Yểm Thắng Sư - Chương 8: Nước Quên

Mưa phùn bắt đầu nặng hạt khi Nhẫn bước ra khỏi cổng nhà dì Sương. Những hạt mưa nhỏ như tơ nhưng buốt nhói, bám vào da mặt anh rồi tan ra thành những…

Nội dung chương

Mưa phùn bắt đầu nặng hạt khi Nhẫn bước ra khỏi cổng nhà dì Sương. Những hạt mưa nhỏ như tơ nhưng buốt nhói, bám vào da mặt anh rồi tan ra thành những vệt nước lạnh ngắt. Con đường đất dẫn ra miếu cổ trơn trượt, bùn nhão bám chặt lấy đế giày bảo hộ của anh, tạo ra những tiếng lép nhép nặng nề sau mỗi bước chân.

Trong túi áo khoác của Nhẫn, hai mảnh đồng rỉ sét chạm vào nhau phát ra những tiếng lách cách khô khốc. Một mảnh khắc tên dòng họ Vũ, mảnh kia khắc tên Huệ. Sức nóng từ hai vật kim loại này vẫn âm ỉ tỏa ra, áp sát vào lồng ngực anh qua lớp áo thun mỏng. Nhẫn còn mang theo tấm ảnh gia phả cũ kỹ đã ố vàng mà anh tìm thấy trong hòm gỗ của ông nội. Tấm ảnh chụp những gương mặt nghiêm nghị, mắt nhìn thẳng vào ống kính với thần thái lạnh lùng của những người đã quen sống chung với bóng tối.

Miếu cổ nằm biệt lập ở rìa làng Vũ Đại, nép mình dưới bóng một cây đa cổ thụ nghìn năm tuổi. Những rễ đa to bằng bắp đùi người lớn bò lổn ngổn trên mặt đất, đâm xuyên qua những mảng tường gạch thất của miếu, tạo thành những vết nứt sâu hoắm. Mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh đen, ẩm ướt dưới làn mưa đêm.

Nhẫn đẩy cánh cửa gỗ mục nát của miếu. Tiếng bản lề rỉ sét rên rỉ một âm thanh kéo dài, chói tai. Bên trong miếu, không gian tối om, chỉ có một ngọn đèn dầu đặt trên bệ thờ đá tỏa ra ánh sáng vàng vọt, tù mù. Khói nhang trầm lẫn với mùi ẩm mốc của gỗ mục và mùi đất ẩm tạo nên một bầu không khí đặc quánh, khó thở.

Cố Huyền đang ngồi xếp bằng trên một chiếc chiếu cói rách nát trước bệ thờ. Bà mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sồng cũ kỹ, mái tóc bạc phơ búi cao sau gáy. Gương mặt bà đầy những nếp nhăn sâu hoắm như những rãnh cày trên đất cằn. Đôi mắt bà nhắm nghiền, hai tay đặt trên đầu gối, các ngón tay gầy guộc như những cành củi khô khẽ run nhẹ theo từng nhịp thở.

Nhẫn bước vào, không tiếng động. Anh đặt tấm ảnh gia phả và hai mảnh đồng lên mặt chiếu cói, ngay trước mặt Cố Huyền.

- Cố Huyền, tôi cần câu trả lời. Giọng Nhẫn lạnh lùng, dứt khoát. - Huệ là ai? Tại sao tên cô ấy lại nằm trên mảnh đồng yểm này? Và tại sao ông nội tôi lại giữ nó suốt ba mươi năm qua?

Cố Huyền từ từ mở mắt. Đôi mắt bà đục ngầu nhưng có một tia sáng sắc lạnh chiếu thẳng vào Nhẫn. Bà nhìn hai mảnh đồng nằm trên chiếu, rồi nhìn lên tấm ảnh gia phả họ Vũ. Một tiếng thở dài thoát ra từ khuôn miệng móm mém của bà, mang theo mùi của trầu không và thuốc nam hoai mục.

- Mày đã tìm thấy nó. Cố Huyền nói, giọng bà khàn đặc như tiếng hai viên sỏi cọ vào nhau. - Mày không nên tìm thấy nó. Đất này đã chôn giấu nó ba mươi năm, nghĩa là đất muốn quên đi. Mày bới lên làm gì để đất lại nổi giận?

- Ông nội tôi đã chết trong tư thế mộ quỳ để giữ cái mạch âm này. Nhẫn ngồi xuống đối diện bà, hai đầu gối anh chạm vào mép chiếu. Dì Sương thì đang héo mòn từng ngày vì cái bếp xây trên khí khẩu. Tôi không thể đứng nhìn. Bà biết rõ chuyện gì đã xảy ra với Huệ. Nói cho tôi biết.

Cố Huyền không trả lời ngay. Bà chống tay xuống nền đất, khó nhọc đứng dậy. Bà đi về phía góc tối của miếu, nơi đặt một bể xi măng nhỏ hứng nước mưa từ mái miếu chảy xuống. Nhẫn nghe thấy tiếng gáo dừa múc nước sột soạt, rồi tiếng nước chảy róc rách.

Khi quay lại, trên tay Cố Huyền là một chiếc bát sành thô mộc đựng đầy nước mưa trong vắt. Bà đặt bát nước xuống giữa hai người. Tiếp đó, bà lấy từ trên bệ thờ một tờ giấy bản màu vàng úa, châm lửa vào ngọn đèn dầu. Tờ giấy bùng cháy, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ rực trong vài giây rồi tàn dần. Cố Huyền khéo léo hứng toàn bộ phần tro giấy rơi lả tả vào bát nước.

Bà chưa dừng lại ở đó. Bà bẻ ba đầu chân nhang tàn đã nguội trên bát hương cổ, thả nốt vào bát nước. Cuối cùng, bà rút từ trong túi áo bà ba ra một chiếc túi vải nhỏ, lấy ra ba hạt gạo có màu đen kỳ lạ. Những hạt gạo này không phải bị mốc hay cháy, mà sắc đen của chúng bóng loáng như đá mun. Bà thả ba hạt gạo vào bát.

Bát nước mưa trong vắt lập tức chuyển sang màu xám đục. Tro giấy nổi lềnh bềnh trên bề mặt, còn ba hạt gạo đen chìm thẳng xuống đáy bát, nằm im lìm như những con bọ nhỏ.

- Đây là nước quên. Cố Huyền chỉ vào bát sành. Nhưng đây chỉ là thứ phỏng theo. Công thức đầy đủ của ngày xưa cần có cả đất lấy từ mộ người chết trẻ và nước lấy từ đáy giếng Cây Dâu vào đúng đêm ba mươi Tết.

Nhẫn nhìn bát nước đục ngầu, lông mày anh nhíu lại.

- Nước quên để làm gì?

Cố Huyền ngồi xuống chiếu, mắt bà nhìn đăm đăm vào những hạt gạo đen dưới đáy bát.

- Đất đai ở làng Vũ Đại này có linh tính. Ngày xưa, khi các cụ lập phép trấn để giữ đất, giữ của cho làng, họ phải tuân theo một luật lệ nghiêm ngặt của đất. Người bị đưa xuống đất, dù là đàn ông hay đàn bà, đều phải tự nguyện. Họ phải biết rõ mình đi đâu, đi để làm gì. Nếu họ đi trong sự oán hận tột cùng, hoặc hoàn toàn không biết mình bị đem đi hiến tế, lời nguyện sẽ không thành. Đất sẽ không nhận mạng đó.

Nhẫn cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Anh hỏi tiếp:

- Nếu đất không nhận thì sao?

- Đất đói tiếp. Giọng Cố Huyền lạnh tanh. - Đất không nhận mạng hiến tế thì trận yểm sẽ quay lại cắn ngược dòng họ lập ra nó. Dòng họ Vũ của mày sẽ tuyệt diệt trước tiên. Cho nên, để lừa đất, người ta đã nghĩ ra cách.

Cố Huyền đưa ngón tay trỏ khuấy nhẹ bát nước. Tro giấy bản xoay tròn tạo thành một vòng xoáy nhỏ màu đen ở giữa bát.

- Họ cho người bị chọn uống nước quên. Thứ nước này làm cho đầu óc người ta mụ mị, quên hết tên tuổi, quên hết người thân, chỉ còn biết nghe theo lời sai khiến của yểm sư. Khi họ đi xuống giếng hoặc chui vào hầm đất dưới đình, họ không biết mình sắp chết. Họ nghĩ mình đang đi trẩy hội, hoặc đi ngủ một giấc sâu. Đất nhận mạng vì nghĩ họ tự nguyện dâng hiến. Trận yểm thành công, làng Vũ Đại có được sự thịnh vượng ba mươi năm qua. Nhưng đó là sự lừa dối. Sự lừa dối nào cũng có hạn của nó.

Nhẫn siết chặt hai nắm tay. Da thịt trên gan bàn chân trái của anh bỗng nhói lên một cơn đau buốt, vết bớt đen như đang cựa quậy dưới lớp da.

- Vậy là có người đã cho Huệ uống thứ nước này? Nhẫn hỏi, giọng anh run lên vì giận dữ. - Ai đã làm việc đó? Ai cho cô ấy uống?

Cố Huyền ngước mắt nhìn Nhẫn. Trong đôi mắt đục ngầu của bà hiện lên một sự thương cảm pha lẫn sợ hãi.

- Con bé Huệ khi đó mới mười tám tuổi. Nó đẹp nhất làng, lại khéo tay dệt vải. Nó bị chọn vì ngày sinh tháng đẻ của nó khớp với mắt trận ở giếng Cây Dâu. Nó bị lừa uống nước quên, rồi bị dẫn ra giếng vào đêm mưa lạnh. Kẻ đưa chén nước ấy chính là...

Cố Huyền chưa kịp phát ra cái tên cuối cùng.

Một luồng gió lạnh buốt từ đâu ập đến, thổi tung cánh cửa gỗ mục của miếu cổ. Tiếng gió rít qua mái miếu, kéo thành từng quãng dài, khàn và gắt. Ngọn đèn dầu trên bệ thờ đá chao đảo mạnh rồi phụt tắt hoàn toàn.

Bóng tối dày đặc bao trùm lấy không gian miếu cổ. Chỉ còn ánh sáng mờ nhạt của bầu trời đêm mưa phùn hắt qua ô cửa sổ nhỏ phía trên bệ thờ.

Cố Huyền bỗng khựng lại. Toàn thân bà run lên bần bật. Bà ôm chặt lấy cổ họng mình, hai mắt trợn trừng nhìn vào khoảng không tối tăm phía sau lưng Nhẫn.

Một tiếng ho khan dữ dội vang lên từ lồng ngực gầy gò của bà. Cố Huyền gập người xuống chiếu, tiếng ho mỗi lúc một dồn dập, nghẹn ngào như bị bùn đen vít kín đường thở.

Nhẫn vội vàng lao tới, đỡ lấy hai vai bà.

- Cố Huyền! Bà làm sao thế?

Cố Huyền không thể trả lời. Từ khóe miệng móm mém của bà, một dòng chất lỏng màu đen ngòm trào ra. Đó không phải là máu, mà là bùn đen đặc quánh, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của lá dâu mục nát và nước tù đọng lâu ngày dưới đáy giếng. Bùn đen chảy thành dòng xuống cằm, thấm đẫm chiếc áo bà ba màu nâu của bà.

Nhẫn rút chiếc đèn pin cầm tay từ trong túi quần, bật lên. Ánh sáng trắng của đèn pin rọi thẳng vào khuôn mặt xám ngắt của Cố Huyền.

- Há miệng ra! Nhẫn quát lớn, tay anh run run cố cạy miệng bà.

Khi khuôn miệng của Cố Huyền mở rộng, Nhẫn kinh hoàng nhận ra dưới ánh đèn pin: trên chiếc lưỡi của bà, một sợi chỉ đỏ mảnh như sợi tơ đang khâu chặt phần thịt dưới lưỡi vào đáy miệng. Vết khâu thô bạo, những mũi khâu bằng chỉ đỏ đã ăn sâu vào da thịt, tạo thành những vết mủ rỉ ra thứ nước vàng lẫn máu đen. Mỗi lần bà cố phát âm, sợi chỉ đỏ lại căng ra, kéo giật lưỡi bà lại, khiến bà chỉ có thể phát ra những tiếng ớ ớ vô nghĩa.

Bên ngoài miếu cổ, tiếng mưa rơi trên lá chuối bỗng bị lấn át bởi một âm thanh khác.

Tiếng trẻ con cười.

Tiếng cười lanh lảnh, khúc khích vang lên ngay sát vách đất của miếu. Tiếng chân nhỏ bé chạy huỳnh huỵch trên nền đất ẩm ướt, vòng quanh ngôi miếu cổ.

Cúc cu... bắt được chưa... bắt được chưa...

Tiếng cười chạy từ vách bên trái sang vách bên phải, rồi vòng ra phía sau bệ thờ đá. Âm thanh nghe rất gần, như thể những đứa trẻ đang đứng ngay ngoài cửa sổ nhìn vào trong.

Nhẫn đứng bật dậy. Anh cầm đèn pin, lao nhanh ra phía cửa miếu, đẩy mạnh cánh cửa gỗ.

Ánh đèn pin quét một vòng rộng khắp sân miếu.

Mưa phùn vẫn rơi đều đặn. Những tàu lá chuối rách tả tơi rũ xuống dưới sức nặng của nước mưa. Sân miếu trống trơn, không một bóng người. Nền đất bùn nhão nhoét trước cửa miếu không hề có một dấu chân nhỏ nào của trẻ con, chỉ có những vũng nước mưa đục ngầu đang nổi bong bóng.

Tiếng cười bỗng tắt lịm, chỉ còn tiếng gió rít qua rặng tre già đầu làng.

Nhẫn quay trở lại vào trong miếu. Cố Huyền đã ngã quỵ xuống chiếu, hơi thở bà đứt quãng, yếu ớt. Dòng bùn đen từ miệng bà đã ngừng trào, nhưng bà vẫn run rẩy vì lạnh và đau đớn.

Bà cố gắng dùng ngón tay trỏ khẳng khiu của mình, cào mạnh xuống nền đất ẩm đầy bụi cát bên cạnh mép chiếu cói. Ngón tay bà run bần bật, vạch từng đường nét nguệch ngoạc lên đất.

Nhẫn soi đèn pin xuống.

Cố Huyền viết được hai chữ: "đình... khóa...".

Chữ thứ ba bà mới chỉ vạch được một nét ngang thì toàn thân bà co giật mạnh. Bà lập tức dùng bàn chân gạt phăng lớp cát bụi, xóa sạch những nét chữ vừa viết như thể sợ hãi một thế lực vô hình nào đó đang giám sát từ trên mái miếu.

- Ai khóa? Nhẫn quỳ xuống, ghé sát tai vào miệng bà. - Cái gì ở đình bị khóa?

Cố Huyền lắc đầu lia lịa. Đôi mắt bà đầy sự khẩn cầu. Bà không dám viết lại, cũng không thể nói. Bà chỉ đưa cánh tay gầy guộc lên, ngón tay trỏ run rẩy chỉ về hướng tây nam, hướng của giếng Cây Dâu nằm ở cuối làng.

Nhẫn nhìn theo hướng ngón tay của bà. Anh biết hướng đó. Từ miếu cổ đi thẳng qua rặng tre là đến giếng Cây Dâu, rồi từ giếng Cây Dâu có một con đường mòn dẫn thẳng ra đình làng Vũ Đại. Ba điểm đó tạo thành một đường thẳng tắp trên bản đồ địa hình của làng.

Cố Huyền mệt mỏi nhắm mắt lại, đầu bà gục xuống ngực. Hơi thở của bà đã ổn định hơn nhưng bà hoàn toàn kiệt sức, không còn phản ứng gì với những câu hỏi của Nhẫn nữa.

Nhẫn đứng dậy, thu lại hai mảnh đồng và tấm ảnh gia phả cất vào túi áo. Anh nhìn bát nước quên đặt trên chiếu. Vòng xoáy tro đen đã lắng xuống đáy bát, phủ lên ba hạt gạo đen bóng. Bát nước giờ đây trông giống như một tấm gương phản chiếu bóng tối của trần miếu cổ.

Anh bước ra khỏi miếu, khép hờ cánh cửa gỗ.

Mưa phùn đã ngớt, nhưng sương mù từ các ruộng lúa xung quanh đang bốc lên, dày đặc và trắng xóa, nuốt chửng những rặng tre và những ngôi nhà cấp bốn xa xa. Không gian tĩnh lặng đến mức Nhẫn có thể nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực.

Từ phía cuối làng, hướng giếng Cây Dâu, một âm thanh lạ vang lên xuyên qua màn sương mù dày đặc.

Cộc... Cộc... Cộc...

Ba tiếng gõ khô khốc, vang lên đều đặn. Âm thanh giống hệt tiếng gõ vào gạch nung dưới nền nhà hậu của nhà thờ họ Vũ mà Nhẫn đã nghe thấy vài ngày trước. Tiếng gõ trầm đục, như phát ra từ một bàn tay đang gõ vào thành giếng sâu thẳm dưới lòng đất.

Nhẫn đứng im giữa con đường đất lầy lội, mắt nhìn chăm chằm vào màn sương trắng đục hướng về phía giếng Cây Dâu. Gió đêm thổi qua, mang theo mùi nước giếng lạnh buốt và mùi nhang tàn ẩm ướt.

Chương khác

Xem thêm