Yểm Thắng Sư - Chương 12: Hát Dưới Mái Đình

Chiều tối ở đình Vũ Đại. Ánh hoàng hôn đỏ sẫm như máu loãng nhuộm lên những đầu đao cong vút của mái đình cổ. Sân đình lát gạch Bát Tràng trồi sụt, rêu…

Nội dung chương

Chiều tối ở đình Vũ Đại. Ánh hoàng hôn đỏ sẫm như máu loãng nhuộm lên những đầu đao cong vút của mái đình cổ. Sân đình lát gạch Bát Tràng trồi sụt, rêu phong bám xanh rì ở những kẽ nứt. Sau tai nạn sập giếng Cây Dâu và vụ việc lộ xương người ở công trường san lấp ven làng, không khí trong làng chìm trong sự ngột ngạt. Trần Lãm, với tư cách trưởng thôn, đã quyết định tổ chức một buổi hát thờ cầu an. Lão bảo phải cúng bái, xin thần linh tha thứ cho những động chạm long mạch gần đây để yên lòng dân.

Nhẫn đứng dưới gốc cây đa cổ thụ bên rìa sân đình. Chiếc áo khoác kaki sờn vai của anh nhuộm đẫm hơi ẩm của sương chiều. Trong túi áo, cuốn sổ tay của ông Cẩn nằm im lìm, nhưng Nhẫn cảm nhận được sức nặng của nó. Theo bản đồ đo đạc mà ông nội để lại, các nét vẽ bằng mực tàu chỉ thẳng từ đáy giếng Cây Dâu qua con mương ngầm, đâm thẳng vào trung tâm của nền đình này. Đó là một đường thẳng tắp, không hề lệch một phân.

Hà Linh đứng cạnh anh, chiếc máy ảnh kỹ thuật số nhỏ cầm gọn trong lòng bàn tay. Cô không đưa máy lên chụp ngay mà chỉ quan sát thái độ của những người dân làng đang lục đục kéo đến. Họ đi thành từng nhóm nhỏ, thì thầm bàn tán. Khuôn mặt ai nấy đều xám ngoét dưới ánh sáng nhập nhoạng của những bóng đèn tuýp màu vàng chanh được chăng tạm bợ dọc hiên đình.

- Trưởng thôn Lãm có vẻ vội vàng Linh nói nhỏ, giọng cô bị tiếng loa phóng thanh rè rè treo trên cột điện át đi - Vụ tai nạn ở giếng còn chưa có kết luận điều tra, công trường thì bị đình chỉ tạm thời để làm rõ nguồn gốc mấy khúc xương. Lão tổ chức buổi hát này để trấn an lòng dân, hay là để che đậy chuyện khác?

Nhẫn không trả lời ngay. Anh nhìn chằm chằm vào thềm đá dẫn lên đại bái. Những phiến đá xanh nguyên khối bị mòn vẹt ở giữa do bước chân của nhiều thế hệ. Nơi đó đang bốc lên một luồng hơi lạnh buốt, dù thời tiết lúc này vẫn là mùa hè oi bức. Vết bớt đen dưới gan bàn chân trái của anh hơi giật nhẹ, một cảm giác tê rần chạy dọc lên bắp chân.

- Đình làng Vũ Đại được dựng từ thời Lê Trung Hưng Nhẫn nói, giọng trầm và đều - Nhưng phần hậu cung đã bị trùng tu ít nhất ba lần. Lần gần nhất là vào năm 1972, ngay sau một trận bom rải thảm sát rìa làng. Ông nội tôi là người trực tiếp giám sát đợt trùng tu đó. Trong sổ của ông, phần nền dưới hậu cung được đánh dấu bằng một ký hiệu hình tròn có gạch chéo. Ông gọi đó là khóa âm.

Linh quay sang nhìn anh, đôi lông mày thanh tú nhíu lại:

- Khóa âm? Có nghĩa là bên dưới đó có một cái hầm?

- Có thể Nhẫn bước lên vài bước, mắt vẫn không rời những bậc thềm đá - Đình làng Bắc Bộ thông thường không xây hầm. Nếu có, đó là nơi cất giấu đồ tế khí quan trọng, hoặc là một phần của trận yểm để giữ long mạch. Nhưng ông nội tôi lại ghi chú thêm hai chữ nghịch hướng. Nước chảy vào chứ không chảy ra.

Dân làng bắt đầu ngồi chật kín những chiếc ghế nhựa màu xanh đỏ xếp trên sân đình. Mùi khói hương từ lư đồng lớn đặt trước cửa đình bay nghi ngút, quyện với mùi dầu hỏa của chiếc máy phát điện dự phòng đặt ở góc sân tạo nên một hỗn hợp không khí ngột ngạt, khó thở.

Nhẫn nhìn thấy dì Sương bước vào sân. Dì không ngồi cùng hội phụ nữ trong làng mà đứng nép sát cột cổng đình, hai bàn tay bấu chặt lấy vạt áo cánh màu nâu. Khuôn mặt dì hốc hác, quầng mắt thâm quầng vì mất ngủ nhiều đêm. Kể từ ngày giếng Cây Dâu bị đào lên, sức khỏe của dì yếu đi trông thấy. Nhẫn muốn lại gần hỏi thăm nhưng dì Sương lại nhìn anh với ánh mắt né tránh, rồi khẽ lắc đầu, ra hiệu cho anh đừng đến gần.

Trần Lãm đứng trên bậc thềm cao nhất, chiếc micro trên tay lão rít lên một tiếng chói tai trước khi lão bắt đầu phát biểu. Giọng lão Lãm vang lên, cố tỏ ra oai nghiêm nhưng không giấu nổi sự mệt mỏi:

- Thưa bà con dân làng. Mấy ngày qua làng ta xảy ra một số chuyện không may tại công trường và khu vực giếng cổ. Ban khánh tiết đình làng cùng ban lãnh đạo thôn quyết định tổ chức buổi lễ cầu an, rước đoàn chèo cổ về hát thờ thánh. Đây là nghi thức truyền thống để giữ cho đất đai yên ổn, mưa thuận gió hòa. Mong bà con giữ trật tự để buổi lễ được trang nghiêm.

Lão Lãm dứt lời, tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên rồi tắt ngấm. Dân làng Vũ Đại vốn quen với những buổi hát hội náo nhiệt, nhưng hôm nay không một ai cười nói. Họ ngồi im lặng, những khuôn mặt bất động dưới ánh đèn vàng đục.

Đoàn hát chèo bắt đầu bước ra chiếu diễn được trải ngay trước thềm đại bái. Sân khấu tạm bợ chỉ có một tấm phông bạt màu xanh vẽ cảnh sơn thủy hữu tình đã bạc màu. Nhạc công gõ trống chầu và kéo nhị ngồi lệch sang một bên. Tiếng nhị cất lên, réo rắt và thê lương, len lỏi qua những kẽ lá đa rụng đầy sân.

Nhẫn bước vào phía trong hiên đình. Không gian bên trong tối và lạnh hơn hẳn bên ngoài. Mùi gỗ mục từ những cây cột cái đường kính cả mét tỏa ra, quyện với mùi son phấn cũ ngai ngái của các đào kép đang trang điểm phía sau tấm màn che. Thứ mùi son phấn này rất lạ, nó không thơm kiểu mỹ phẩm hiện đại mà nồng nặc mùi bột chu sa và sáp ong cũ, giống hệt thứ mùi mà Nhẫn đã ngửi thấy dưới lòng giếng Cây Dâu rạng sáng nay.

Anh đưa tay chạm vào một cây cột đình bằng gỗ lim. Bề mặt gỗ lạnh ngắt như đá tảng. Nhẫn miết ngón tay theo những đường vân gỗ bị nứt nẻ, cảm giác như có một dòng nước ngầm đang chảy xiết bên trong thân gỗ, dù mắt thường không nhìn thấy gì.

Vở chèo cổ bắt đầu. Đó là tích Quan Âm Thị Kính, một vở diễn quen thuộc mà người làng Vũ Đại đã xem đi xem lại hàng chục lần. Thế nhưng, không khí trong sân đình mỗi lúc một chùng xuống.

Đoào chính bước ra chiếu diễn. Đó là một cô gái trẻ, khuôn mặt trát phấn trắng bệch, đôi môi tô son đỏ chót như máu. Cô mặc chiếc áo năm thân màu xanh lục, đầu đội khăn mỏ quạ. Nhẫn nheo mắt nhìn. Cô đào này có dáng người mảnh mai, mái tóc đen dài được búi gọn sau gáy, nhưng có vài sợi tóc ướt sũng rũ xuống hai bên thái dương.

Cô đào bắt đầu cất tiếng hát. Giọng cô cao, trong trẻo nhưng mang một âm hưởng lạnh lẽo, không hề có hơi ấm của người sống. Cô diễn phân cảnh Thị Kính bị oan uổng, nhưng đến đoạn than thở, giọng hát của cô bỗng nhiên thay đổi.

Nhịp trống chầu của người nhạc công bỗng khựng lại một nhịp. Ông lão gõ trống ngơ ngác nhìn cô đào, tay cầm dùi trống run lên.

Cô đào không hát theo làn điệu quen thuộc nữa. Cô bước lệch ra khỏi chiếu chèo, tiến sát về phía rìa bậc thềm đá, mắt nhìn thẳng xuống đám đông dân làng đang ngồi im phăng phắc. Giọng cô chuyển sang một tông chiêu hồn, u uất và ai oán:

- Thương ôi thân phận má hồng... Nước đen ngập miệng, xương vùi đất sâu... Tên em ai gạch trên tờ... Họ Vũ lá rụng, giếng dầu cạn khô..."

Tiếng hát vang lên, vang vọng khắp các vì kèo gỗ của mái đình cổ. Âm thanh không chỉ phát ra từ miệng cô đào, mà dội lại từ bốn bức tường gạch vồ xung quanh hậu cung.

Dân làng bắt đầu xôn xao. Những cụ già tóc bạc phơ ngồi hàng ghế đầu đồng loạt cúi mặt xuống đất, hai tay chắp lại vái liên tục. Vài người trung niên bắt đầu đứng bật dậy, nét mặt hiện rõ sự sợ hãi.

Dì Sương đứng ở cổng đình, hai tay bịt chặt lấy tai, người run lên bần bật. Dì nhìn chằm chằm vào cô đào hát trên sân khấu, đôi môi lắp bắp những lời không rõ tiếng. Nhẫn nhìn thấy rõ những giọt mồ hai lạnh chảy dài trên trán dì.

- Có chuyện không bình thường Hà Linh thì thầm, cô nhanh chóng đưa máy ảnh lên, chuyển sang chế độ quay video. Màn hình máy ảnh của cô bắt đầu xuất hiện những đường sọc ngang màu xám, liên tục nhấp nháy.

Trần Lãm đứng ở góc sân khấu, mặt biến sắc. Lão lập tức bước ra, giật lấy chiếc micro từ tay người dẫn chương trình và quát lớn về phía nhạc công:

- Tắt trống! Ai bảo hát đoạn này? Dừng lại ngay!

Nhưng người nhạc công gõ trống chầu đã buông cả hai dùi trống xuống đất. Ông lão ngồi sụp xuống chiếu, hai tay ôm đầu, mặt cắt không còn giọt máu.

Dù vậy, tiếng trống chầu vẫn không dừng lại.

Cắc... Tùng... Cắc... Tùng... Tùng...

Tiếng trống đục ngầu, gõ đều đặn từng nhịp một, phát ra từ chiếc trống da trâu đặt trên giá gỗ sát cột đình. Chiếc dùi trống nằm im trên mặt đất, nhưng mặt da trống vẫn rung lên bần bật theo từng nhịp gõ vô hình. Tiếng phách tre cũng tự động gõ nhịp cạch, cạch giòn giã trên chiếc mâm đồng đặt cạnh đó, dù người gõ phách đã lùi ra xa từ lâu.

Nhẫn không nhìn lên sân khấu nữa. Anh nhìn xuống nền gạch Bát Tràng dưới chân mình.

Từ khe nứt của những viên gạch cổ sát chân cột cái, một dòng nước mỏng, đen ngòm và có mùi bùn yếm khí bắt đầu rỉ ra. Dòng nước không chảy tràn ra sân theo độ dốc tự nhiên của nền đình, mà chảy ngược dòng, luồn lách qua những kẽ gạch, hướng thẳng về phía hậu cung tối tăm.

Nhẫn bước theo đường nước chảy. Gót chân trái của anh đau nhói lên từng cơn, vết bớt đen ở gan bàn chân như đang bị một cây kim nung đỏ đâm vào. Anh phải bám tay vào vách gỗ để giữ thăng bằng.

- Nhẫn! Nhìn cô đào kìa! Hà Linh gọi giật giọng.

Nhẫn quay đầu lại. Trên chiếu chèo, cô đào chính vẫn đang đứng im trong tư thế uốn lượn của điệu múa cổ. Nhưng từ hai lỗ mũi của cô, hai dòng máu đỏ tươi bắt đầu chảy ra, loang lổ trên lớp phấn trang điểm trắng bệch. Đôi mắt cô trợn trừng, không hề chớp, nhìn thẳng vào khoảng không vô định phía trên đầu Nhẫn.

- Xác em ai thả dưới giếng... Tên em ai gạch trong sổ... - Cô đào lại cất tiếng hát, giọng hát lúc này đã khản đặc, lẫn lộn giữa giọng nam và giọng nữ - Mười táp năm nằm dưới bùn... Chờ người họ Vũ đến bưng đầu về...

Hà Linh cố gắng hướng ống kính máy ảnh về phía hậu cung, nơi dòng nước đen đang chảy vào. Nhưng ngay khi ống kính vừa quét qua bức màn che màu đỏ của hậu cung, màn hình máy ảnh của cô bỗng vụt tắt. Chiếc máy ảnh nóng ran lên trong tay cô, rồi bốc lên một làn khói khét lẹt. Linh giật mình buông tay, chiếc máy rơi xuống nền gạch vỡ tan.

- Điện thoại của tôi cũng mất nguồn rồi Linh nói, giọng run rẩy - Cả pin dự phòng cũng không lên.

Dân làng lúc này đã hoảng loạn. Họ chen lấn nhau chạy ra phía cổng đình. Tiếng ghế nhựa đổ loảng xoảng, tiếng la hét, gọi nhau thất thanh vang lên khắp nơi. Trần Lãm cố gắng hét vào micro để ổn định tình hình, nhưng chiếc loa phóng thanh chỉ phát ra những tiếng hú dài, chói tai rồi hoàn toàn câm lặng.

Tiếng trống chầu vô hình vẫn tiếp tục gõ. Nhịp trống mỗi lúc một nhanh hơn, dồn dập hơn, như tiếng tim đập của một sinh vật khổng lồ đang tỉnh giấc dưới lòng đất.

Giữa cảnh hỗn loạn đó, một bàn tay gầy guộc, ráp như vỏ cây khô chộp lấy cổ tay Nhẫn.

Nhẫn giật mình quay lại. Cố Huyền đã đứng bên cạnh anh từ lúc nào. Bà mặc bộ quần áo nâu sồng quen thuộc, mái tóc bạc phơ búi cao, khuôn mặt nhăn nheo không hề lộ một chút sợ hãi, chỉ có sự nghiêm nghị đến đáng sợ.

- Đi ra sau đình mau! Cố Huyền nói, giọng bà trầm thấp nhưng đầy uy lực - Đình này không nên hát sau khi giếng đã mở. Đất động rồi.

Cố Huyền kéo mạnh Nhẫn đi về phía lối thoát hiểm nhỏ phía sau hậu cung. Hà Linh nhanh chóng nhặt những mảnh vỡ của chiếc máy ảnh rồi chạy theo họ.

Họ bước ra khoảng sân nhỏ phía sau đình. Nơi đây trồng vài cây ngâu và một bể nước mưa cũ kỹ phủ đầy rêu. Ánh sáng hoàng hôn đã tắt hẳn, chỉ còn lại bóng tối bao trùm lấy ngôi đình cổ. Tiếng ồn ào của dân làng ở sân trước nghe xa xăm và mờ nhạt dần.

Cố Huyền buông tay Nhẫn ra, bà tựa lưng vào bức tường gạch vồ của hậu cung, thở dốc.

- Bà Cố, chuyện này là thế nào? Nhẫn hỏi, anh cố nén cơn đau đang hành hạ bàn chân trái - Cô đào kia... tại sao lại hát về người họ Vũ và cái giếng?

Cố Huyền nhìn Nhẫn, đôi mắt bà đục ngầu nhưng sắc sảo:

- Đình làng Vũ Đại thờ ai, cháu có biết không?

- Thờ thành hoàng làng Nhẫn trả lời theo những gì anh biết từ nhỏ - Một vị tướng thời nhà Đinh.

Cố Huyền cười lạnh, tiếng cười khan khốc như tiếng lá khô cọ vào nhau:

- Đó là người ta viết trong tờ khai di tích để báo cáo thôi. Thành hoàng làng này không phải họ Đinh, cũng không phải tướng lĩnh nào cả. Đình này dựng lên để thờ một cái xác không đầu.

Nhẫn và Hà Linh cùng lặng đi. Gió đêm từ cánh đồng thổi vào sân sau đình, mang theo vị mặn của muối và mùi tanh của bùn sông.

- Cái xác không đầu đó liên quan gì đến họ Vũ của cháu? Nhẫn hỏi tiếp.

- Người họ Vũ mang cái xác đó về đây Cố Huyền nói, bà đưa ngón tay trỏ chỉ xuống nền đất dưới chân - Tổ tiên cháu, ông Vũ Đức Trấn, đã dùng cái xác đó để làm cốt cho đại trận Rùa Ngửa. Đình này là cái mai rùa, hậu cung là nơi đặt đầu rùa. Nhưng đầu rùa đã bị chặt mất từ ba trăm năm trước. Người ta phải dùng một cái đầu giả bằng đồng để thay thế.

Bà Cố dừng lại, nhìn thẳng vào mắt Nhẫn:

- Sáng nay cháu xuống giếng Cây Dâu, cháu đã chạm vào cái gì dưới đó?

- Một mảnh đồng Nhẫn nói thật - Khắc tên Vũ Thị Huệ.

Cố Huyền thở dài, bà nhắm mắt lại, lẩm nhẩm một câu kinh gì đó trong miệng trước khi tiếp tục:

- Vũ Thị Huệ là cô ruột của ông nội cháu. Cô ấy không phải tự tử nhảy giếng như người ta đồn đâu. Cô ấy bị chọn để làm bấc đèn cho mắt trận giếng Cây Dâu. Giờ cháu lấy mảnh đồng đi, mắt trận bị hở, khí âm từ giếng xông thẳng theo mạch ngầm về đình. Đình đang nghe thấy tiếng gọi của giếng đấy. Đừng để nó nghe thêm bất cứ thứ gì nữa, nếu không cả làng này sẽ thành đất chết.

Đúng lúc đó, từ phía trong hậu cung, một tiếng rắc lớn vang lên, kéo theo tiếng đổ vỡ của đồ gốm sứ.

Nhẫn quay người lại, nhìn qua khe cửa gỗ hẹp dẫn vào hậu cung.

Dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn dầu hỏa duy nhất còn sót lại trên bàn thờ phụ, tấm chiếu hoa trải trước ban thờ thành hoàng đang từ từ bị đẩy lệch sang một bên.

Một viên gạch Bát Tràng lớn ở chính giữa nền đình đang tự động đội lên. Nó bị đẩy cao lên khỏi mặt nền khoảng mười xăng-ti-mét, để lộ ra một khe tối đen ngòm phía dưới.

Từ khe tối đó, một luồng khí lạnh buốt kèm theo mùi bùn tanh nồng nặc phun ra, tạo thành một làn sương mỏng bay là là trên mặt đất. Nhẫn nhìn thấy rõ trong khe tối đó, có một vật đang chuyển động, một thứ màu đen, dài và bóng nhẫy như những sợi tóc người ướt sũng.

Nhẫn tiến lại gần khe cửa gỗ, mắt không rời viên gạch đang nhô lên. Cơn đau dưới gan bàn chân anh bỗng chốc biến mất, thay vào đó là một cảm giác tê liệt hoàn toàn. Anh không còn cảm nhận được các ngón chân của mình nữa. Đây là dấu hiệu mà ông nội đã cảnh báo trong cuốn sổ: khi giác quan bắt đầu mất đi, tức là yểm sư đang đứng quá gần mắt trận.

- Nhẫn, đừng vào đó! Hà Linh giữ vai anh lại. Bàn tay cô run rẩy, hơi ấm từ lòng bàn tay cô là thứ duy nhất giúp anh nhận biết mình vẫn còn đang đứng ở thế giới người sống.

- Tôi phải xem Nhẫn nói, giọng anh lạnh tanh - Nếu không khóa cái này lại, dòng nước ngầm sẽ phá nát nền đình.

Anh nhẹ nhàng gạt tay Linh ra, đẩy cánh cửa gỗ ngách bước vào trong hậu cung. Cố Huyền không ngăn cản, bà chỉ đứng ngoài hiên, tay lần tràng hạt gỗ, miệng lẩm nhẩm những lời cầu khấn cổ xưa bằng thứ ngôn ngữ không phải tiếng Việt hiện đại.

Không gian bên trong hậu cung tối tăm và đặc quánh. Mùi nhang tàn bám lâu ngày trên những bức hoành phi, câu đối gỗ tạo nên một cảm giác ngột ngạt như trong một ngôi mộ cổ. Nhẫn bước từng bước cẩn thận trên nền gạch ẩm ướt. Nước đen đã ngập xấp xỉ mắt cá chân anh, lạnh buốt như nước đá.

Anh đứng trước viên gạch bị đội lên.

Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu trên ban thờ, Nhẫn nhìn thấy rõ viên gạch Bát Tràng này chẳng phải bị lực đẩy từ dưới lên một cách ngẫu nhiên. Bốn góc của viên gạch đã bị nứt vỡ, lộ ra bốn chiếc đinh đồng lớn cắm sâu vào lòng đất. Những chiếc đinh này có đầu dẹt, trên mặt khắc những ký tự ngoằn ngoèo giống như những con giun bò.

Một trong bốn chiếc đinh ở góc đông nam đã bị rỉ sét hoàn toàn và gãy đôi. Chính tại vị trí chiếc đinh gãy này, viên gạch bị lệch đi, tạo ra khe hở.

Nhẫn cúi người xuống, đưa chiếc đèn bão cầm tay soi vào khe hở tối tăm.

Bên dưới viên gạch chẳng phải là đất nện thông thường, mà là một khoảng trống sâu thẳm. Ánh sáng đèn bão chỉ rọi xuống được khoảng nửa mét, nơi có một mặt phẳng bằng đồng rỉ xanh đang nằm im lìm. Trên mặt đồng đó, có những đường rãnh sâu được khắc tạc một cách tinh xảo, tạo thành hình một con rùa khổng lồ đang nằm ngửa, bốn chân duỗi ra bốn hướng.

Tại vị trí tương ứng với đầu con rùa, có một cái hố tròn nhỏ, đường kính khoảng mười xăng-ti-mét. Cái hố đó đang trống rỗng, và dòng nước đen ngòm đang từ đó phun lên như một mạch suối nhỏ.

Nhẫn chợt hiểu ra. Mảnh đồng khắc tên Vũ Thị Huệ mà anh tìm thấy dưới giếng Cây Dâu chính là chiếc khóa để lấp vào cái hố tròn này. Khi chiếc khóa bị lấy đi, mạch nước ngầm bị kích hoạt, và đại trận Rùa Ngửa bắt đầu chuyển động.

- Nhẫn! Có người đang đến! Tiếng Hà Linh gọi khẽ từ phía cửa ngách.

Nhẫn nghe thấy tiếng bước chân dồn dập từ phía đại bái đi vào. Tiếng giày da nện trên nền gạch ẩm ướt vang lên cồm cộp. Đó là tiếng bước chân của Trần Lãm.

Nhẫn nhanh chóng đứng dậy, lùi lại vào bóng tối phía sau một bức tượng hộ pháp bằng gỗ cao lớn. Anh ra hiệu cho Hà Linh nép sát vào vách tường phía đối diện.

Cánh cửa chính của hậu cung bị đẩy mạnh ra. Trần Lãm bước vào, tay cầm một chiếc đèn pin cỡ lớn. Ánh sáng luồng đèn pin quét mạnh qua các góc phòng, dừng lại ở viên gạch bị đội lên trên nền đình.

Khuôn mặt Trần Lãm lộ rõ vẻ hoảng hốt khi nhìn thấy dòng nước đen đang rỉ ra. Lão tiến lại gần, quỳ rạp xuống bên viên gạch, không hề quan tâm đến việc quần áo bị dính nước bẩn. Lão đưa tay sờ vào chiếc đinh đồng bị gãy, miệng lẩm bẩm:

- Hỏng rồi... Sao lại gãy lúc này? Thầy Bảy nói phải còn ba năm nữa cơ mà...

Lão Lãm vội vàng rút trong túi áo ra một gói giấy nhỏ. Lão mở gói giấy, bên trong là một thứ bột màu đỏ tươi như máu - bột chu sa. Lão bốc từng nắm bột chu sa ném vào khe hở dưới viên gạch, cố gắng dùng tay miết chặt bột vào những vết nứt để ngăn dòng nước đen lại.

Nhưng bột chu sa vừa chạm vào dòng nước liền bị cuốn trôi đi ngay lập tức, nhuộm dòng nước thành một màu đỏ lòm như máu loãng chảy lênh láng trên nền gạch.

Trần Lãm tức giận đập mạnh tay xuống đất:

- Khốn nạn! Cái giếng Cây Dâu bị động làm hỏng hết cả rồi! Thằng Nhẫn... chắc chắn là do thằng Nhẫn làm!

Lão đứng bật dậy, ánh đèn pin quét loang loáng khắp hậu cung. Nhẫn nín thở, ép sát người vào sau lưng bức tượng gỗ. Ánh đèn pin lướt qua ngay sát mép áo của anh nhưng không dừng lại. Trần Lãm không phát hiện ra họ. Lão vội vàng tắt đèn pin, quay người chạy nhanh ra ngoài, có lẽ là để tìm người giúp đỡ hoặc tìm thầy cúng để giải quyết sự cố.

Chờ cho tiếng bước chân của Trần Lãm xa hẳn, Nhẫn mới bước ra khỏi bóng tối. Hà Linh cũng đi ra, mặt cô tái mét vì sợ hãi nhưng đôi mắt vẫn lộ rõ vẻ kiên định của một phóng viên điều tra.

- Lão Lãm nhắc đến Thầy Bảy Linh nói nhỏ - Người này là ai? Có phải là người mà ông nội anh từng nhắc đến trong sổ không?

Nhẫn lắc đầu:

- Trong sổ của ông tôi chỉ ghi Bảy phản đồ. Ông ta từng là học trò của ông nội tôi, nhưng sau đó bị đuổi khỏi họ vì dám dùng tà thuật yểm mạng người để đổi lấy tài lộc cho các gia đình giàu có trong vùng. Tôi cứ nghĩ ông ta đã chết từ lâu rồi.

Cố Huyền từ ngoài hiên bước vào, đôi dép cao su của bà kéo lê trên nền gạch ướt tạo ra những tiếng sột soạt. Bà nhìn đống bột chu sa đỏ lòm đang bị nước cuốn trôi dưới nền đình, nét mặt hiện lên vẻ chán chường:

- Lãm nó ngu muội. Nó tưởng dùng chu sa là chặn được khí âm của đại trận. Trận này đã nuôi bằng máu người suốt ba trăm năm qua, giờ nó đói rồi. Chu sa chỉ làm nó điên cuồng hơn thôi.

Bà Cố quay sang Nhẫn, đặt bàn tay khẳng khiu lên vai anh:

- Nhẫn, cháu là người họ Vũ duy nhất còn lại ở cái làng này biết về yểm thắng. Cháu phải quyết định nhanh lên. Hoặc là cháu trả lại mảnh đồng về giếng Cây Dâu để phong tỏa tạm thời mạch nước, chấp nhận để ngôi làng này tiếp tục sống trong sự giả dối thêm vài năm nữa. Hoặc là cháu mở hẳn cái khóa đồng dưới nền đình này ra.

- Nếu mở ra thì sao? Nhẫn hỏi.

- Thì tất cả những cái chết bị chôn giấu dưới lòng đất này sẽ hiển lộ Cố Huyền nói, giọng bà run lên nhẹ - Nhưng đại trận Rùa Ngửa sẽ sụp đổ hoàn toàn. Khi đó, đất đai Vũ Đại sẽ trở lại thành bãi sình lầy không một ngọn cỏ nào mọc nổi như ba trăm năm trước. Và những người đang sống nhờ khí mạch của trận... sẽ phải trả giá bằng mạng sống của mình.

Nhẫn im lặng. Anh nhìn xuống vết bớt đen ở gan bàn chân trái của mình qua lớp vải giày sũng nước. Anh cảm nhận được một sự kết nối kỳ lạ giữa bản thân và mặt đồng rỉ xanh nằm sâu dưới nền đình kia. Như thể có một sợi dây vô hình đang kéo anh xuống, bắt anh phải hòa nhập vào lòng đất tối tăm này.

Hà Linh nhìn Nhẫn, cô không đưa ra lời khuyên nào. Cô biết đây là quyết định liên quan đến vận mệnh của cả dòng họ anh và ngôi làng này. Cô chỉ im lặng đứng bên cạnh, sẵn sàng ghi lại mọi sự thật dù nó có đáng sợ đến đâu.

Từ phía ngoài sân đình, tiếng loa phóng thanh bỗng nhiên hoạt động trở lại, nhưng chẳng phải tiếng phát biểu của ban khánh tiết mà là một tràng âm thanh rè rè, chói tai kéo dài. Sau đó, một giọng hát chèo lại vang lên, nhưng lần này giọng hát nghe méo mó, chậm rãi như một cuộn băng cassette bị nhão.

Tên em ai gạch trên tờ... Họ Vũ lá rụng, giếng dầu cạn khô..."

Dân làng đã chạy tán loạn hết, sân đình lúc này trống trơn chỉ còn lại những chiếc ghế nhựa đổ ngổn ngang và đống rác rưởi trôi nổi trên những vũng nước mưa. Ánh đèn tuýp chập chờn lúc tỏ lúc tắt, tạo nên những bóng đen nhảy múa trên các bức tường cổ.

Nhẫn cúi xuống, đưa tay chạm vào viên gạch Bát Tràng đang nhô lên.

Ngay khi ngón tay anh vừa tiếp xúc với bề mặt gạch ẩm ướt, một luồng điện lạnh buốt chạy thẳng từ đầu ngón tay lên tim, khiến anh rùng mình.

Dưới chiếu hát, viên gạch đột ngột bị đẩy mạnh lên thêm một gang tay nữa. Tiếng gạch đá cọ xát vào nhau kêu ken két ghê rợn.

Khe tối dưới viên gạch mở rộng ra.

Mùi bùn tanh nồng nặc phun ra mạnh mẽ hơn. Và trong bóng tối sâu thẳm dưới nền đình, Nhẫn nhìn thấy rõ một bàn tay người nhợt nhạt, da thịt đã bị mục rữa một phần. Đang từ từ thò ra khỏi khe hở, bám chặt lấy mép gạch Bát Tràng để lấy điểm tựa đẩy cả thân hình lên phía trên.

Móng tay của bàn tay đó dài, đen nhẻm và sắc nhọn, cào mạnh vào thớ gạch cổ tạo ra những tiếng kêu chói tai.

Cố Huyền lập tức lùi lại một bước, bà nắm chặt tràng hạt trong tay, hét lớn:

- Nhẫn! Tránh ra mau! Nó lên rồi!

Cơn đau ở bàn chân trái của Nhẫn lại bùng lên dữ dội, khiến anh ngã quỵ xuống nền gạch sũng nước. Anh nhìn chằm chằm vào bàn tay đang thò ra từ lòng đất, đầu óc quay cuồng. Đó chẳng phải là một xác chết thông thường. Đó chính là thứ đã bị chôn giấu dưới nền đình suốt hàng thế kỷ qua để làm cốt cho đại trận.

Tiếng trống chầu vô hình bên ngoài vẫn dồn dập vang lên:

Cắc... Tùng... Cắc... Tùng... Tùng...

Mỗi nhịp trống như một nhịp búa gõ thẳng vào đầu Nhẫn. Bắt anh phải chứng kiến sự thức tỉnh của một thế lực cổ xưa mà tổ tiên anh đã dùng cả mạng sống để trấn yểm dưới mái đình làng Vũ Đại này.

Chương khác

Xem thêm