mắt kèm nhèm của bà nhìn chằm chằm vào ba mảnh đồng đặt trên bàn.

- Cố Huyền Nhẫn đứng dậy, kéo ghế cho bà cụ ngồi.

Cố Huyền không ngồi xuống ghế. Bà đi thẳng đến cạnh bàn, đưa bàn tay gầy guộc, da dẻ nhăn nheo như vỏ cây khô vuốt nhẹ lên bề mặt ba mảnh đồng.

- Đồng này đã ăn đất làng này hơn trăm năm rồi Cố Huyền nói, giọng bà run run nhưng rõ ràng - Đây là những chiếc đinh khóa của đại trận Rùa Ngửa. Cụ tổ họ Vũ ngày xưa đúc ra bốn chiếc đinh đồng thế này để ghim bốn góc của trận pháp. Một chiếc chôn ở giếng Huệ để trấn thủy khí, một chiếc chôn ở nhà hậu điện đình làng để trấn nhân khí, một chiếc chôn ở bãi tha ma xóm Đông để trấn địa khí. Còn chiếc thứ tư...

Bà cụ dừng lại, đôi mắt đục mờ nhìn thẳng vào Nhẫn.

- Chiếc thứ tư chôn ở đâu hả cụ? Hà Linh sốt sắng hỏi.

- Chiếc thứ tư chôn dưới mộ tổ gương úp của họ Vũ Cố Huyền thì thầm - Nhưng chiếc đó đã bị người ta đào lên từ ba mươi năm trước rồi. Chính vì chiếc đinh thứ tư bị mất, nên đại trận mới bắt đầu rò rỉ khí âm, buộc ông nội cháu phải tự yểm mình để làm chiếc đinh sống thay thế.

Nhẫn nhìn ba mảnh đồng trên bàn. Vết bớt ở chân anh lại nhói lên một nhịp đau đớn.

- Cụ nói chiếc đinh thứ ba chôn ở bãi tha ma xóm Đông để trấn địa khí Nhẫn hỏi - Nhưng tại sao trên đó lại khắc chữ 'Đinh' và năm 1943?

Cố Huyền thở dài, bà ngồi xuống chiếc ghế tre bên cạnh bàn, lấy một lá trầu quệt chút vôi rồi đưa vào miệng nhai bỏm bẻm. Mùi trầu không cay nồng tỏa ra trong gian nhà ẩm ướt.

- Năm 1943 là năm đói - Cố Huyền kể, mắt bà nhìn ra khoảng sân mưa bong bóng phập phồng - Người làng Vũ Đại chết như ngả rạ. Nhưng riêng xóm Đông có một gia đình họ Đinh, nhà họ giàu nhất nhì vùng, bồ thóc vẫn đầy nguyên. Vậy mà chỉ trong vòng một tháng, từ cụ già đến đứa trẻ mới đẻ của nhà đó đều lăn ra chết sạch. Người ta bảo họ bị trúng gió độc, nhưng thực ra không phải.

Bà cụ nhổ một bãi nước trầu đỏ lòm vào chiếc ống nhổ bằng sành đặt dưới chân bàn.

- Nhà họ Đinh đó nằm ngay trên mắt trận địa khí. Khi đại trận cần thêm sinh khí để duy trì trong năm đói, người ta đã dùng mảnh đồng này để đóng vào huyệt đất nhà họ. Biến cả dòng họ Đinh thành dầu đèn cho trận pháp. Sau khi họ chết sạch, khu đất đó bị bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu người. Mấy năm nay người ta san lấp làm công trường, đào lên toàn xương người nhà họ Đinh đấy.

Hà Linh rùng mình. Cô nhìn vào chiếc máy tính đang hiển thị bức ảnh những khúc xương xám xịt dưới hố bùn. Những khúc xương đó không phải là của những người chết đói thông thường, mà là nạn nhân của một cuộc hiến tế âm thầm được che đậy dưới danh nghĩa thiên tai dịch bệnh.

- Nếu đây là vật chứng ở công trường, tôi phải đưa đi giám định Hà Linh nói, giọng cô kiên quyết - Đây là bằng chứng cho thấy có sự che giấu thông tin về những ngôi mộ tập thể khi thực hiện dự án san lấp.

- Đưa đi lúc này, nó có rời khỏi làng được không? Nhẫn hỏi, giọng anh lạnh lùng.

Hà Linh nhìn Nhẫn, định phản bác nhưng Cố Huyền đã lên tiếng cắt ngang:

- Đồng đã ăn đất này rồi. Mang đi xa, đất vẫn kéo lại thôi cháu ạ. Ngày xưa có người từng mang một mảnh đồng tương tự ra khỏi làng, đi chưa được mười cây số thì xe bị lật chết tươi. Mảnh đồng tự lăn về lại ruộng lúa bên đường. Đất này nó giữ của nó, không ai mang đi được đâu.

***

Đúng lúc đó, cửa nhà ngoài có tiếng bước chân lạch cạch. Dì Sương bước vào, trên tay bưng một bát phở nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút.

- Nhẫn ơi, dì nấu bát phở mang sang cho cháu ăn nóng... Dì Sương nói, nhưng khi nhìn thấy Cố Huyền và Hà Linh đang ngồi quanh bàn với ba mảnh đồng rỉ xanh, dì bỗng dừng khựng lại ở ngưỡng cửa.

Bát phở trên tay dì Sương chao đảo, nước dùng suýt chút nữa tràn ra ngoài. Gương mặt dì vốn đã gầy gò, nay dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn sợi đốt trông càng thêm xám ngoét, không một giọt máu.

- Dì Sương Nhẫn bước lại gần, đỡ lấy bát phở từ tay dì đặt lên bàn.

Dì Sương không nhìn Nhẫn. Đôi mắt dì đóng đinh vào mảnh đồng thứ ba có khắc chữ 'Đinh' và năm '1943'. Đôi môi dì run rẩy, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước ngực.

- Cái này... cái này các cháu lấy ở đâu ra? Giọng dì Sương run bắn lên.

- Cháu lấy dưới hố móng công trường san lấp Nhẫn trả lời Cố Huyền nói đây là mảnh đồng trấn yểm chôn ở khu đất nhà họ Đinh bên xóm Đông ngày xưa.

Dì Sương nghe đến hai chữ 'họ Đinh' thì lùi lại một bước, lưng chạm vào cánh cửa gỗ lim của gian buồng trong. Dì thở dốc, hai tay bám chặt vào khuôn cửa như để giữ cho mình khỏi ngã quỵ.

- Nhà họ Đinh... đúng rồi Dì Sương thì thầm, nước mắt bỗng rỉ ra từ khóe mắt đầy vết chân chim - Mẹ dì ngày xưa kể lại, nhà họ Đinh đó chết chẳng phải vì đói. Năm đó, ông nội cháu... cụ Cẩn... đã đến nhà họ làm lễ ba ngày ba đêm. Sau khi cụ Cẩn đi, cả nhà họ Đinh đóng cửa không ra ngoài nữa. Một tuần sau, mùi thối bốc lên nồng nặc cả xóm Đông, người ta phá cửa vào thì thấy cả nhà họ đã chết khô trên giường, miệng ai cũng bị khâu bằng chỉ ngũ sắc...

Lời kể của dì Sương làm không gian trong căn nhà ba gian trở nên im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái ngói xuống chiếc chậu nhôm đặt góc nhà.

Nhẫn quay lại bàn gỗ. Anh lấy cuốn sổ đinh của ông nội ra, lật tìm danh sách những địa điểm được đánh dấu bằng mực đỏ. Anh dùng một cây bút chì và một chiếc thước kẻ nhựa, bắt đầu nối tọa độ của các điểm phát hiện đồng trên tấm bản đồ làng Vũ Đại tự vẽ.

Điểm thứ nhất: Giếng Huệ ở phía tây làng. Điểm thứ hai: Nhà hậu điện đình làng ở chính giữa. Điểm thứ ba: Hố xương công trường ở phía đông (khu đất nhà họ Đinh cũ). Điểm thứ tư: Ngôi mộ tổ gương úp nằm ở phía bắc, sát chân chùa Hang.

Khi Nhẫn nối bốn điểm này lại với nhau, một đường cong hoàn hảo xuất hiện trên mặt giấy. Đường cong này chẳng phải là một vòng tròn khép kín, mà là một đường xoắn ốc hướng tâm. Và điểm cuối cùng của đường xoắn ốc ấy, nơi các luồng khí âm tụ lại sau khi đi qua bốn điểm khóa, chính là khu vực ngõ nhà dì Sương ở đầu làng.

Nhẫn nhìn đường chì vẽ trên giấy, lòng bàn chân trái của anh lại nhói lên một nhịp đau buốt. Anh nhận ra, nhà dì Sương chẳng phải ngẫu nhiên nằm trên mộ khí khẩu. Ngôi nhà đó đã được cố tình đặt vào vị trí van xả của cả đại trận từ nhiều đời trước.

- Nhẫn Hà Linh chợt kêu lên, giọng cô đầy kinh hãi.

Nhẫn ngẩng đầu lên.

Trên mặt bàn gỗ lim, ba mảnh đồng cổ vốn đang nằm im lìm bỗng nhiên thay đổi.

Nhiệt độ trong căn phòng đột ngột hạ thấp xuống như một hầm đá. Hơi thở của mọi người phả ra thành những luồng khói trắng đục dày đặc. Ba mảnh đồng đặt sát nhau bắt đầu tự phát ra những tiếng 'rè rè' nhỏ, giống như tiếng kim loại bị nung nóng dưới nhiệt độ cao.

Nhẫn đưa ngón tay trỏ chạm nhẹ vào bề mặt mảnh đồng giếng Huệ.

Nóng bỏng.

Mảnh đồng lạnh ngắt vừa rồi giờ đây đang tỏa ra một nhiệt lượng kỳ lạ, ấm dần lên dưới ngón tay anh. Cùng lúc đó, từ những khe nứt rỉ xanh nối giữa ba mảnh đồng, một thứ chất lỏng màu đen sẫm, đặc quánh như dầu luyn bắt đầu rỉ ra.

Thứ nước đen ấy không thấm vào mặt bàn gỗ lim khô nỏ. Nó tụ lại thành một vệt nước nhỏ, đặc quánh, rồi từ từ bò dọc theo mặt bàn.

Vệt nước đen tự động kéo dài thành một đường chỉ mảnh, bò qua mép bàn gỗ, chảy xuống nền nhà lát gạch bát tràng. Nó không chảy loang lổ mà chạy thẳng thành một đường thẳng tắp trên nền đất ẩm, hướng về phía ngưỡng cửa gỗ, chỉ thẳng về phía ngõ nhà dì Sương ở đầu làng.

Dì Sương nhìn vệt nước đen đang bò dưới chân mình, dì hét lên một tiếng thất thanh rồi ngã quỵ xuống nền đất lạnh ngắt.

Chương khác

Xem thêm