Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 1: Bát Diện Khí Hung - Chương 73: Giờ Tí Điểm Huyệt
Chiếc Maybach màu đen cùng hai chiếc xe hộ tống trượt qua cổng sắt lớn, tiếng động cơ êm ru tắt dần về phía đại lộ nối liền trung tâm quận Một. Hai cánh…
Nội dung chương
Chiếc Maybach màu đen cùng hai chiếc xe hộ tống trượt qua cổng sắt lớn, tiếng động cơ êm ru tắt dần về phía đại lộ nối liền trung tâm quận Một.
Hai cánh cổng đồng đúc từ thời thuộc địa khép lại sau một hồi rít nặng nề của hệ thống pít-tông thủy lực. Đèn cao áp ngoài sân dịu bớt cường độ, chuyển sang chế độ chiếu sáng ban đêm với sắc vàng nhờ nhờ, rọi bóng những gốc cây cổ thụ ngoằn ngoèo xuống nền gạch tàu rêu phong. Toàn bộ khuôn viên dinh thự họ Trần chìm vào trạng thái tĩnh mịch đến rợn gáy.
Tôi nép sát lưng vào vách tường gạch dày nửa mét của dãy nhà phụ từng là nơi ở của tài xế và người làm. Chiếc áo khoác gió màu đen sẫm che phủ toàn bộ phần thân trên, ép chặt lớp băng gạc tẩm nước dâu tằm trước ngực. Mỗi nhịp thở đều kéo theo một luồng buốt nhói chạy dọc theo xương ức, nơi những đường rạn do phản phệ từ vụ nhổ đinh ở công trường Hoàng Phát vẫn chưa khép miệng. Nhưng cảm giác nhói buốt đó chẳng thấm tháp gì so với sự biến đổi đang âm thầm diễn ra ở chân trái.
Tôi hạ thấp trọng tâm, thử co duỗi gối trái.
Khớp gối cứng ngắc. Lớp sụn bên trong như bị một thứ keo đặc trám kín, mỗi lần gập lại đều phát ra tiếng lạo xạo khô khốc của hai thớ gỗ nghiến vào nhau. Cảm giác da thịt mềm mại biến mất, thay vào đó là bề mặt thô ráp, chai cứng tựa lớp vỏ cây khô lâu năm. Tốc độ mộc hóa đang tăng nhanh sau khi tôi tiếp xúc với mảnh phoi bào mà Lão Thất để lại. Sa bàn dưới lòng đất đang kéo dần từng phân tế bào của tôi về phía nó.
Tôi ngước nhìn lên gờ tường hoa tiêu phía trên. Hệ thống camera giám sát tầm nhiệt của dinh thự quay quét theo chu kỳ bốn mươi lăm giây một vòng. Khi còn giữ chức giám đốc thẩm định tại tổng công ty, chính tay tôi đã ký duyệt bản vẽ hoàn công hệ thống an ninh đa tầng này. Điểm mù nằm ngay bên dưới góc chiếu của cụm cảm biến hồng ngoại gắn trên trụ đèn số bốn, nơi tán lá của cây bồ kết cổ thụ che khuất một khoảng bán kính hai mét.
Đồng hồ điện tử trên cổ tay nhấp nháy: mười một giờ mười lăm phút đêm. Giờ Tí đã điểm được một khắc.
Tôi nén một tiếng rên khẽ khi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên chân phải, kéo lê bàn chân trái hơi gượng gạo lướt nhanh qua khoảng sân trống. Đế giày cao su miết chặt lên mặt đá hoa cương ướt sương, tuyệt nhiên không phát ra một âm thanh nào. Khi bóng tối của cây bồ kết trùm kín lấy bả vai, tôi nép sát vào góc hẹp cạnh miệng thông gió của tầng hầm một.
Cửa hầm chính của dinh thự nằm ở mé đông, dẫn thẳng xuống gara ngầm nơi chứa dàn xe sang của Trần Thế Hùng. Nhưng để xuống tầng hầm thứ ba, nơi đặt Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng sâu mười hai mét dưới lòng đất, lối đi duy nhất là hành lang kỹ thuật chạy ngầm xuyên qua trạm biến áp phụ.
Tôi rút chiếc thẻ từ màu xám tro không số hiệu ra khỏi túi áo. Tấm thẻ này vốn là chìa khóa dự phòng khẩn cấp dành cho kiến trúc sư trưởng khi thi công gia cố móng hầm cách đây năm năm, tôi đã giấu kín nó trong đáy vali hành lý từ ngày du học trở về.
Bàn phím cảm ứng bên cạnh khung cửa sắt thoát hiểm lóe lên ánh đèn xanh lục khi thẻ quẹt qua. Tiếng chốt điện tử kêu một tiếng cạch rất nhẹ. Tôi lách người qua khe cửa vừa hé mở, khép chặt chốt khóa lại sau lưng.
Không khí bên trong lập tức thay đổi. Hơi gió mát lạnh của màn đêm Chợ Lớn bị chặn đứng bên ngoài, nhường chỗ cho luồng nhiệt ngột ngạt mang mùi vôi vữa ẩm mốc và dầu máy bôi trơn từ hệ thống thông khí trung tâm.
Tầng hầm thứ nhất là nơi chứa hầm rượu và kho lưu trữ hồ sơ bất động sản từ thời Trần thị Mộc Nghiệp còn là một xưởng cưa nhỏ ven kênh Tàu Hủ. Tôi lướt qua những dãy kệ sắt cao sát trần, bước chân cố định nhịp để giảm thiểu tiếng vang dội từ đế giày trên sàn bê tông mài nhẵn.
Tiếp tục đi xuống cầu thang bộ dốc đứng dẫn sang tầng hầm thứ hai. Nơi này là khu vực đặt máy phát điện dự phòng công suất lớn và hệ thống lọc nước ngầm. Những bức tường bê tông cốt thép dày một mét ở tầng này được thiết kế để chịu được chấn động cấp bảy, ngăn cách hoàn toàn thế giới ngầm của gia tộc họ Trần với mạng lưới đường cống đô thị xung quanh.
Càng xuống sâu, cái lạnh nhân tạo từ máy điều hòa càng nhạt dần, thay vào đó là một thứ hàn khí ẩm ướt, nhớp nháp bốc lên từ lòng đất. Nó bám vào da thịt, chui qua từng sợi vải của chiếc áo khoác, khiến vết nứt rỉ máu đen trước ngực tôi giật thót từng cơn liên hồi.
Tôi dừng lại trước cánh cửa thép kiên cố dẫn xuống tầng hầm thứ ba.
Đây là ranh giới cấm kỵ của dinh thự. Cánh cửa này dày ba mươi phân, đúc bằng hợp kim chống xuyên phá, trang bị cả khóa nhận diện vân tay, quét võng mạc và mật mã mười hai ký tự thay đổi theo ngày. Lần trước đột nhập vào đây, tôi đã phải lợi dụng sơ hở trong phiên đổi gác hiếm hoi của đội bảo vệ thân tín dưới trướng Trần Vĩnh Khang.
Nhưng lúc này, trước mắt tôi, bảng đèn led của hệ thống khóa điện tử lại tắt ngúm.
Đèn tín hiệu màu đỏ vốn luôn nhấp nháy báo động đã chuyển sang màu hổ phách mờ câm. Nguy hiểm hơn, mép cánh cửa thép nặng hàng tấn đang hé mở một khe hẹp cỡ hai đốt ngón tay, để lộ ra khoảng tối hun hút bên trong. Cửa hoàn toàn không khóa. Chốt hãm thủy lực đã bị ai đó vô hiệu hóa từ phía trong.
Tim tôi đập dồn dập vào lồng ngực. Trần Thế Hùng quá cẩn trọng, một kẻ dùng cả tính mạng người thân để duy trì đại nghiệp gia tộc tuyệt đối không bao giờ quên đóng cánh cửa bảo vệ sa bàn trước khi rời đi. Trừ khi đây là một cái bẫy giăng sẵn, hoặc có kẻ nào đó đã can thiệp vào hệ thống.
Bàn tay phải tôi vô thức luồn vào túi áo, siết chặt chiếc đinh bạc dài bốn tấc và cây thước Lỗ Ban khắc chữ son mà Thanh Nhã đã giao cho tôi trước khi xuất phát. Bàn tay trái cứng đờ như một khúc gỗ lim giơ ra trước, đẩy nhẹ vào mép cửa thép.
Cánh cửa nặng nề trượt trên bản lề không hề phát ra một tiếng cót két. Tôi lách mình qua khe hở, bước chân đặt xuống bậc thang đầu tiên của tầng hầm thứ ba.
Một luồng mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi. Đó là thứ mùi hòa trộn giữa gỗ sưa đỏ ngâm bùn mục hàng thế kỷ, đất lăng mộ ẩm ướt và mùi máu tanh đã khô két lâu ngày. Nó đặc quánh đến mức khiến cuống họng tôi nghẹn đắng, từng thớ thịt trên cánh tay trái giật nảy lên như thể những đường gân gỗ bên dưới lớp da đang vươn ra để đón nhận nguồn dưỡng chất quen thuộc.
Bóng tối bao trùm lấy toàn bộ cầu thang xoắn ốc dẫn sâu xuống độ sâu mười hai mét. Tôi không dám bật đèn pin điện thoại, chỉ có thể dựa vào xúc giác của chân phải và bàn tay lần theo vách đá thô ráp để bước xuống từng bậc một.
Khi gót chân chạm tới mặt sàn phẳng dưới đáy hầm, tôi khựng lại.
Trong góc tối bên phải cửa thông đạo, ngay trên bệ đá hoa cương xám kê sát vách hầm, một bóng người đang ngồi bất động.
Tôi nín thở, cơ thể căng cứng. Bàn tay phải giấu trong túi áo đã nắm chắc chuôi đinh bạc, sẵn sàng cho một cú đâm cận chiến.
Bóng người đó ngồi xếp bằng, lưng còng rạp xuống như một gốc cây khô cằn cỗi cắm chặt vào nền đá. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ gian phòng trung tâm, tôi nhận ra mái tóc bạc trắng xơ xác búi củ hành lệch sang một bên và bộ quần áo bà ba bằng vải thô màu chàm đã bạc phếch.
Lão Thất.
Người gác hầm tật nguyền ngồi im lìm như một pho tượng đá chạm dở. Hai mắt ông nhắm nghiền, gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rễ cây cổ thụ bò trên nền đất cằn. Đôi bàn tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương buông thõng trên đầu gối, ngón trỏ tay phải vẫn kẹp một mẩu dăm gỗ sưa đỏ còn tươi nguyên vết gọt.
Tôi đứng chôn chân cách ông chưa đầy ba bước. Khoảng cách gần đến mức tôi có thể nghe thấy từng nhịp thở yếu ớt, đứt quãng khẽ khàng lọt qua kẽ răng móm mém của lão già câm điếc.
Lão Thất không hề ngẩng đầu lên. Ông ta dường như biết rõ ai đang đứng trước mặt mình, nhưng chiếc cổ khẳng khiu chỉ khẽ vặn một góc rất nhỏ, quay hẳn mặt về phía bức tường đá lạnh ngắt, giả vờ như hoàn toàn không nhìn thấy, không nghe thấy bất cứ chuyển động nào.
Ngón tay trỏ kẹp mẩu dăm gỗ của ông gõ nhẹ ba tiếng lên mặt đá: Cộc. Cộc. Cộc.
Mỗi tiếng gõ trầm đục dội vào không gian tĩnh lặng, tương ứng với ba nhịp cảnh báo. Sau đó, ngón tay ông dừng lại, chỉ thẳng về hướng lối đi dẫn vào căn phòng trung tâm nơi đặt khối sa bàn.
Lão Thất đã cố tình mở cửa hầm cho tôi.
Cảm giác ớn lạnh xen lẫn một tia cảm kích kỳ lạ lướt qua sống lưng tôi. Tôi không nói lời nào, cũng không cúi chào, chỉ gật đầu vào khoảng không gian tối tăm bên cạnh ông rồi cẩn trọng bước tiếp. Khớp gối chân trái kéo lê một vệt nặng trĩu trên nền gạch, lướt qua cái bóng còng queo của người gác hầm già nua.
Vừa bước qua ngách rẽ bằng đá xanh, không gian trước mắt tôi đột ngột mở rộng ra thành một gian phòng vòm khổng lồ rộng hơn hai trăm mét vuông.
Cảnh tượng bên trong đập vào mắt khiến tôi phải đứng sững lại, hô hấp nghẹn ứ nơi cổ họng.
Nằm sừng sững ở trung tâm gian phòng vòm chính là Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng khổng lồ chạm khắc từ khối gỗ sưa đỏ nghìn năm tuổi. Tác phẩm điêu khắc mô phỏng tỉ lệ một trên một nghìn toàn bộ địa giới Sài Gòn - Chợ Lớn với hàng vạn ngôi nhà, cao ốc, mạng lưới cầu cống và những nhánh sông uốn lượn lúc này không hề chìm trong bóng tối.
Một luồng ánh sáng màu tím ma quái, đục ngầu và nhờ nhợt như lân tinh bốc lên từ các khe rãnh của lòng sa bàn.
Nó không phải là thứ ánh sáng quang học bình thường từ bóng đèn rọi. Luồng tử khí màu tím ấy tựa như một lớp sương mù đặc quánh đang sôi sục, cuồn cuộn bò dọc theo các đường chạm trổ mô phỏng hệ thống kênh rạch ngầm nối từ sông Sài Gòn luồn sâu vào tim Chợ Lớn. Ánh sáng tím hắt lên trần vòm bê tông cao vút những vệt bóng méo mó, ma quái, nhảy múa theo từng nhịp đập vô hình.
Cùng lúc đó, lồng ngực tôi thắt lại dữ dội.
Vết nứt ngang ngực bỗng chốc nóng rực lên như bị bàn ủi nung đỏ áp vào. Mùi tử khí từ lăng mộ cổ hàng trăm năm trước đang bị phong kín dưới đáy sa bàn tỏa ra ngùn ngụt, lấp đầy không gian ngầm mười hai mét, biến nơi này thành một chiếc quan tài khổng lồ đầy ngột ngạt.
Khí tức tanh nồng của nhựa cây sưa đỏ rỉ ra, hòa cùng hơi thở của tôi, báo hiệu giờ Tí điểm huyệt đang chính thức bắt đầu.