Yểm Thắng Sư - Chương 13: Hầm Khóa Đồng
Mưa đêm rả rích trên những mái ngói mũi hài của đình Vũ Đại, trút xuống những máng xối bằng tôn rỉ sét tạo thành những dòng nước đục ngầu chảy tràn ra…
Nội dung chương
Mưa đêm rả rích trên những mái ngói mũi hài của đình Vũ Đại, trút xuống những máng xối bằng tôn rỉ sét tạo thành những dòng nước đục ngầu chảy tràn ra sân gạch Bát Tràng. Nhẫn xách chiếc đèn bão đi trước, ánh sáng vàng đục chao nghiêng theo từng bước chân, hắt những bóng dài ngoằn ngoèo lên bức tường bao xây bằng đá hộc. Gió từ phía cánh đồng thổi vào mang theo vị buốt lạnh của nước sông tháng Ba và mùi bùn từ các hố công trường san lấp ven làng.
Hà Linh đi sát phía sau Nhẫn, chiếc áo mưa tiện lợi màu xanh đục bay phần phật mỗi khi có luồng gió mạnh thổi qua. Cô ôm khư khư chiếc máy ảnh chuyên dụng trong bọc ni lông chống nước, mắt không ngừng quan sát những góc tối xung quanh ngôi đình cổ.
- Anh Nhẫn, anh có chắc chắn về sơ đồ của ông cụ không? Linh hỏi nhỏ, giọng cô bị tiếng mưa át đi phần nào - Đình làng Vũ Đại được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ năm 1998. Trong hồ sơ khảo sát lưu trữ ở sở mà tôi tra cứu được, hoàn toàn không có ghi chép nào về kết cấu ngầm dưới nền đình. Nếu có một tầng hầm ở đây, điều đó có nghĩa là người ta đã chủ động giấu nó đi trong suốt các đợt trùng tu năm 2012.
Nhẫn dừng chân trước bậc thềm đá dẫn vào tòa đại bái. Anh đặt chiếc đèn bão xuống một bậc thềm khô ráo, rút từ trong túi áo khoác chống nước ra chiếc điện thoại. Trên màn hình là bức ảnh chụp lại trang sổ tay của ông nội anh, ông Vũ Thiện Cẩn. Những nét mực tàu vẽ sơ đồ móng đình ngoằn ngoèo, chồng chéo lên nhau bằng những ký hiệu kỹ thuật cổ xen lẫn chữ Nho.
- Ông nội tôi là người trực tiếp giám sát đợt gia cố móng đình năm 1972, khi bom Mỹ thả trúng góc sân phía tây Nhẫn nói. Giọng anh trầm và đều như tiếng gõ thước gỗ - Trong bản vẽ kỹ thuật nộp cho ủy ban thời đó, ông chỉ ghi là xử lý lún nứt thông thường. Nhưng trong sổ tay cá nhân này, ông vẽ một khoảng rỗng lớn hình chữ nhật nằm ngay dưới bệ thờ thần cao cao kia. Ông gọi đó là Hầm Khóa Đồng.
Hà Linh nheo mắt nhìn vào màn hình điện thoại, cố phân tích những đường nét màu đen đã phai:
- Đình làng mà lại có hầm khóa. Thông thường người ta chỉ xây hầm dưới các công trình quân sự hoặc lăng mộ dòng họ lớn để giấu của cải. Tại sao lại đặt dưới đình, nơi thờ chung của cả làng?
- Để giữ cho cái khóa không bị mở ra Nhẫn trả lời ngắn gọn.
Anh cất điện thoại, cúi xuống xách đèn bão lên rồi bước qua ngưỡng cửa gỗ lim cao ngang đầu gối.
Bên ngoài sân đình, dưới bóng cây đa cổ thụ đang xào xạc trong gió mưa, Cố Huyền vẫn đứng im lặng. Bà mặc chiếc áo tơi lá cọ cổ xưa, đầu đội nón mê rách mép, hai bàn tay khẳng khiu đan chéo vào nhau giấu trong vạt áo. Bà không bước lên thềm đình, đôi mắt đục mờ chỉ đăm đăm nhìn vào khoảng tối tăm bên trong tòa đại bái.
Khi Nhẫn chuẩn bị bước hẳn qua ngưỡng cửa, Cố Huyền gọi giật giọng:
- Nhẫn! Cầm lấy cái này.
Nhẫn quay lại. Cố Huyền chìa bàn tay khô héo ra, trong lòng bàn tay bà là một cuộn chỉ đỏ thô ráp, loại chỉ sợi bông tự nhiên nhuộm bằng nước củ nâu và nước lá ngải cứu khô. Cuộn chỉ nhỏ bằng quả cau, có mùi hăng hắc của thuốc nam và mùi mốc của rương gỗ cổ.
- Xuống dưới đó, nếu thấy chỉ này chuyển sang màu đen hoặc tự đứt thì phải bỏ lại tất cả mà chạy lên ngay - Cố Huyền dặn, giọng bà khản đặc như có cát trong cổ họng - Xuống thì nhớ, đừng gọi tên ai nếu cháu chưa biết họ là ai. Kể cả đứa đi bên cạnh cháu, nếu nó có gọi cháu bằng cái giọng không phải của nó, cháu cũng không được thưa.
Hà Linh nhìn cuộn chỉ đỏ, khẽ nhíu mày nhưng không nói gì. Cô biết những người già ở làng Vũ Đại luôn có những quy tắc kiêng cữ mà người ngoài không thể hiểu nổi.
Nhẫn đỡ lấy cuộn chỉ đỏ từ tay Cố Huyền. Cảm giác sợi chỉ thô ráp, hơi ẩm và lạnh buốt truyền vào lòng bàn tay anh. Anh đút cuộn chỉ vào túi quần, gật đầu với bà cụ rồi quay người đi thẳng vào trong đình.
Không gian bên trong tòa đại bái tối đen như mực. Ánh sáng từ chiếc đèn bão của Nhẫn chỉ đủ soi rõ những hàng cột lim đen bóng, đường kính cả vòng tay người ôm không xuể. Trên các xà ngang, những bức hoành phi cổ sơn son thếp vàng đã bong tróc phần lớn lớp sơn, chỉ còn trơ lại thớ gỗ màu nâu xám bám đầy mạng nhện và bụi hóng oản.
Mùi nhang tàn ẩm ướt trộn lẫn với mùi phân dơi bốc lên nồng nặc. Dưới nền đình, những vũng nước mưa từ mái dột chảy xuống đọng lại trên các kẽ gạch Bát Tràng, phản chiếu ánh sáng đèn bão thành những vệt sáng loang loáng như mỡ.
Nhẫn đi thẳng đến khu vực chiếu hát ban chiều. Nơi này vẫn còn ngổn ngang mấy chiếc ghế nhựa màu xanh bị gãy chân và những mảnh vỏ hạt dưa vương vãi trên nền đất ẩm. Viên gạch Bát Tràng mà anh chạm vào ban chiều giờ đã nhô cao hơn mặt nền khoảng mười xăng-ti-mét, để lộ ra những thớ đất sét màu xám vàng ở cạnh bên.
Nhẫn đặt đèn bão xuống cạnh viên gạch. Anh mở ba lô, lấy ra chiếc bay thép chuyên dụng dùng để gạt đất khảo sát và một thước dây cuộn bằng thép.
- Linh, cô cầm đèn soi sát vào đây cho tôi Nhẫn nói, anh quỳ một chân xuống nền gạch ẩm ướt.
Hà Linh cúi người xuống, hướng luồng sáng mạnh từ chiếc đèn pin cầm tay vào chân viên gạch nhô lên.
Nhẫn dùng mũi bay thép miết nhẹ vào lớp vữa bao quanh viên gạch. Lớp vữa này không phải là xi măng hiện đại, mà là hỗn hợp vôi tôi trộn cát mịn, mật mía và giấy bản giã nhỏ. Trải qua hàng trăm năm dưới nền đình ẩm ướt, lớp vữa đã hóa đá, cứng đến mức khi mũi bay thép chạm vào liền phát ra những tiếng 'ken két' chói tai và những tia lửa nhỏ xíu bắn ra trong bóng tối.
- Kết cấu móng ở đây rất lạ - Nhẫn vừa gạt lớp bụi vôi vừa phân tích - Thông thường, gạch Bát Tràng lát nền đình chỉ được đặt trên một lớp cát đệm dày khoảng mười lăm phân để thoát nước. Nhưng viên gạch này lại được gắn trực tiếp lên một khối đá hộc lớn phía dưới bằng vữa mật. Người ta cố tình khóa viên gạch này lại chứ không phải lát nền thông thường.
Anh dùng búa địa chất gõ nhẹ lên mặt viên gạch. Tiếng 'bộp bộp' trầm đục vang lên, cho thấy phía dưới hoàn toàn là một khoảng rỗng lớn chứ không có lớp cát đệm chống lún.
Nhẫn dùng mũi xà beng nhỏ lách vào khe hở giữa viên gạch nhô lên và viên gạch bên cạnh. Anh lấy điểm tựa từ một khối gạch lành, dùng sức bật mạnh. Cơ bắp trên cánh tay anh cuộn lên dưới lớp áo khoác. Tiếng vữa cổ vỡ vụn nghe như tiếng xương khô gãy giòn.
Viên gạch Bát Tràng nặng trịch bị bật ngược lên, đổ nghiêng sang một bên, để lộ ra một khoảng tối đen ngòm phía dưới.
Ngay khi viên gạch vừa rời khỏi vị trí, một luồng khí lạnh buốt, mang theo mùi tanh nồng của bùn yếm khí và mùi đồng rỉ sét lâu năm xộc thẳng lên mặt hai người. Hà Linh phải lấy tay che mũi, ho khan vài tiếng.
Nhẫn không lùi lại. Anh đưa đèn bão sát vào miệng hố vừa mở ra.
Dưới lớp vữa mật bị vỡ, không phải là đất cát hay đá hộc, mà là một mặt đồng lớn màu xanh xám, xù xì do bị rỉ sét ăn mòn. Mặt đồng này có hình tròn, đường kính khoảng sáu mươi xăng-ti-mét, nằm phẳng lặng như một chiếc mâm đồng cổ bị chôn vùi.
Nhẫn dùng chổi lông nhỏ quét sạch lớp bụi vôi bám trên bề mặt tấm đồng. Những đường nét khắc chìm dần hiện ra dưới ánh sáng đèn bão. Đó là những đường vòng đồng tâm đồng dạng, nối với nhau bằng những nét vạch khúc khuỷu, nhìn qua giống như sơ đồ của một mạng lưới sông ngòi hoặc các mạch nước ngầm chạy quanh làng Vũ Đại.
Ở tâm của mặt đồng là một hình tròn nhỏ khắc nổi hình một con rùa đang ngoảnh đầu lại phía sau, trên lưng rùa có khắc ba chữ Hán cổ đã bị rỉ đồng lấp đầy.
- Đây là sơ đồ thủy đạo của làng Nhẫn thì thầm, ngón tay anh lần theo một đường khắc chạy từ rìa ngoài vào tâm mặt đồng - Nhìn đường vân này đi. Nó chạy từ giếng Cây Dâu, vòng qua đình làng, rồi đổ thẳng ra khu vực công trường san lấp bây giờ. Đây chính là mạch âm của đại trận Rùa Ngửa.
Hà Linh cúi sát xuống, cô dùng ngón tay chỉ vào bốn góc xung quanh mặt đồng:
- Nhẫn, nhìn bốn cái này xem.
Tại bốn góc của tấm đồng tròn, có bốn chiếc đinh sắt lớn, thân đinh to bằng ngón tay cái người lớn, được đóng ngập sâu xuống bệ đá phía dưới. Đầu đinh được rèn dẹt theo hình những chiếc đầu rắn đang há miệng. Qua hàng thế kỷ, sắt và đồng đã bị ô-xy hóa, bám chặt lấy nhau thành một khối không thể tách rời.
Tuy nhiên, ở góc phía đông nam của tấm đồng, chiếc đinh sắt hình đầu rắn đã bị nứt đôi. Một vết nứt chạy dọc từ thân đinh, kéo dài vào tận tâm của mặt đồng nơi khắc hình con rùa. Nước đen ngòm, đặc quánh như dầu luyn rỉ ra từ vết nứt đó, sủi lên những bong bóng nhỏ màu xám.
- Vết nứt này mới xuất hiện không lâu - Nhẫn nhận định, anh dùng ngón tay quệt một chút nước đen đưa lên mũi ngửi. Không có mùi dầu máy, chỉ có mùi tanh của bùn và mùi hôi của xác động vật phân hủy - Lớp rỉ đồng ở mép vết nứt vẫn còn màu xanh sáng, chưa bị xỉn màu. Có lực từ dưới đẩy lên làm gãy đinh sắt.
Anh mở ba lô, lấy ra mảnh đồng khắc tên Vũ Thị Huệ mà anh tìm thấy ở giếng Cây Dâu. Mảnh đồng nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay anh, lạnh ngắt.
Nhẫn ướm thử mảnh đồng vào vết nứt trên mặt đồng lớn dưới nền đình.
Ngay khi hai bề mặt đồng tiếp xúc với nhau, một âm thanh ngân vang nhỏ xíu, trầm và kéo dài bỗng phát ra từ lòng đất. Âm thanh đó nghe như tiếng một chiếc chuông đồng cổ bị gõ dưới nước sâu, không chói tai nhưng làm rung động cả khoảng không gian tối tăm của tòa đại bái.
Cơn đau ở gan bàn chân trái của Nhẫn lại bùng lên dữ dội. Vết bớt đen nhói buốt như có hàng chục chiếc kim châm thẳng vào xương thịt. Anh phải cắn chặt răng để không phát ra tiếng rên.
Cùng lúc đó, một tiếng 'cạch' khô khốc vang lên từ phía dưới bệ thờ thần.
Tiếng động đó rất rõ ràng trong không gian yên tĩnh của đêm mưa. Hà Linh giật mình, cô lập tức quay đèn pin về phía bệ thờ.
Mảng gạch Bát Tràng rộng khoảng tám mươi phân vuông nằm ngay sát chân bệ thờ từ từ sụt xuống phía dưới. Tiếng gạch đá cọ xát vào nhau kêu ken két ghê rợn. Một luồng gió lạnh từ dưới lòng đất thổi ngược lên, làm ngọn lửa trong chiếc đèn bão chao đảo mạnh, suýt tắt.
Khi bụi đất lắng xuống, trước mắt họ lộ ra một lối xuống hẹp, dốc đứng với những bậc thang xây bằng gạch vồ xám xịt chạy sâu vào bóng tối.
Hà Linh bước lại gần mép hố, cô soi đèn pin xuống phía dưới. Luồng ánh sáng mạnh chỉ đi được khoảng năm mét rồi bị nuốt chửng bởi một lớp sương mù màu xám đục.
- Tường hầm được xây bằng gạch vồ thời Lê Linh nói, giọng cô run lên vì phấn khích xen lẫn sợ hãi - Nhìn những vết cào trên tường kìa Nhẫn.
Nhẫn bước lại gần bên cạnh cô. Dưới ánh đèn pin, anh nhìn thấy rõ trên những viên gạch vồ xám xịt của lối xuống có vô số những vệt xước sâu, chạy dọc theo chiều đi xuống. Những vệt xước đó nằm sát nhau, sâu khoảng vài mi-li-mét vào thớ gạch cổ, nhìn giống như có ai đó đã dùng móng tay cào cấu điên cuồng vào tường trong lúc bị kéo xuống dưới.
Ở một vài đoạn tường, những vết bùn khô hình bàn tay người năm ngón vẫn còn bám lại, nhưng kích thước của những bàn tay đó rất nhỏ, chỉ bằng bàn tay của một đứa trẻ lên mười.
- Cố Huyền nói đúng Nhẫn nói, giọng anh trầm xuống Dưới này không chỉ có gạch đá.
Anh rút cuộn chỉ đỏ từ trong túi ra, buộc một đầu vào chiếc cột lim cái gần nhất của đình làng. Sợi chỉ đỏ chạy căng ngang qua ngưỡng cửa hầm ngầm, nổi bật trên nền gạch xám xịt.
- Cô Linh, cô đứng trên này giữ đầu dây Nhẫn nói, anh trao cuộn chỉ còn lại cho Hà Linh.
- Tôi đi xuống với anh Hà Linh kiên quyết lắc đầu - Một mình anh xuống dưới đó nếu xảy ra chuyện gì thì ai kéo dây? Với lại, tôi cần chụp ảnh những vết cào này để làm tư liệu. Đây là bằng chứng vật chất quan trọng nhất liên quan đến những vụ mất tích được ghi trong sổ ông Cẩn.
Nhẫn nhìn thẳng vào mắt Hà Linh. Trong mắt cô gái trẻ không có sự sợ hãi của một người yếu đuối, chỉ có sự bướng bỉnh của một phóng viên điều tra đang đi tìm sự thật. Anh im lặng một lát rồi gật đầu:
- Đi sát sau tôi. Nếu tôi bảo chạy thì phải chạy ngay lập tức, không được quay đầu lại nhìn.
Nhẫn xách đèn bão bước xuống bậc thang đầu tiên.
Ngay khi lòng bàn chân trái của anh chạm vào viên gạch vồ của bậc thềm ngầm, một cảm giác kỳ lạ xuất hiện nơi đầu lưỡi.
Vị giác của anh đột ngột biến mất.
Mùi bùn tanh nồng nặc, mùi nhang tàn ẩm mốc của tòa đại bái vừa rồi còn xộc vào mũi nay hoàn toàn biến mất. Anh không ngửi thấy gì nữa, đầu lưỡi tê buốt và mất cảm giác như vừa bị tiêm thuốc tê nha khoa. Nhẫn đưa tay lên quệt một chút nước mưa bám trên má đưa vào miệng, hoàn toàn vô vị, không có vị mặn của mồ hôi hay vị chát của nước mưa chảy qua mái ngói.
Nhẫn nhận ra, việc mất đi các giác quan không chỉ xảy ra khi anh chạm vào các vật trấn yểm như mảnh đồng hay cột mốc đá. Nó xảy ra khi anh đi sâu vào các điểm khóa của đại trận. Vết bớt đen ở gan bàn chân trái của anh đang hoạt động như một chiếc cột thu lôi, hút toàn bộ khí âm từ lòng đất vào cơ thể anh.
Anh không nói điều này với Hà Linh để tránh làm cô hoảng loạn. Anh chỉ im lặng bước xuống bậc thứ hai, rồi bậc thứ ba.
Mỗi bậc thang cao khoảng ba mươi xăng-ti-mét, dốc và trơn trượt do nước mưa từ trên nền đình chảy tràn xuống. Không gian dưới hầm thấp đến mức Nhẫn phải cúi khom người để đầu không chạm vào những thanh dầm bằng đá hộc đỡ phía trên.
Hà Linh đi sau, một tay cô bám vào vách gạch ẩm ướt, tay kia cầm đèn pin soi đường. Sợi chỉ đỏ từ tay cô kéo dài lên phía trên, chạy men theo bờ tường gạch xám như một vệt máu nhỏ sinh động giữa khoảng tối tăm chết chóc.
- Nhẫn Linh thì thầm, giọng cô nghe méo mó và nhỏ hẳn đi trong không gian hẹp - Anh có nghe thấy tiếng gì không?
Nhẫn dừng bước ở bậc thang thứ năm. Anh đứng im, nín thở để lắng nghe.
Tiếng mưa rơi trên mái đình phía trên đã trở nên xa xăm, chỉ còn là những tiếng động trầm đục, không rõ. Thay vào đó, từ phía sâu thẳm của đường hầm ngầm, có một âm thanh khác đang vang lên.
Cộc... Cộc... Cộc...
Đó là tiếng gõ đều đặn, chậm rãi của một vật cứng vào kim loại. Âm thanh nghe khô khốc, phát ra từ mặt đồng rỉ xanh mà họ vừa nhìn thấy trên nền đình, nhưng lần này tiếng gõ xuất hiện từ phía mặt dưới của tấm đồng.
Tiếng gõ đó vang lên ba nhịp, rồi dừng lại khoảng vài giây, sau đó lại tiếp tục vang lên ba nhịp khác.
Cùng lúc đó, từ phía nhà hậu điện của đình làng phía trên đầu họ, tiếng cào cấu sột soạt vào gỗ lại bắt đầu xuất hiện. Như thể có một sinh vật đang dùng móng tay cào vào những cánh cửa bức bàn để tìm đường vào trong.
Hai âm thanh một ở dưới lòng đất, một ở trên mặt đất vang lên đồng thời, tạo nên một nhịp điệu ghê rợn đáp trả lẫn nhau trong đêm mưa tĩnh mịch của làng Vũ Đại.