Yểm Thắng Sư - Chương 9: Đường Hầm Dưới Giếng

Gió từ phía cánh đồng thổi vào rặng tre đầu làng mỗi lúc một lớn, kéo theo những hạt mưa bụi cuối mùa bay xiên vẹo dưới ánh đèn pin. Cố Huyền ngồi tựa…

Nội dung chương

Gió từ phía cánh đồng thổi vào rặng tre đầu làng mỗi lúc một lớn, kéo theo những hạt mưa bụi cuối mùa bay xiên vẹo dưới ánh đèn pin. Cố Huyền ngồi tựa lưng vào cột hiên miếu cổ, khuôn mặt nhăn nheo xám xịt dưới ánh sáng vàng đục của chiếc đèn bão đặt dưới đất. Bà thở dốc, hai tay run rẩy vuốt lại vạt áo cánh nâu đã sờn rách.

Nhẫn đứng bên cạnh bệ thờ đá, ngón tay miết nhẹ lên bề mặt nhám của hai mảnh đồng khắc tên Vũ Thị Huệ. Anh cất chúng vào túi áo khoác cùng tấm ảnh gia phả cũ kỹ. Mùi nhang tàn ẩm ướt trong miếu vẫn nồng nặc, qu quyện với mùi đất ẩm bốc lên từ nền nhà sau trận mưa.

- Con quyết xuống giếng đêm nay? Cố Huyền ngước đôi mắt đục mờ nhìn Nhẫn. Giọng bà khản đặc, mỗi từ phát ra đều khiến sợi chỉ đỏ khâu dưới lưỡi bà căng lên, rỉ ra một vệt nước màu hồng nhạt nơi khóe môi.

Nhẫn gật đầu, giọng anh lạnh lùng và dứt khoát:

- Mạch nước ngầm từ nhà thờ họ đang chảy thẳng về hướng đó. Nền đất ở giếng Cây Dâu đang sụt lún theo chu kỳ. Con cần xuống dưới để đo đạc lại cấu trúc móng của thành giếng. Nếu không, chỉ trong vòng ba ngày nữa, toàn bộ phần thành phía tây nam sẽ đổ sụp xuống lòng giếng.

Cố Huyền không nói gì thêm. Bà thò bàn tay gầy guộc như cành củi khô xuống chiếc thúng tre rách dưới gầm bàn thờ. Bà lôi ra một cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa to bằng ngón chân cái, một chiếc đèn bão đổ đầy dầu hỏa, một cuộn chỉ đỏ và một ống tre nút lá chuối khô.

- Gạo nếp rang trong ống tre này, khi xuống đến lòng giếng thì rải xung quanh chân mình. Cố Huyền ho húng hắng, chỉ tay vào ống tre. Chỉ đỏ thì buộc vào cổ tay trái, nối thẳng lên đầu dây thừng trên miệng giếng. Nếu sợi chỉ này đứt, con phải trèo lên ngay lập tức, tuyệt đối không được nán lại dù chỉ một giây.

Nhẫn đón lấy cuộn dây thừng xơ dừa. Sợi dây thô ráp, bám đầy bụi tro và có mùi mốc của những góc tối lâu năm không thấy ánh mặt trời. Anh kiểm tra các mối bện của sợi dây bằng con mắt của một kỹ sư xây dựng. Dây xơ dừa này tuy cũ nhưng được bện rất chặt, sức chịu tải tối thiểu cũng phải được tám mươi cân, đủ để chịu đựng trọng lượng cơ thể anh khi đu xuống lòng giếng sâu.

Khi Nhẫn vừa xách đống đồ đạc bước ra đến cổng miếu, một bóng người từ phía con ngõ nhỏ chạy sầm sập tới.

Dì Sương thở hổn hển, chiếc nón lá trên đầu lệch sang một bên, vạt áo sơ mi hoa đẫm nước mưa. Bà lao đến giữ chặt lấy cánh tay Nhẫn, khuôn mặt đầy vẻ hoảng loạn dưới ánh đèn pin nhập nhoạng.

- Nhẫn! Con không được đi! Con điên rồi sao? Dì Sương hét lên, giọng run bần bật. - Giếng Cây Dâu không phải là cái giếng khơi bình thường. Ông nội con ngày xưa đã thuê thợ lấp một nửa giếng bằng đá hộc và vôi sống từ năm 1972 rồi. Ông mày lấp rồi. Con mở ra làm gì?

Nhẫn nhìn thẳng vào mắt dì Sương. Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn pin, anh thấy rõ những vệt đen xám xịt chạy dọc theo các thớ thịt trên khuôn mặt dì, giống hệt những vệt màu trên móng chân của dì mà anh đã nhìn thấy ở nhà bếp.

- Vì dưới đó có người gọi con. Nhẫn trả lời, giọng anh phẳng lặng không một chút gợn sóng. - Ông nội lấp giếng vì ông muốn giấu một đoạn mạch nứt dưới lòng đất. Nhưng mạch nước ngầm không chịu nằm yên. Nó đang phá móng nhà dì, phá cả đình làng. Con không xuống, sớm muộn gì đất dưới chân chúng ta cũng sụt hết xuống sông.

Dì Sương nghe vậy thì rụng rời tay chân. Bà quỳ sụp xuống nền đất bùn nhão nhoét trước cổng miếu, hai tay ôm lấy mặt khóc nấc lên:

- Ông nội con làm thế là để cứu cái nhà này, cứu cả cái làng này đấy con ơi! Dưới cái giếng đó không có nước ngọt đâu, chỉ có máu và xương của những người họ Vũ thôi. Con xuống đó là tự hiến mạng mình cho cái trận yểm kia đấy!

Nhẫn không trả lời dì Sương. Anh quay sang nhìn Cố Huyền đang lết từng bước chậm chạp ra khỏi cửa miếu. Bà cụ không ngăn cản Nhẫn, bà chỉ im lặng nhặt chiếc nón lá của dì Sương dưới đất lên, phủi nhẹ lớp bùn cát rồi đội lại lên đầu cho bà.

- Để nó đi. Cố Huyền nói, giọng trầm đục như tiếng đất lở. - Nghiệp họ Vũ thì người họ Vũ phải gánh. Thằng Nhẫn nó có giọt mực ở chân, nó trốn cũng không thoát được đâu. Sương ạ, mày cản nó bây giờ thì ngày mai mạch âm nó cũng tìm đến tận giường ngủ của mày thôi.

Dì Sương nghe Cố Huyền nói thế thì chỉ biết gục đầu vào vai bà cụ mà khóc không thành tiếng.

Nhẫn khoác cuộn dây thừng lên vai, một tay xách đèn bão, tay kia cầm ống tre đựng gạo nếp rang, lẳng lặng bước đi theo con đường mòn dẫn ra phía giếng Cây Dâu.

Đêm nay trời không có trăng, sương mù từ các ruộng lúa xung quanh bốc lên dày đặc, bao phủ toàn bộ cảnh vật trong một màu trắng đục u ám. Tiếng bước chân của Nhẫn nện trên nền đất ẩm ướt vang lên những tiếng bồm bộp khô khốc.

Khi Nhẫn đến gần khu vực giếng Cây Dâu, anh phát hiện có ánh đèn pin quét qua quét lại trên những tán lá dâu tằm xung quanh giếng.

Trần Lãm đang đứng tựa lưng vào một gốc cây dâu già, trên môi lập lòe đốm lửa đỏ của điếu thuốc lào. Phía sau hắn là hai thanh niên lực lưỡng trong làng, tay lăm lăm những chiếc cuốc bàn và xẻng sắt.

Thấy Nhẫn đi tới, Trần Lãm không hề tỏ ra ngạc nhiên. Hắn nhổ một bãi nước bọt xuống đất, tiến lại gần Nhẫn, ánh mắt dò xét quét từ đầu đến chân anh.

- Cậu Nhẫn đi thăm giếng muộn thế này à? Trần Lãm hỏi, giọng điệu có phần mỉa mai nhưng vẫn giữ vẻ lịch sự giả tạo. - Đêm hôm tăm tối, giếng sâu nước độc, ngộ nhỡ trượt chân ngã xuống thì dòng họ Vũ lại mất đi người nối dõi duy nhất đấy.

Nhẫn dừng bước, đặt cuộn dây thừng xuống đất. Anh nhìn thẳng vào mắt Trần Lãm, không một chút e sợ:

- Tôi xuống kiểm tra mạch nước ngầm theo yêu cầu kỹ thuật của công trình san lấp phía ngoài rìa làng. Ông Lãm mang người ra đây làm gì? Định giúp tôi đào đất hay định lấp giếng luôn thể?

Trần Lãm cười nhạt, gạt tàn thuốc lá trên ngón tay:

- Đất làng Vũ Đại này có chủ, việc làng có lệ. Cậu Nhẫn là người học cao hiểu rộng ở thành phố về, chắc cũng biết cái giếng này liên quan đến phong thủy của cả làng. Tôi làm trưởng thôn, không thể để cậu tự tiện phá vỡ long mạch được. Hôm nay tôi cho người ra đây là để giám sát, xem cậu kéo được cái gì từ dưới lòng giếng lên.

- Tôi chỉ kéo nước và bùn đất lên thôi. Nhẫn lạnh lùng nói. Nếu ông muốn giám sát thì cứ việc đứng trên này mà nhìn. Nhưng tôi khuyên ông nên bảo người của ông lùi ra xa một chút. Đất quanh miệng giếng đang rất yếu, đứng đông người quá có ngày sụt cả lũ xuống dưới đấy.

Trần Lãm nghe vậy thì biến sắc. Hắn khẽ khoát tay ra hiệu cho hai thanh niên lùi lại phía sau vài bước, nhưng mắt vẫn không rời khỏi cuộn dây thừng và chiếc đèn bão trên tay Nhẫn.

Nhẫn đi đến bên miệng giếng Cây Dâu.

Thành giếng bằng gạch vồ xám xịt, bám đầy rêu xanh và những vệt bùn đen loang lổ. Mùi nước giếng lạnh buốt, nồng nặc mùi lá dâu mục và mùi tanh của bùn ao bốc lên xộc thẳng vào mũi Nhẫn. Anh buộc một đầu dây thừng xơ dừa vào gốc cây dâu già gần đó, đầu còn lại thả dần xuống lòng giếng sâu thẳm.

Cố Huyền và dì Sương lúc này cũng đã đi tới. Cố Huyền tiến lại gần miệng giếng, bà lấy cuộn chỉ đỏ từ trong túi áo ra, buộc một đầu vào cổ tay trái của Nhẫn, đầu kia bà buộc chặt vào sợi dây thừng xơ dừa. Bà nhìn Nhẫn bằng ánh mắt cảnh báo, rồi khẽ gật đầu.

Nhẫn thắt chặt đai an toàn tự chế bằng dây thừng quanh hông, cầm theo chiếc đèn bão đã thắp sáng rồi bắt đầu leo qua thành giếng, thả người xuống khoảng không tối đen bên dưới.

Thành giếng hẹp, đường kính chỉ khoảng hơn một mét. Khi cơ thể Nhẫn lơ lửng giữa lòng giếng, không khí xung quanh lập tức trở nên lạnh buốt. Tiếng gió rít trên miệng giếng bị chặn lại, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt tong tong từ các mạch gạch vỡ vang lên đều đặn, tạo thành những âm thanh vọng lại đầy u uất.

Nhẫn dùng hai chân đạp nhẹ vào thành giếng để giữ thăng bằng. Anh soi đèn bão sát vào những viên gạch vồ.

Ở độ sâu khoảng ba mét, Nhẫn phát hiện trên thành giếng có rất nhiều vết đinh đồng cắm sâu vào mạch vữa. Những chiếc đinh này to bằng ngón tay út, đầu đinh dẹt và có khắc những ký tự ngoằn ngoèo giống như chữ bùa. Điều kỳ lạ là hầu hết các cây đinh đồng này đều đã bị nhổ dở, đầu đinh bị bẻ cong queo, để lại những lỗ tròn sâu hoắm trên mạch vữa. Từ những lỗ đinh này, một thứ nước màu đen kịt, đặc quánh như dầu luyn đang rỉ ra, chảy thành dòng dọc theo thành giếng xuống phía dưới.

Nhẫn đưa ngón tay quệt thử thứ nước đen đó lên mũi ngửi.

Không có mùi dầu máy. Đó là mùi bùn ao chết lâu ngày, lẫn với mùi vôi sống nồng nặc đến nhức mũi.

Anh tiếp tục thả dây đi xuống sâu hơn.

Càng xuống dưới, nhiệt độ càng giảm mạnh. Hơi lạnh từ lòng đất bốc lên khiến da thịt Nhẫn nổi da gà. Khi anh xuống đến độ sâu khoảng sáu mét, sát với mực nước hiện tại của giếng, ánh đèn bão quét qua một mảng tường gạch có cấu trúc hoàn toàn khác biệt so với phần thành giếng phía trên.

Dưới lớp bùn đất bám dày và rêu phong, lộ ra một đoạn gạch vòm cổ.

Những viên gạch ở đây có kích thước lớn hơn gạch vồ thông thường, màu đỏ sẫm của đất nung già lửa. Chúng được xếp theo hình vòng cung, tạo thành một cái vòm cửa nhỏ cao khoảng một mét, ăn sâu vào lòng đất theo hướng tây nam - hướng dẫn thẳng ra đình làng.

Nhẫn đu người sát vào vòm gạch cổ. Anh dùng chiếc bay nhỏ mang theo bên hông cạo sạch lớp bùn đất bám trên bề mặt gạch.

Dưới ánh sáng vàng của đèn bão, Nhẫn kinh ngạc nhận ra trên bề mặt những viên gạch vòm này có in chìm rất nhiều dấu bàn tay nhỏ bé. Những dấu tay này có kích thước chỉ bằng bàn tay của một đứa trẻ lên năm lên sáu, hoặc một người phụ nữ có bàn tay cực kỳ nhỏ. Các ngón tay thon dài, in sâu vào xương gạch từ khi đất sét còn chưa được nung chín. Có những viên gạch có đến hai ba dấu tay chồng chéo lên nhau, tạo thành những hình thù kỳ dị, méo mó.

Nhẫn lấy mảnh đồng khắc tên Vũ Thị Huệ từ trong túi áo ra.

Anh so sánh kích thước của mảnh đồng với một khe hở nhỏ nằm ngay chính giữa đỉnh vòm gạch cổ. Khe hở này nằm giữa hai viên gạch khóa vòm, mạch vữa ở đây đã bị mục nát hoàn toàn, để lại một khoảng trống vừa khít với chiều rộng của mảnh đồng.

Nhẫn đặt mảnh đồng vào khe hở đó, rồi dùng cán bay gõ nhẹ ba tiếng để đẩy mảnh đồng ngập sâu vào trong lòng vòm gạch.

Cộc... Cộc... Cộc...

Ba tiếng gõ khô khốc vang lên giữa lòng giếng chật hẹp.

Ngay lập tức, một tiếng động trầm đục phát ra từ sâu bên dưới lòng đất. Lớp bùn đen đặc dưới đáy giếng, cách chân Nhẫn chỉ khoảng nửa mét, bỗng nhiên sụt xuống nhanh chóng. Nước giếng rút đi như có một cái phễu khổng lồ vừa được mở ra dưới đáy, kéo theo toàn bộ bùn nhão và rác rưởi tụt xuống sâu hơn vào lòng đất.

Trên miệng giếng, tiếng Cố Huyền bắt đầu vang lên. Giọng bà lẩm nhẩm, méo mó qua vách đá hẹp của lòng giếng:

- Hỡi vong hồn Vũ Thị Huệ... Hỡi vong hồn Vũ Thị Huệ... Hỡi vong hồn Vũ Thị Huệ... Về đây mà nhận họ nhận hàng... Về đây mà mở lối đưa đường...

Giọng bà cụ run rẩy, lặp đi lặp lại cái tên Huệ ba lần. Mỗi lần bà gọi tên, sợi chỉ đỏ buộc trên cổ tay Nhẫn lại rung lên bần bật như thể có một lực vô hình đang gảy vào sợi dây đàn.

Cùng lúc đó, vòm gạch cổ trước mặt Nhẫn phát ra những tiếng răng rắc khô khốc.

Mạch vữa mục nát giữa các viên gạch vỡ vụn, rơi lả tả xuống chân Nhẫn. Cánh cửa gạch vòm từ từ hé mở ra một khe hở rộng khoảng hai gang tay.

Một luồng gió lạnh buốt từ bên trong đường hầm tối đen thổi ngược ra ngoài. Nó mang theo mùi vôi vữa mục nát, mùi nhang tàn ẩm ướt và một mùi hương rất lạ: mùi phấn nụ trang điểm của phụ nữ thời xưa, nồng nặc và ngai ngái.

Nhẫn đưa đèn bão lên, soi thẳng vào khe hở của vòm gạch.

Bên trong là một đường hầm tối tăm, vách hầm được xây hoàn toàn bằng gạch vồ cổ, chạy dài hun hút vào lòng đất và dốc dần xuống dưới. Nền hầm phủ một lớp bùn đen nhão nhoét.

Từ sâu bên trong đường hầm tối tăm đó, một âm thanh lạ bỗng nhiên vọng lại tai Nhẫn.

Đó là tiếng hát hội đình.

Âm thanh nghe rất xa xăm, lúc tỏ lúc mờ như thể vọng về từ một thế giới khác. Nhẫn nghe rõ tiếng phách tre gõ nhịp nhàng "chát... cắc... chát", tiếng trống chầu nện đều đặn "cắc tùng... cắc tùng... tùng...".

Rồi một giọng đàn bà hát vang lên, giọng hát thanh mảnh nhưng run rẩy, hát một điệu chèo cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng người đàn bà đó hát sai nhịp. Tiếng hát đang ngân vang bỗng nhiên lệch tông, vỡ vụn ra thành những tiếng nấc nghẹn ngào, rồi chuyển thành tiếng khóc hu hu nức nở đầy oán hận.

Tiếng khóc chạy dọc theo vách đường hầm gạch, dội thẳng vào tai Nhẫn khiến đầu óc anh trở nên tê buốt. Vết bớt đen ở gan bàn chân trái của anh bỗng nhiên nhói đau như có hàng ngàn cây kim châm vào da thịt. Cơn đau lan nhanh dọc theo bắp chân lên đến tận thắt lưng, khiến toàn thân anh run rẩy, suýt chút nữa làm rơi chiếc đèn bão trên tay.

Nhẫn cắn chặt răng để giữ tỉnh táo. Anh cố gắng điều chỉnh tiêu cự của chiếc đèn bão, soi kỹ xuống nền bùn đất của đường hầm ngay sát mép vòm gạch.

Trên mặt bùn đen nhão nhoét, có một vệt kéo lê dài chạy thẳng từ phía trong đường hầm ra ngoài miệng giếng.

Vệt kéo lê rộng khoảng một gang tay, bề mặt bùn ở vệt đó phẳng lì và bóng nhẫy nước. Nhẫn nhìn kỹ hơn, anh thấy lẫn trong lớp bùn đen của vệt kéo đó có những sợi tóc dài, đen nhánh và ướt sũng, dính chặt vào các kẽ gạch như những sợi tơ nhện khổng lồ. Vệt kéo này trông giống hệt như có một người đàn bà có mái tóc rất dài vừa bị lôi xềnh xệch từ trong đường hầm đi ra ngoài.

Nhẫn định cúi người xuống thấp hơn để quan sát kỹ những sợi tóc trên nền bùn thì bỗng nhiên, sợi dây thừng xơ dừa đang đỡ cơ thể anh căng cứng lên.

Sợi dây phát ra những tiếng "ken két" do lực kéo quá mạnh từ phía trên hoặc phía dưới.

Nhẫn giật mình nhìn lên miệng giếng. Sợi chỉ đỏ buộc trên cổ tay anh đã căng thẳng tắp như một sợi dây thép, nhưng nó không đứt.

Cùng lúc đó, một lực ghì mạnh mẽ đột ngột xuất hiện dưới chân Nhẫn. Một bàn tay bùn dưới lòng giếng nắm chặt lấy cổ chân trái của anh, kéo giật mạnh xuống phía dưới.

Nhẫn cúi đầu soi đèn bão thẳng xuống dưới chân mình.

Dưới ánh sáng vàng đục của chiếc đèn bão, anh nhìn thấy một bàn tay bằng bùn đất đen ngòm đang nhô lên từ lớp bùn nhão dưới đáy giếng. Bàn tay đó không có da thịt, chỉ là một khối bùn đất kết tụ lại thành hình dạng năm ngón tay khẳng khiu, bám chặt lấy cổ chân trái của anh.

Nhưng bàn tay bùn đó không kéo Nhẫn xuống nước.

Nó chỉ giữ chặt lấy chân anh trong vài giây, rồi từ từ buông ra. Ngón tay trỏ của bàn tay bùn duỗi thẳng, chỉ về phía con đường hầm tối đen dẫn tới đình làng Vũ Đại, trước khi toàn bộ khối bùn đó rã ra, hòa tan vào dòng nước đen ngòm dưới đáy giếng.

Chương khác

Xem thêm