Yểm Thắng Sư - Chương 7: Đất Dưới Bếp
Tia laser màu đỏ từ chiếc máy đo chuyên dụng bắn một đường thẳng tắp từ góc bếp nhà dì Sương, xuyên qua khe cửa gỗ hở hoen gỉ, chạy dọc ra vườn chuối rậm…
Nội dung chương
Tia laser màu đỏ từ chiếc máy đo chuyên dụng bắn một đường thẳng tắp từ góc bếp nhà dì Sương, xuyên qua khe cửa gỗ hở hoen gỉ, chạy dọc ra vườn chuối rậm rạp phía sau. Nhẫn quỳ một chân trên nền gạch đỏ đã xỉn màu mỡ, một tay giữ máy, tay kia cầm chiếc điện thoại đang bật ứng dụng la bàn số.
Đường nứt dưới chân tường bếp mảnh như một sợi tóc kéo dài. Nó không chạy theo quy luật lún thông thường của móng nhà cấp bốn. Vết nứt rộng chưa đầy hai milimét, cắt chéo qua ba viên gạch đỏ loại hai mươi phân cũ kỹ, rồi biến mất dưới lớp chân tường vôi vữa đã bong tróc từng mảng lớn.
Nhẫn đặt thước dây xuống, áp sát mặt vào nền đất ẩm. Gió từ ngoài vườn chuối thổi luồn qua khe cửa, mang theo cái lạnh của mưa phùn tháng Ba và mùi lá chuối mục. Anh bấm nút đo. Khoảng cách từ góc bếp đến mép tường rào đổ nát nhà ông Cẩn là mười hai mét bốn. Từ mép tường rào đó, nếu kéo thẳng một đường tuyến tính với góc lệch mười lăm độ về phía tây nam, điểm cuối cùng sẽ rơi trúng tâm giếng Cây Dâu.
Một đường thẳng không hề lệch một phân.
Trong ngành xây dựng, những đường nứt kéo dài qua nhiều công trình khác nhau thường chỉ xuất hiện khi có sự dịch chuyển của đứt gãy địa chất hoặc mạch nước ngầm lớn chảy xiết dưới lòng đất. Nhưng ở làng Vũ Đại này, không có con sông ngầm nào đi qua dưới chân các ngôi nhà theo hướng kỳ lạ như vậy. Chỉ có những mắt xích của một sơ đồ yểm cổ đang lộ dần ra sau mỗi lần mặt đất cựa mình.
Tiếng bước chân loẹt quẹt từ ngoài sân cắt ngang suy nghĩ của Nhẫn. Dì Sương bước vào bếp, trên tay bưng rổ hành lá vừa rửa dưới ao, nước còn nhỏ giọt xuống nền gạch. Gương mặt dì xám xịt, hai quầng mắt thâm quầng vì mất ngủ nhiều đêm. Dì nhìn thấy Nhẫn đang lom khom đo đạc liền nhíu mày, giọng mệt mỏi:
- Nhẫn đấy à? Cháu làm cái gì dưới đất thế? Đất cát trong nhà xó bếp chớ có động vào, người ta bảo động long mạch là cả nhà ốm đau đấy.
Nhẫn đứng dậy, cất máy đo laser vào túi quần, phủi bụi bám trên đầu gối.
- Cháu thấy nền bếp hơi lún. Để cháu xem có cần gia cố lại không. Nhà mình xây từ năm chín mươi sáu, móng nông thế này dễ nứt tường lắm.
Dì Sương đặt rổ hành xuống bàn bếp, thở dài một tiếng dài thườn thượt. Hai bàn tay dì run nhẹ khi với lấy chiếc dao nhỏ để thái hành.
- Kệ nó đi cháu. Hồi đó xây bếp, ông nội cháu đích thân chọn hướng, chọn ngày đổ móng. Ông bảo đất này chỉ xây được thế thôi, không được đào sâu quá một mét. Từ ngày xây xong cái bếp này, dì mới dứt được trận ốm thập tử nhất sinh năm đó. Đừng có phá đi mà tội chết.
- Trận ốm năm chín mươi sáu? Nhẫn hỏi gặng. - Lúc đó dì bị làm sao?
Dì Sương dừng tay dao, mắt nhìn đăm đăm vào bức tường bếp bám đầy bồ hóng đen kịt.
- Thì cũng như người mất hồn thôi. Cứ chiều đến là người lạnh toát, đầu óc mơ màng, cứ đòi đi ra phía giếng Cây Dâu. Ông nội cháu phải nhốt dì trong buồng, rồi ông đi đâu cả đêm không rõ. Đến khi ông về, ông bảo thợ đào móng xây cái bếp này ngay lập tức. Bếp xây xong, dì mới tỉnh táo lại. Nhưng từ đó đến nay, dì chẳng đi đâu ra khỏi làng được nữa. Cứ bước chân qua con mương đầu làng là ngực lại đau thắt như có ai bóp nghẹt.
Dì Sương không nói thêm. Dì cúi đầu thái hành, tiếng dao chạm vào thớt gỗ lách cách đều đặn.
Nhẫn im lặng quan sát dì. Dưới ánh sáng yếu ớt của bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng giữa bếp, da mặt dì Sương có một màu vàng bủng, khô ráp. Đó không phải là cái khô của người lao động dầm sương dãi nắng, mà là cái khô héo từ bên trong, như dòng nhựa sống trong người đang bị mạch lạnh dưới nền đất này từ từ rút cạn.
***
Chiều muộn, trời đổ mưa phùn dày hạt hơn. Gió mùa đông bắc tràn về khiến không gian tối sầm lại nhanh chóng. Dì Sương xếp những bát phở, chai nước dùng nóng vào chiếc giỏ tre lớn sau xe đạp để đi giao cho mấy nhà trong xóm ngoài. Tiếng xích xe đạp khô dầu kêu lạch cạch xa dần rồi mất hút sau rặng tre đầu ngõ.
Trong gian bếp tối om, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp trên những tàu lá chuối ngoài vườn.
Nhẫn quay lại bếp. Anh mang theo một cây xà beng nhỏ bằng sắt phi mười bốn, một con dao xây bén và chiếc đèn pin cầm tay siêu sáng. Anh chốt chặt cửa bếp lại, chỉ để hé một khe nhỏ hướng ra vườn chuối phòng hờ có người đột ngột quay về.
Nhẫn quỳ xuống góc bếp, nơi vết nứt chạy qua.
Anh dùng mũi dao xây cạo đi lớp mạch hồ xi măng đã bở bục. Lớp vữa này xốp và ẩm ướt, chỉ cần cạo nhẹ đã rơi ra thành những hạt cát xám. Nhẫn lách mũi xà beng vào khe hở giữa hai viên gạch đỏ, dùng lực từ cánh tay bẩy mạnh. Một tiếng "rắc" khô khốc vang lên. Viên gạch đỏ vỡ đôi, để lộ lớp cát đệm màu vàng nhạt bên dưới.
Nhẫn dùng tay gạt lớp cát đệm sang hai bên. Càng đào sâu xuống dưới, lớp cát càng chuyển sang màu xám đen và bốc lên một mùi hôi nồng của bùn ao lâu ngày không gặp ánh sáng.
Đến độ sâu khoảng ba mươi phân, mũi xà beng chạm phải một bề mặt cứng nhưng không có tiếng vang của đá hay gạch. Nhẫn dùng đèn pin soi sát xuống hố nhỏ vừa đào.
Dưới lớp cát đệm là một lớp đất đen mịn.
Lớp đất này đen kịt, bóng nhẫy như nhựa đường nhưng lại mềm và xốp. Nhẫn dùng tay bốc một nắm lên. Đất đen mịn đến mức không có một hạt sỏi nhỏ nào lẫn vào, nhưng ngửi kỹ thì thấy có mùi hăng của đồng rỉ và mùi tro giấy tiền vàng mã.
Nhẫn dùng ngón tay bới sâu vào lớp đất đen đó. Đầu ngón tay anh chạm phải những vật thể sắc nhọn. Anh cẩn thận nhặt chúng ra, đặt lên lòng bàn tay.
Đó là những mảnh vụn bằng đồng.
Những mảnh đồng mỏng như lá lúa, đã bị rỉ xanh ăn mòn gần hết mép ngoài, nhưng trên bề mặt vẫn còn sót lại những nét khắc chìm nguệch ngoạc. Cạnh những mảnh đồng là những cục tro xám xịt đã bị nén chặt dưới sức nặng của nền bếp suốt ba mươi năm qua. Khi Nhẫn bóp nhẹ, cục tro vỡ vụn thành thứ bột mịn màu tro bếp, bay lơ lửng trong không khí rồi rơi xuống lòng bàn tay anh.
Mùi đồng rỉ và mùi tro giấy quyện vào nhau, xộc thẳng vào mũi Nhẫn.
Ngay lúc đó, một cảm giác tê buốt đột ngột xuất hiện ở các đầu ngón tay trái của Nhẫn. Cơn tê dại chạy dọc theo cánh tay, nhanh như một dòng điện nhẹ, rồi xộc thẳng lên cổ họng. Nhẫn rụt tay lại, đánh rơi những mảnh đồng xuống đất.
Anh nuốt nước bọt. Đầu lưỡi anh cứng đờ, không còn cảm giác gì nữa.
Nhẫn đứng dậy, đi đến chạn bát gỗ bên cạnh bếp. Anh với lấy chai nước mắm nguyên chất màu cánh gián đậm đặt trên kệ. Anh rót một ít ra chén sứ, rồi uống một ngụm nhỏ.
Nước mắm trôi qua cuống họng nguội ngắt. Anh không hề thấy vị mặn gắt của muối, không thấy vị ngọt hậu của đạm cá. Nó lỏng bỏng và vô vị như nước mưa hứng ngoài bể.
Nhẫn nhíu mày. Anh mở tủ lạnh cũ của dì Sương đặt ở góc nhà, lấy ra một củ gừng già còn bám đầy đất cát khô. Anh không gọt vỏ, đưa lên miệng cắn thẳng một miếng lớn rồi nhai ngấu nghiến.
Sợi gừng xơ xác cọ sát vào nướu và răng của anh. Nhưng không có vị cay nồng đặc trưng, không có độ nóng làm ấm khoang miệng. Nhẫn có cảm giác mình đang nhai một miếng gỗ mục nhúng nước lã.
Anh tìm thấy một quả ớt chỉ thiên màu đỏ tươi nằm trong rổ rau sống trên bàn. Nhẫn bẻ đôi quả ớt, chà xát những hạt ớt vàng nhỏ trực tiếp lên đầu lưỡi mình.
Lưỡi anh hoàn toàn trơ lỳ. Không có phản ứng bỏng rát, không có nước mắt ứa ra vì cay. Vị giác của anh đã biến mất hoàn toàn, chỉ để lại một cảm giác tê dại lạnh ngắt đang lan rộng từ đầu lưỡi xuống tận cuống họng.
Nhẫn đứng im trong bóng tối của gian bếp, nhìn quả ớt bẻ đôi trên tay.
Vết mực dưới gan bàn chân trái của anh bỗng nhói lên một nhịp đau buốt, như có một chiếc kim dài vừa đâm xuyên qua da thịt.
***
Nhẫn đi bộ dưới màn mưa phùn lạnh buốt đến miếu cổ tìm Cố Huyền.
Mưa phùn bám vào tóc và vai áo anh thành những hạt nước li ti lấp lánh dưới ánh đèn đường vàng vọt của làng. Con đường đất dẫn vào miếu trơn trượt, hai bên đường là những bụi tre rủ lá xuống như những cánh tay gầy guộc đang cố níu lấy người qua đường.
Cố Huyền đang ngồi bên hiên miếu, dưới mái hiên dột nước mưa gianh chảy xuống thành từng giọt đều đặn. Bà đang dùng một con dao thái thuốc bằng sắt rỉ để băm những rễ cây khô trên một chiếc thớt gỗ nghiến đã mòn lõm ở giữa. Tiếng dao chạm vào thớt nghe cộc cộc, nặng nề trong không gian tĩnh mịch của ngôi miếu cổ.
Nhẫn đứng dưới mưa, nhìn bóng lưng còng của bà cụ.
- Tôi không còn nếm được vị gì nữa. Nhẫn nói, giọng anh lạnh và phẳng lặng. - Nước mắm, gừng, ớt... tất cả đều vô vị.
Cố Huyền không dừng tay băm thuốc. Tiếng dao vẫn vang lên đều đặn. Bà thổi nhẹ một cái cho những vụn thuốc khô bay đi, rồi mới khàn khàn lên tiếng:
- Mới mất vị giác thôi sao? Thế là đất còn nương tay cho cháu đấy.
- Tại sao lại như thế? Nhẫn bước lên thềm miếu, đứng tránh mưa dưới mái tranh dột nát.
- Cháu tưởng chỉ người chết mới phải trả giá à? Cố Huyền dừng dao, ngước cặp mắt đục mờ, lòng đen đã nhạt màu nhìn thẳng vào Nhẫn. - Cái trận yểm dưới đất kia là một cái nút thắt. Mỗi lần cháu cạy một viên gạch, chạm vào một mảnh đồng, là cháu đang tự tay tháo cái nút đó ra. Đất dưới đó bị đói suốt bao nhiêu năm, nó cần thứ để bù vào. Nó lấy đi phần dương khí mỏng manh nhất trên người cháu. Giác quan của cháu là thứ đi đầu tiên.
Bà đặt con dao xuống thớt, phủi hai bàn tay đầy bụi thuốc xám vào vạt áo chàm cũ kỹ.
- Muốn dừng lại thì thu dọn đồ đạc rồi rời làng ngay lập tức. Đi càng xa càng tốt. Đất này sẽ tự tìm cách lấp lại mạch của nó, dù có phải nuốt thêm vài mạng người nữa để làm van xả khí. Nhưng cháu sẽ sống.
Nhẫn nhìn xuống bàn tay mình, những đầu ngón tay vẫn còn dính vệt đất đen mịn chưa rửa sạch hoàn toàn.
- Tôi không đi. Ông nội tôi chết quỳ dưới đó để giữ một phần mạch đất cho dòng họ này. Dì tôi cũng đang héo mòn từng ngày vì cái bếp kia. Tôi đi thì họ ra sao?
Cố Huyền thở dài, quay mặt vào trong miếu, nơi có bức tượng thờ bằng đá đã mòn hết các chi tiết khuôn mặt vì thời gian.
- Thế thì đừng kêu ca. Đi đường này thì phải chịu. Cháu mới chỉ đi được vài bước thôi. Đất dưới bếp nhà dì cháu là đất trấn khẩu. Nó giữ cho cái khí âm từ giếng Cây Dâu không xộc thẳng vào nhà làm chết người ngay lập tức. Nhưng giữ lâu ngày thì khí âm nó ngấm vào người, hóa thành bệnh khô. Dì cháu sống được đến giờ là nhờ cái mạng của ông nội cháu gánh bớt cho một phần rồi đấy.
Nhẫn im lặng một lúc lâu, rồi quay người bước ra ngoài màn mưa.
Tiếng dao băm thuốc của Cố Huyền lại vang lên sau lưng anh, cộc cộc, đều đặn như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ gỗ cổ kính đang đếm ngược thời gian của cả cái làng này.
***
Trở về phòng mình ở nhà dì Sương, Nhẫn khóa chặt cửa gỗ lại. Anh bật chiếc đèn bàn màu vàng yếu ớt, lấy hai mảnh đồng ra đặt lên mặt bàn gỗ phẳng.
Mảnh đồng thứ nhất lấy từ dưới nền nhà ông Cẩn. Mảnh thứ hai lấy từ dưới nền bếp nhà dì Sương. Cả hai mảnh đều có màu rỉ xanh xỉn, mép cắt nham nhở và cong vênh như bị một lực tác động cực mạnh bẻ gãy.
Nhẫn dùng kính lúp soi kỹ các đường nét khắc trên hai mảnh đồng.
Anh thử xoay các mảnh đồng theo nhiều hướng khác nhau. Khi đặt hai mép cắt sát lại gần nhau, một tiếng "cạch" nhỏ vang lên. Các đường rãnh khắc mờ trên mặt đồng khớp nhau lạ thường.
Vết nứt chạy dọc trên hai mảnh đồng nối lại thành một đường cong khép kín, giống như một phần của một vòng tròn lớn hoặc hình vẽ một chữ bùa cổ. Nhẫn lấy cuốn sổ tay của ông nội để lại, lật đến trang vẽ sơ đồ làng Vũ Đại bằng mực tàu đã phai màu.
Trên sơ đồ, ông Cẩn vẽ một ký hiệu hình bát hương úp ngược nằm ngay tại vị trí giếng Cây Dâu. Tại vị trí nhà dì Sương, ông vẽ một ký hiệu hình vòng chỉ đỏ quấn nhiều vòng. Tại nhà ông Cẩn, có một dấu chấm đen lớn.
Nhẫn dùng bút chì nối ba điểm này lại với nhau. Đường nối tạo thành một hình tam giác nhọn, với đỉnh nhọn hướng thẳng về phía đình làng.
Đây không phải là những vụ trấn yểm riêng lẻ để giữ đất hay trừ tà cho từng nhà. Đây là một hệ thống trấn yểm được tính toán kỹ lưỡng, phân chia nhiệm vụ rõ ràng cho từng mắt xích. Nhà dì Sương là nơi xả khí, nhà ông Cẩn là nơi giữ cốt, còn giếng Cây Dâu là cửa ngõ dẫn xuống lòng đất sâu.
Nhẫn dùng đầu ngón tay miết nhẹ lên ký hiệu vòng chỉ đỏ trên trang giấy.
Nét vẽ của ông nội rất mảnh, nhưng ở rìa giấy có một dòng chữ viết bằng mực tàu đã nhòe đi vì ẩm:
*“Họ Vũ giữ miệng đất. Đèn nhà thờ còn đỏ thì nước dưới giếng chưa được vượt bờ. Khi chân hương tàn, người sau phải tự tìm chỗ bị nứt.”*
Nhẫn khép cuốn sổ lại. Anh tựa lưng vào thành ghế gỗ, hai mắt mỏi mệt nhắm chặt. Sự tê dại từ đầu lưỡi lan xuống cổ họng rồi bò dọc hai cánh tay, khiến các khớp xương của anh đau nhức ê ẩm dưới cái lạnh của đêm mưa.
***
Trong giấc mơ, Nhẫn thấy mình đang đứng giữa một khoảng sân đất rộng lớn, tối tăm và lạnh lẽo.
Mặt đất dưới chân anh mềm và xốp như bùn ao. Mỗi bước đi, chân anh lại lún sâu xuống lớp bùn đen ngòm, bốc lên mùi hôi thối của lá cây mục và xác động vật phân hủy.
Phía trước mặt anh, ông Cẩn đang quỳ gối trên nền đất đen. Lưng ông còng rạp xuống, hai tay chắp lại phía sau như đang bị trói bằng một sợi dây thừng vô hình. Đầu ông cúi gập, mái tóc bạc xơ xác rủ xuống bùn đất.
Ngay phía sau ông Cẩn, dì Sương thời trẻ, chừng mười tám đôi mươi, đang ngồi bệt trên đất. Dì mặc chiếc áo sơ mi hoa cũ kỹ, khuôn mặt đầy nước mắt. Dì khóc không thành tiếng, hai vai rung lên bần bật theo từng nhịp thở dồn dập.
Nhẫn muốn bước lại gần để đỡ dì dậy, nhưng hai chân anh như bị chôn chặt dưới bùn đất đen ngòm kia. Anh không thể nhấc nổi một bước chân.
Anh nhìn kỹ hơn vào mặt dì Sương trong mơ. Khóe miệng dì không phải chảy nước mắt, mà là một dòng nước màu đen ngòm, đặc quánh như bùn loãng, đang rỉ ra từ hai bên khóe môi, chảy xuống cằm và cổ áo sơ mi hoa. Dì nhìn Nhẫn bằng ánh mắt cầu cứu, nhưng miệng dì bị chặn lại bởi một vật gì đó tròn, màu đỏ tươi như một quả dâu chín mọng.
Ông Cẩn khẽ ngẩng đầu lên. Khuôn mặt ông xám ngắt, da thịt nhăn nheo như người chết trôi lâu ngày dưới nước. Ông nhìn Nhẫn, môi mấp máy nói một câu không có âm thanh phát ra.
Nhẫn cố gắng lắng nghe, cố gắng đọc khẩu hình miệng của ông nội qua làn sương mù xám xịt đang bao phủ giấc mơ.
Đất...
Chỉ một từ đó vang lên trong đầu Nhẫn, rồi hình ảnh trước mắt nhòe đi nhanh chóng như một bức tranh mực tàu gặp nước.
***
Nhẫn giật mình tỉnh giấc.
Mồ hôi lạnh vã ra ướt đầm đìa cả lưng áo thun. Anh thở dốc, nhìn đồng hồ để bàn. Đã là hai giờ sáng.
Bên ngoài ngõ, một tiếng chuông xe đạp vang lên phá tan sự tĩnh mịch của đêm tối.
Kính coong... kính coong...
Tiếng chuông thanh mảnh, ngân vang rồi tắt lịm ngay lập tức.
Nhẫn đứng bật dậy. Tiếng chuông này rất quen thuộc, giống hệt tiếng chuông trên chiếc xe đạp thống nhất cũ kỹ của dì Sương. Nhưng dì Sương đã đi ngủ từ sớm ở buồng bên cạnh, anh vẫn nghe thấy tiếng thở dài đều đặn của dì vọng qua bức tường ngăn mỏng manh bằng gạch vữa.
Nhẫn cầm chiếc đèn pin cầm tay, nhẹ nhàng mở chốt cửa nách, bước ra sân.
Mưa phùn đã tạnh từ lúc nào, chỉ còn hơi ẩm buốt giá bao vây không gian. Cổng tre nhà dì Sương khép hờ, đung đưa nhẹ theo gió heo may.
Nhẫn đi ra cổng, soi đèn pin ra ngoài ngõ. Con ngõ nhỏ vắng tanh, không một bóng người, mặt đường đất lầy lội những vệt nước mưa đọng lại thành những vũng nhỏ lấp loáng dưới ánh đèn pin.
Dưới chân cổng tre, đặt ngay ngắn trên một viên gạch vỡ, là một bát sành đựng phở.
Bát phở đã nguội ngắt, mỡ bò đóng váng trắng xóa trên bề mặt thành những mảng lốm đốm. Nhưng điều kỳ lạ là nước dùng bên dưới lớp váng mỡ không có màu vàng nâu của nước ninh xương, mà đen ngòm, đặc quánh như nước lấy từ đáy giếng Cây Dâu lên.
Nhẫn cúi xuống, bưng bát phở lên.
Sức nặng của bát sành truyền qua lòng bàn tay lạnh buốt của anh. Mùi của bát phở bay lên. Đó không phải mùi thơm của hành hoa, thịt bò hay thảo quả nướng.
Đó là mùi đất ẩm, mùi mục nát của lá cây dâu chìm dưới nước lâu ngày.
Nhẫn đưa bát phở vào trong nhà bếp, đặt lên bàn gỗ. Anh dùng một đôi đũa tre gạt lớp váng mỡ sang một bên.
Dưới đáy bát phở đen ngòm kia, lẫn giữa những sợi bánh phở đã trương phình và nát vụn, có một sợi chỉ đỏ dài, quấn chặt lấy một mảnh xương nhỏ màu trắng.
Nhẫn dùng đầu đũa gắp sợi chỉ đỏ lên. Sợi chỉ dai, không đứt, nước đen nhỏ giọt tong tong xuống mặt bàn.
Anh nhìn chằm chằm vào bát nước dùng đen ngòm kia. Một sự tò mò pha lẫn cảm giác u uất trỗi dậy trong lòng. Nhẫn múc một thìa nước dùng đen, đưa lên miệng.
Nước dùng chạm vào đầu lưỡi.
Vẫn không có vị gì cả. Lưỡi anh hoàn toàn tê liệt trước mọi mùi vị của thế gian này. Nhưng cảm giác lạnh buốt của dòng nước đen chạy xuống cổ họng là có thật. Nó lạnh đến mức làm anh run lên.
Anh đặt thìa xuống, nhìn sợi chỉ đỏ quấn quanh mảnh xương trắng trên mặt bàn.
Một tiếng thở dài mỏng như khói lại vang lên từ phía ngoài sân, lọt qua khe cửa bếp hở, tan vào bóng tối của đêm lạnh làng Vũ Đại.